1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Tội hiếp dâm theo quy định của luật hình sự Việt Nam

133 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tội Hiếp Dâm Theo Luật Hình Sự Việt Nam
Tác giả Huỳnh Nguyên Thảo
Người hướng dẫn TS. Vũ Thị Thúy
Trường học Trường Đại Học Luật Tp Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình Sự Và Tố Tụng Hình Sự
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,69 MB

Cấu trúc

  • 1.1. Những vấn đề lý luận của tội hiếp dâm (13)
    • 1.1.1. Quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người… (13)
    • 1.1.2. Khái niệm xâm phạm tình dục và các tội xâm phạm tình dục (15)
    • 1.1.3. Khái niệm hiếp dâm và tội hiếp dâm (18)
  • 1.2. Quy định của luật hình sự Việt Nam về tội hiếp dâm qua các thời kỳ lịch sử (20)
    • 1.2.1. Quy định của luật hình sự Việt Nam thời kỳ phong kiến về tội hiếp dâm… (20)
    • 1.2.2. Quy định của luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1985 về tội hiếp dâm (22)
    • 1.2.3. Quy định của BLHS năm 1985 về tội hiếp dâm (0)
    • 1.2.4. Quy định của BLHS năm 1999 về tội hiếp dâm (0)
    • 1.2.5. Quy định của BLHS năm 2015 về tội hiếp dâm (0)
  • 1.3. Dấu hiệu định tội và định khung hình phạt của tội hiếp dâm theo BLHS năm (29)
    • 1.3.1. Dấu hiệu định tội của tội hiếp dâm (29)
    • 1.3.2. Các tình tiết định khung hình phạt của tội hiếp dâm… (39)
  • 1.4. Phân biệt tội hiếp dâm với một số tội xâm hại tình dục khác (0)
    • 1.4.1. Phân biệt tội hiếp dâm (Điều 141 BLHS năm 2015) với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142 BLHS năm 2015) (43)
    • 1.4.2. Phân biệt tội hiếp dâm (Điều 141 BLHS năm 2015) với tội cưỡng dâm (Điều (0)
    • 1.4.3. Phân biệt tội hiếp dâm (Điều 141BLHS năm 2015) với tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều (0)
  • 1.5. Quy định về tội hiếp dâm theo luật hình sự một số quốc gia (48)
    • 1.5.1. Tội hiếp dâm theo luật hình sự Liên bang Nga (48)
    • 1.5.2. Tội hiếp dâm theo luật hình sự Cộng hòa Pháp (49)
    • 1.5.3. Tội hiếp dâm theo luật hình sự Cộng hòa Philippine (52)
    • 2.1.2. Những vướng mắc trong quá trình định tội danh (60)
    • 2.1.3. Những vướng mắc trong quá trình quyết định hình phạt (64)
  • 2.2. Kiến nghị hoàn thiện quy định về tội hiếp dâm (0)
    • 2.2.1. Kiến nghị sửa đổi một số quy định của Điều 141 BLHS năm 2015 (75)
    • 2.2.2. Kiến nghị sửa đổi văn bản hướng dẫn áp dụng các tội xâm phạm tình dục (78)
  • KẾT LUẬN (55)

Nội dung

Những vấn đề lý luận của tội hiếp dâm

Quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người…

Một xã hội bền vững phải dựa vào con người, yếu tố quyết định cho sự phát triển văn hóa, kinh tế và xã hội Con người không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực cho sự tiến bộ, cần có môi trường sống an toàn Sức khỏe, được xem là tài sản quý giá nhất, không chỉ đơn thuần là tình trạng không có bệnh tật mà theo WHO, còn bao gồm cả yếu tố tinh thần, thể hiện sự thoải mái toàn diện Trong thời đại hiện nay, cùng với sự tiến bộ của khoa học, nhu cầu cuộc sống của con người ngày càng cao, đòi hỏi không chỉ đầy đủ vật chất mà còn cả hạnh phúc, với cơ thể khỏe mạnh và tinh thần thoải mái.

Con người không thể tách rời nhau trong đời sống cộng đồng, từ thời tiền sử đã cùng nhau lao động, săn bắt và hái lượm Theo quy luật biện chứng duy vật, con người vừa là thực thể tự nhiên vừa là thực thể xã hội, luôn có sự liên hệ và tác động lẫn nhau Sự biến đổi của xã hội mở rộng các mối quan hệ, khiến con người chú trọng hơn đến vai trò và vị trí của bản thân Khi đó, danh dự và nhân phẩm trở thành yếu tố cần được quan tâm và bảo vệ Dưới góc độ xã hội học, mỗi người đều sở hữu những phẩm chất nhất định.

3 Theo định nghĩa về sức khỏe của WHO vào năm 1946 và năm 2006.

Nhân phẩm là giá trị tồn tại của mỗi con người, bao gồm toàn bộ những phẩm chất mà họ sở hữu Danh dự phản ánh sự coi trọng và đánh giá cao của xã hội đối với cá nhân dựa trên các giá trị tinh thần và đạo đức Tôn trọng danh dự và nhân phẩm đồng nghĩa với việc tôn trọng giá trị con người và các quy tắc, chuẩn mực đạo đức Về mặt pháp lý, danh dự và nhân phẩm gắn liền với quyền nhân thân, thể hiện sự công nhận của cá nhân, tổ chức và nhà nước đối với giá trị con người cũng như vai trò của họ trong các mối quan hệ pháp luật.

Mọi công dân, không phân biệt dân tộc, giới tính, tôn giáo hay điều kiện kinh tế, đều có quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm Quyền này là nguyên tắc cơ bản trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là trong ngành luật hình sự Bảo hộ ở đây không chỉ là sự cai trị hay áp đặt của giai cấp nắm quyền, mà còn là việc bảo vệ và giữ gìn quyền lợi hợp pháp của cá nhân trong quan hệ pháp luật Việc công nhận quyền này giúp ngăn chặn xâm phạm giữa cá nhân và hạn chế lạm quyền từ những người đại diện cho quyền lực.

Quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm là một phần quan trọng của pháp luật quốc tế, được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về Quyền Con người năm 1948 Cụ thể, Điều 3, Điều 5 và Điều 12 của UDHR khẳng định rằng “Ai cũng có quyền được sống, tự do, và an toàn thân thể”, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền con người trong mọi xã hội.

Tuyên ngôn về quyền con người khẳng định rằng không ai có thể bị tra tấn hay chịu đựng những hình phạt tàn ác, và mọi người đều có quyền được bảo vệ khỏi sự xâm phạm vào đời tư, gia đình và danh dự của mình Tuy nhiên, từ góc độ pháp lý, tuyên ngôn này không có giá trị ràng buộc Để bảo vệ các quyền cơ bản của con người, Liên hiệp quốc đã ban hành hai công ước quan trọng, trong đó có “Công ước về các quyền dân sự và chính trị” năm 1966, mà Việt Nam đã gia nhập vào ngày 24 tháng 9 năm 1982.

Công ước về các quyền kinh tế - xã hội và văn hóa năm 1966, mà Việt Nam gia nhập vào ngày 24 tháng 9 năm 1982, cùng với Điều 7 và Điều 17 của Công ước quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (ICCPR), khẳng định rằng không ai có thể bị tra tấn hoặc đối xử tàn ác, vô nhân đạo Bên cạnh đó, mọi cá nhân đều có quyền được bảo vệ pháp luật trước những can thiệp bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, và danh dự của mình Những điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của quyền con người và sự bảo vệ cần thiết để đảm bảo nhân phẩm và sự an toàn cho mỗi cá nhân.

Điều 12 của Công ước quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 (ICESCR) khẳng định rằng các quốc gia thành viên phải công nhận quyền của mọi cá nhân được tiếp cận tiêu chuẩn sức khỏe thể chất và tinh thần tốt nhất có thể.

Việt Nam, với tư cách là thành viên của ICCPR và ICESCR, đã "nội luật hóa" quyền bảo vệ sức khỏe, danh dự và nhân phẩm trong hệ thống pháp luật quốc gia Quyền này được ghi nhận từ Hiến pháp năm 1980 và được làm rõ hơn trong khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013, nhấn mạnh rằng mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể và được pháp luật bảo vệ khỏi tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình, cũng như bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm sức khỏe, danh dự và nhân phẩm.

Luật hình sự có những quy định và chế tài nghiêm khắc nhằm điều chỉnh các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội Chương XIV của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người (từ Điều 123 đến Điều 156), tạo cơ sở để xử lý các hành vi phạm tội và bảo đảm an ninh, trật tự xã hội cũng như quyền con người Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng Hình sự cũng thiết lập nguyên tắc cơ bản nhằm đảm bảo việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, được quy định tại Điều 12 của Chương II.

Theo quy định năm 2015, mọi cá nhân đều có quyền được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản Bất kỳ hành vi xâm phạm trái pháp luật đối với những quyền lợi này của cá nhân hoặc pháp nhân đều sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Khái niệm xâm phạm tình dục và các tội xâm phạm tình dục

Quyền về tình dục, được công nhận bởi WHO, Liên hiệp quốc và pháp luật các quốc gia, thuộc nhóm quyền sức khỏe, danh dự và nhân phẩm Mặc dù có nhiều định nghĩa về quyền tình dục, hiện chưa có định nghĩa chính thức được quốc tế thừa nhận Theo Liên đoàn quốc tế các bậc cha mẹ có kế hoạch (IPPF), quyền về tình dục là tập hợp các quyền liên quan đến tình dục, góp phần vào tự do, bình đẳng và nhân phẩm của mọi người.

Quyền về tình dục là khả năng tự do và có trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc thể hiện, thực hành và tận hưởng đời sống tình dục mà không bị cản trở hay phân biệt đối xử, miễn là không ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác Tuyên ngôn toàn cầu về quyền tình dục, được thông qua tại Hội nghị thế giới lần thứ 14 về tình dục năm 1999, xác định các quyền cơ bản như quyền tự do tình dục, quyền tự chủ và toàn vẹn trong hoạt động tình dục, quyền riêng tư, quyền công bằng, quyền hưởng khoái lạc, quyền bày tỏ xúc cảm, quyền tự do kết hợp, quyền quyết định có trách nhiệm về sinh đẻ, quyền tiếp nhận thông tin khoa học, quyền giáo dục tình dục toàn diện và quyền chăm sóc sức khỏe toàn diện.

Pháp luật Việt Nam chưa có định nghĩa chung về xâm phạm tình dục, chỉ quy định về xâm hại tình dục trẻ em và người dưới 16 tuổi Theo Luật Trẻ em năm 2016, xâm hại tình dục trẻ em được hiểu là việc sử dụng vũ lực, đe dọa, ép buộc, hoặc dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô, và sử dụng trẻ em cho mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức.

Xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi bao gồm các hành vi như hiếp dâm, cưỡng dâm, và dụ dỗ trẻ em tham gia vào hoạt động tình dục, sử dụng trẻ em cho mục đích mại dâm hoặc khiêu dâm dưới mọi hình thức Hành vi này có thể xảy ra thông qua vũ lực, đe dọa, hoặc hứa hẹn các lợi ích vật chất và phi vật chất, đặc biệt là khi có sự đồng thuận từ người dưới 13 tuổi.

Theo Điều 2 Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP, hai khái niệm này điều chỉnh cùng một đối tượng tác động, cụ thể là trẻ em, được định nghĩa theo Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 là người dưới 16 tuổi Tuy nhiên, phạm vi điều chỉnh của hai khái niệm này khá hẹp, chỉ tập trung vào hành vi xâm hại tình dục đối với trẻ em hoặc những người dưới 16 tuổi.

Bài viết của 4P.GS.TS Vũ Công Giao và ThS Nguyễn Minh Tâm, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu và lập pháp điện tử vào ngày 01/02/2017, đề cập đến vấn đề quyền về tình dục trên thế giới và tại Việt Nam Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các khía cạnh pháp lý và xã hội liên quan đến quyền tình dục, nhấn mạnh sự cần thiết phải bảo vệ và thúc đẩy quyền lợi này trong bối cảnh hiện nay Truy cập bài viết tại http://www.lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid8004 vào ngày 28/03/2021 để tìm hiểu thêm.

Theo tác phẩm của Nguyễn Thị Ngọc Linh về các tội xâm phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam, khái niệm “xâm hại tình dục” không thể phản ánh đầy đủ tính chất của các mối quan hệ xã hội và những đối tượng đang được bảo vệ.

Theo Từ điển Tiếng Việt, "xâm phạm" có nghĩa là động chạm đến quyền lợi của người khác, trong khi "xâm hại" liên quan đến việc xâm phạm một quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, gây thiệt hại cho nạn nhân Khi xem xét hành vi xâm hại quyền về tình dục, trách nhiệm pháp lý chỉ được xác định khi có thiệt hại thực tế, mặc dù quyền về tình dục liên quan đến sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người, là những giá trị vô giá không thể đo đếm Do đó, thuật ngữ "xâm phạm tình dục" được xem là chính xác hơn Tình dục, theo Từ điển Tiếng Việt, là nhu cầu tự nhiên của con người về quan hệ tính giao, nhưng cũng phản ánh trạng thái tâm lý và cảm xúc của con người Các chuyên gia cho rằng hoạt động tình dục chủ yếu thể hiện tình yêu và sự thu hút giữa hai người, bao gồm nhiều hành vi như ôm hôn, vuốt ve và quan hệ tình dục Ngoài ra, các hành vi như kích thích tình dục qua lời nói, âm thanh hoặc hình ảnh cũng được xem là hành vi tình dục Bạo lực tình dục, lạm dụng tình dục, bóc lột tình dục và quấy rối tình dục đều là những biểu hiện của xâm phạm tình dục.

6 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng (2002), trang 1054

7 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng (2002), trang 957.

8 Bác sĩ George D Zgourides, và ThS.Christie S Zgourides, Thực Tế Về Hoạt Động Tình Dục Ở Con Người (2013),

Xâm phạm tình dục được định nghĩa là hành vi tình dục diễn ra trong tình trạng không tự nguyện, hoặc các hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục mà ảnh hưởng đến sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của nạn nhân Điều này phản ánh một góc độ pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi và sự an toàn của cá nhân (Nguyễn Hồng Trang, Chương 9: Hành vi tình dục, http://duocanbinh.vn/db155-cuon-sach-thuc-te-ve-hoat-dong-tinh-duc-o-con-nguoi, truy cập ngày 28/3/2021).

Hành vi tình dục thể hiện bản năng con người, nhưng khác với động vật, con người có khả năng nhận thức và kiểm soát hành vi của mình Nếu nhu cầu bản năng được thỏa mãn một cách tự do và không kiểm soát, xã hội sẽ rơi vào hỗn loạn Nhà nước, với vai trò tổ chức xã hội ổn định, không thể chấp nhận hành vi bạo lực hay lạm dụng để thỏa mãn nhu cầu tình dục, vì điều này sẽ phá vỡ chuẩn mực đạo đức và xâm phạm nhân phẩm con người Để ngăn chặn và trừng phạt hành vi xâm phạm tình dục, cần có chế tài nghiêm khắc từ luật hình sự Theo khoa học pháp lý hình sự, hành vi xâm phạm tình dục phải thỏa mãn các đặc điểm nhất định để được coi là tội phạm.

Xâm phạm tình dục là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội.

Hành vi tình dục không tự nguyện hoặc các hành vi xâm phạm quyền tự do và quyền bất khả xâm phạm về tình dục, sức khỏe, danh dự, và nhân phẩm của con người đều được quy định trong luật hình sự.

Do người có năng lực TNHS và đủ độ tuổi chịu TNHS thực hiện. Được thực hiện do lỗi cố ý 9

Các tội xâm phạm tình dục được định nghĩa là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm thực hiện một cách cố ý Những hành vi này xảy ra trong tình trạng không tự nguyện hoặc nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục, xâm hại đến sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của nạn nhân, theo quy định của luật hình sự.

Khái niệm hiếp dâm và tội hiếp dâm

9 Xem thêm khái niệm “Tội phạm” được quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015.

Hiếp dâm là hành vi xâm phạm tình dục nghiêm trọng, được định nghĩa là việc sử dụng vũ lực, đe dọa hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân để thực hiện quan hệ tình dục trái với ý muốn của họ Định nghĩa này phù hợp với quy định tại Điều 141 BLHS năm 2015, phản ánh sự thay đổi trong nhận thức pháp lý về tội phạm hiếp dâm theo sự phát triển của xã hội Theo Điều 111 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), hiếp dâm được mô tả là hành vi giao cấu không đồng ý, trong đó giao cấu được hiểu là hành động mà dương vật nam giới tiếp xúc với âm đạo nữ giới.

Ngày nay, hành vi quan hệ tình dục đã trở nên đa dạng hơn, không còn giới hạn trong quan hệ tình dục truyền thống giữa nam và nữ Điều này bao gồm cả quan hệ tình dục giữa người cùng giới và các hình thức quan hệ khác không phải giao cấu Do đó, khái niệm về hiếp dâm cũng đã thay đổi, với các dấu hiệu cơ bản của hành vi hiếp dâm cần được xác định rõ ràng.

- Hành vi: Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân, dùng thủ đoạn khác.

Mục đích chính của hành vi hiếp dâm là thực hiện quan hệ tình dục trái với ý muốn của nạn nhân, dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho cả nạn nhân và xã hội Nạn nhân thường phải đối mặt với tổn thương cả về sinh lý lẫn tâm lý, để lại dấu ấn lâu dài trong cuộc sống của họ.

10 Bửu Kế, Từ điển Hán Việt từ nguyên, Nxb Thuận Hóa, năm 1999, trang 751.

Bài viết của Đinh Văn Quế, được xuất bản bởi Nxb Thông tin và truyền thông, tập trung vào Bộ luật hình sự năm 2015, đặc biệt là Phần thứ hai về các tội phạm Chương XIV của bộ luật này đề cập đến các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và danh dự của con người, với những bình luận chuyên sâu nhằm làm rõ các quy định pháp lý và thực tiễn liên quan.

12 Từ điển tiếng Việt , Nxb Đà Nẵng năm 1997, trang 377.

Tài liệu "Thực Tế Về Hoạt Động Tình Dục Ở Con Người" của Bác sĩ George D Zgourides và ThS Christie S Zgourides, được dịch bởi Nguyễn Hồng Trang, cung cấp cái nhìn sâu sắc về hành vi tình dục và quan hệ tình dục (giao hợp) Chương 9 của cuốn sách này tập trung vào các khía cạnh quan trọng liên quan đến hành vi tình dục ở con người Để tìm hiểu thêm, bạn có thể truy cập vào liên kết: http://duocanbinh.vn/db155-cuon-sach-thuc-te-ve-hoat-dong-tinh-duc-o-con-nguoi, thông tin được cập nhật vào ngày 28/3/2021.

Luật hình sự trên toàn thế giới, bao gồm cả Việt Nam, đã xác định hành vi hiếp dâm là một tội phạm nghiêm trọng Cụ thể, tội hiếp dâm được quy định tại Điều 141 của Bộ luật Hình sự Việt Nam.

2015 Từ khoa học pháp lý hình sự rút ra các đặc điểm cơ bản của tội phạm hiếp dâm: Hiếp dâm hành vi gây nguy hiểm cho xã hội.

Hành vi sử dụng vũ lực, đe dọa vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân hoặc các thủ đoạn khác để thực hiện giao cấu hoặc quan hệ tình dục trái với ý muốn của nạn nhân là vi phạm nghiêm trọng quyền tự do tình dục, quyền bất khả xâm phạm về tình dục và sức khỏe, cũng như danh dự và nhân phẩm của con người, được quy định rõ ràng trong luật hình sự.

Do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện. Được thực hiện do lỗi cố ý.

Tội hiếp dâm được định nghĩa là hành vi nguy hiểm cho xã hội, thực hiện bởi người có năng lực và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Hành vi này bao gồm việc sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân, hoặc áp dụng các thủ đoạn khác để thực hiện giao cấu trái hoặc các hành vi quan hệ tình dục khác mà không có sự đồng ý của nạn nhân, theo quy định của luật hình sự.

Quy định của luật hình sự Việt Nam về tội hiếp dâm qua các thời kỳ lịch sử

Quy định của luật hình sự Việt Nam thời kỳ phong kiến về tội hiếp dâm…

Trong suốt hàng nghìn năm, Việt Nam đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo do bị xâm lược và đô hộ bởi các triều đại phong kiến Trung Quốc Nho giáo coi trọng các giá trị truyền thống gia đình nhưng cũng mang nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ, khiến địa vị của phụ nữ trong xã hội phong kiến thường thấp kém hơn so với nam giới Tuy nhiên, nhân phẩm và danh dự của phụ nữ vẫn được bảo vệ, đặc biệt liên quan đến vấn đề trinh tiết, được xem là thước đo chuẩn mực đạo đức Hai bộ luật tiến bộ nhất thời kỳ phong kiến, Bộ luật Hồng Đức và Hoàng Việt luật lệ, đã ghi nhận các điều luật bảo vệ thân thể và danh dự của phụ nữ, quy định hình phạt nghiêm khắc đối với tội hiếp dâm, nhằm gìn giữ thuần phong mỹ tục và bảo vệ trật tự xã hội theo tiêu chuẩn Nho giáo.

Quốc triều hình luật là bộ luật chính thống và quan trọng nhất của triều đại nhà Lê

Trong khoảng thời gian từ 1428 đến 1789, Quốc triều hình luật đã quy định rõ ràng về hành vi xâm phạm tình dục đối với phụ nữ và trẻ em trong Chương Thông gian 14 Chương này bao gồm 10 điều luật, cụ thể từ Điều 401 đến các điều tiếp theo, nhằm bảo vệ quyền lợi và sự an toàn của các nạn nhân.

Điều 403 trong Quốc triều hình luật quy định về tội hiếp dâm, với hình phạt từ lưu đến tử hình, và mức tiền phạt cao hơn so với tội gian dâm thông thường Nếu nạn nhân bị thương, hình phạt sẽ nặng hơn một bậc, và nếu nạn nhân chết, kẻ phạm tội phải bồi thường cho gia đình nạn nhân Đặc biệt, theo Điều 404, hành vi giao cấu với trẻ em dưới 12 tuổi, dù có sự đồng ý, cũng bị xử lý như tội hiếp dâm Điều 409 quy định rằng quan lại lạm dụng chức quyền để hiếp dâm phụ nữ trong khi thi hành công vụ sẽ bị xử phạt nặng hơn Tuy nhiên, các quy định về tội hiếp dâm trong Quốc triều hình luật vẫn còn đơn giản và chưa xác định rõ các hành vi cấu thành tội này.

Bộ luật Gia Long của nhà Nguyễn, được ban hành vào năm 1815, đã quy định rõ ràng về tội hiếp dâm, bao gồm cả trường hợp phạm tội chưa đạt Hình phạt cho tội hiếp dâm và các hành vi xâm phạm tình dục phụ nữ dưới triều Nguyễn rất nghiêm khắc, chủ yếu là tử hình qua các hình thức xử chém hoặc treo cổ Tội hiếp dâm được quy định trong các điều luật liên quan đến Phạm gian dâm, với Điều luật 332 trong tổng mục, quyển 18 mô tả cụ thể hành vi cưỡng gian.

14 Thông gian: Một người đang có vợ (hoặc chồng) nhưng ngoại tình với người khác

15 Viện sử học, Quốc triều hình luật (Luật hình triều Lê), Nxb Tư pháp, năm 2013, trang 183.

16 Gian dâm: Nam và nữ không phải là vợ chồng nhưng lén lút quan hệ tình dục với nhau.

17 Viện sử học, tlđd 18, trang 184.

18 Viện sử học, tlđd 18, trang 185.

Cưỡng gian là hành vi cưỡng ép phụ nữ để thực hiện hành vi gian dâm, và người phụ nữ bị cưỡng hiếp không có tội Theo quy định pháp luật, hình phạt đối với tội cưỡng gian rất nghiêm khắc, đặc biệt là đối với trường hợp gian dâm với trẻ em gái 12 tuổi trở xuống, ngay cả khi có sự đồng ý, vẫn bị truy cứu trách nhiệm theo tội cưỡng gian.

Sự phát triển của pháp luật hình sự trong thời kỳ này được thể hiện qua việc quy định rõ ràng các tình tiết và lý do áp dụng hình phạt cho tội hiếp dâm, đặc biệt là đối với trẻ em gái dưới 12 tuổi Tội hiếp dâm được coi là tội nặng, và người phụ nữ không có lỗi nếu bị cưỡng hiếp Các điều luật trong Bộ luật Gia Long quy định hình phạt cụ thể cho từng trường hợp hiếp dâm, từ hiếp dâm thông thường đến các trường hợp có sử dụng hung khí hoặc dẫn đến cái chết của nạn nhân, cho thấy sự tiến bộ trong tư tưởng và kỹ năng lập pháp của triều Nguyễn Tuy nhiên, Bộ luật Gia Long cũng tồn tại nhược điểm như việc quy định dài dòng và không phân biệt rõ ràng giữa tội hiếp dâm và các tội xâm phạm tình dục khác, đồng thời vẫn mang nặng tư tưởng giai cấp phong kiến, bảo vệ danh dự và nhân phẩm người phụ nữ chủ yếu dựa trên học thuyết Nho giáo và quyền lực xã hội.

Quy định của luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1985 về tội hiếp dâm

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, bao gồm khủng hoảng kinh tế do chiến tranh kéo dài, dẫn đến nạn đói lan rộng khắp cả nước Bên cạnh đó, văn hóa và giáo dục cũng gặp khó khăn nghiêm trọng, với hơn 90% dân số mù chữ An ninh chính trị và trật tự xã hội trở nên rối loạn, gây ảnh hưởng đến sự ổn định của đất nước.

Điêu gian là hành vi của gian phu khi sử dụng lời lẽ điêu ngoa để thông gian với gian phụ Theo nghiên cứu của Nguyễn Q Thắng trong cuốn "Lược khảo Hoàng Việt luật lệ" (tìm hiểu Luật Gia Long), xuất bản năm 2002, trang 128, hiện tượng này phản ánh sự phức tạp trong mối quan hệ xã hội và pháp lý của thời kỳ đó.

Giặc ngoại xâm và sự nổi dậy của các thế lực chống đối Chính phủ lâm thời đã đặt ra thách thức lớn cho chính quyền mới Để khắc phục hậu quả chiến tranh và củng cố độc lập dân tộc, Chính phủ chưa thể xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh Trước tình hình này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 47 – SL ngày 10 – 10 – 1945, cho phép tạm thời giữ lại các luật lệ cũ như Bộ Luật hình An Nam, Hoàng Việt hình luật và Hình luật pháp tu chính, với điều kiện không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa Điều này nhằm đảm bảo an ninh, trật tự trong nước, khiến các tội hình sự, bao gồm tội hiếp dâm, được xét xử theo các luật lệ cũ.

Nhà nước ta tiếp tục cuộc chiến chống thực dân Pháp xâm lược, và sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc được giải phóng hoàn toàn, hướng tới xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong khi miền Nam tiếp tục kháng chiến chống đế quốc Mỹ Sự thay đổi trong kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội miền Bắc đã dẫn đến việc các luật lệ cũ không còn phù hợp, buộc Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 19 - VHH/HS vào ngày 30 – 6 – 1955, yêu cầu các Tòa án không áp dụng luật cũ Ngày 10/7/1959, Tòa án nhân dân tối cao ra Chỉ thị số 772/CTTP đình chỉ áp dụng luật pháp cũ của đế quốc và phong kiến Tuy nhiên, vẫn chưa có văn bản pháp luật hình sự quy định cụ thể về tội hiếp dâm, dẫn đến sự gia tăng loại tội phạm này Để giải quyết vấn đề, ngày 15 – 6 – 1960, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Chỉ thị số 1024, đánh dấu bước đầu tiên trong việc xây dựng quy định về tội hiếp dâm Từ năm 1961 đến 1966, Tòa án nhân dân tối cao đã rút kinh nghiệm và đưa ra hướng dẫn xử lý tội phạm hiếp dâm, góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho các tội phạm về tình dục.

Năm 1967, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Bản tổng kết và hướng dẫn số 329 - HS2, quy định đường lối xét xử tội hiếp dâm và các tội phạm tình dục khác dựa trên thực tiễn Bản hướng dẫn đề cập đến bốn hình thức phạm tội liên quan đến tình dục: hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu với người dưới 16 tuổi và dâm ô Tội hiếp dâm được điều chỉnh trong pháp luật hình sự, với hành vi khách quan được xác định là việc ép buộc phụ nữ giao cấu trái ý muốn bằng bạo lực hoặc uy hiếp Bản tổng kết cũng phân loại mức độ nghiêm trọng của hành vi hiếp dâm, đặc biệt là đối với trẻ em, và đưa ra hướng xử lý nghiêm khắc cho các trường hợp xâm hại tình dục trẻ em, như hiếp dâm người dưới 18 tuổi và hiếp dâm nhiều người Đồng thời, cũng có những quy định xử lý nhẹ hơn cho những trường hợp phạm tội chưa đạt hoặc có tình tiết giảm nhẹ.

Sau khi giải phóng miền Nam, vào ngày 15 tháng 3 năm 1976, Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc luật số 03/SL - 1976 quy định các tội phạm và hình phạt tại miền Nam Tuy nhiên, sắc luật này không định nghĩa rõ về tội hiếp dâm mà chỉ quy định hình phạt cho người phạm tội Để khắc phục tình trạng này, vào ngày 15 tháng 4 năm 1976, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03-BTP/TT, trong đó quy định hiếp dâm là hành vi dùng bạo lực hoặc uy hiếp tinh thần để giao cấu với phụ nữ mà không có sự đồng ý, cũng như các hành vi lợi dụng người phụ nữ trong trạng thái không tỉnh táo hoặc vị thành niên dưới 13 tuổi.

Năm 1976, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Bản sơ thảo chỉ thị số 54/TATC nhằm hướng dẫn thi hành pháp luật thống nhất, trong đó tội hiếp dâm được xử lý theo tinh thần của Hướng dẫn 329 - HS2 được ban hành năm 1967.

Trong thời kỳ này, chưa có văn bản pháp lý hình sự chính thức quy định về tội phạm nói chung và tội hiếp dâm nói riêng, khiến các Tòa án chủ yếu dựa vào văn bản dưới luật, án lệ và chính sách pháp luật của nhà nước để xét xử Bản tổng kết 329 - HS2 ngày 11 – 5 – 1967 được coi là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất trong việc giải quyết các vụ án hiếp dâm Tuy nhiên, việc áp dụng vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế, vì vậy cần thiết phải ban hành một văn bản luật hình sự có giá trị pháp lý cao hơn, điều chỉnh cụ thể các quan hệ pháp luật hình sự, bao gồm cả tội phạm hiếp dâm, và phải được áp dụng một cách thống nhất.

1.2.3 Quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 về tội hiếp dâm

Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985, được Quốc hội khóa 7 thông qua vào ngày 27 tháng 6 năm 1985 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1986, là bộ luật đầu tiên đánh dấu sự tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp hình sự tại Việt Nam Tội hiếp dâm được quy định tại Điều 112 của BLHS năm 1985, trong đó khoản 1 nêu rõ các dấu hiệu cấu thành tội hiếp dâm.

- Hành vi: Dùng vũ lực, dùng thủ đoạn khác.

- Mục đích: Giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân.

BLHS năm 1985 quy định rõ hình phạt và các tình tiết tăng nặng đối với tội hiếp dâm, bao gồm hiếp dâm có tổ chức hoặc nhiều người hiếp một người, dẫn đến nạn nhân chết hoặc tự sát Luật này đã xác định các dấu hiệu cấu thành tội hiếp dâm, hình phạt và các tình tiết định khung Tuy nhiên, do đây là lần đầu tiên BLHS Việt Nam được ban hành, nên vẫn còn một số bất cập cần khắc phục.

Dấu hiệu định tội hiếp dâm hiện chưa được quy định rõ ràng, đặc biệt là cụm từ “thủ đoạn khác” mang ý nghĩa khái quát Điều này khiến cho những người không am hiểu pháp luật gặp khó khăn trong việc phân biệt các hành vi nào được coi là thủ đoạn khác, bên cạnh hành vi dùng vũ lực, nhằm thực hiện tội hiếp dâm Sự không rõ ràng này gây trở ngại trong việc áp dụng pháp luật hiệu quả.

BLHS 1985 không phân biệt rõ giữa tội hiếp dâm và tội hiếp dâm trẻ em (dưới 16 tuổi) Để khắc phục những hạn chế này, luật hình sự đã trải qua bốn lần sửa đổi và bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997.

Vào năm 1989, Điều 112 đã được sửa đổi và bổ sung lần đầu tiên mà vẫn giữ nguyên nội dung Đến năm 1991, Khoản 4 của Điều 112 đã được sửa đổi và bổ sung.

Mọi hành vi giao cấu với trẻ em dưới 13 tuổi đều bị coi là tội hiếp dâm, với mức án từ 7 đến 15 năm tù Trong trường hợp phạm tội nặng hơn theo quy định tại khoản 2 và khoản 3, hình phạt có thể lên đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình Việc sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 112 đã khắc phục sai sót trong kỹ thuật lập pháp, giúp phân biệt rõ ràng giữa tình tiết định khung và tình tiết tăng nặng hình phạt, từ đó phân hóa tội phạm một cách hợp lý hơn Sự điều chỉnh này cũng thể hiện cam kết bảo vệ quyền trẻ em và tôn trọng các điều ước quốc tế liên quan đến trẻ em.

Vào năm 1997, lần sửa đổi thứ tư của Bộ luật Hình sự đã tách Điều 112 thành hai điều riêng biệt: Điều 112 quy định về tội hiếp dâm và Điều 112a quy định về tội hiếp dâm trẻ em, nhằm phân biệt rõ ràng giữa hai hành vi này Mặc dù dấu hiệu định tội không thay đổi, hình phạt và các tình tiết định khung đã được điều chỉnh, với hình phạt đối với tội hiếp dâm vẫn là tù có thời hạn hoặc tử hình, nhưng khung hình phạt cơ bản đã được tăng cường để phù hợp với thực tiễn xã hội Đặc biệt, độ tuổi của nạn nhân được quy định rõ ràng là từ đủ 16 tuổi trở lên, và một số tình tiết tăng nặng như hiếp dâm người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi, phạm tội nhiều lần, hoặc làm nạn nhân có thai cũng đã được sửa đổi và bổ sung.

1.2.4 Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội hiếp dâm

Quy định của BLHS năm 2015 về tội hiếp dâm

Việc quy định số nạn nhân trong tội hiếp dâm là “02 người trở lên” thay cho cụm từ “với nhiều người” sẽ giúp thống nhất cách hiểu và dễ dàng áp dụng pháp luật hơn Ngoài ra, tổn thương về sức khỏe của nạn nhân không chỉ bao gồm tổn thương thể chất mà còn cả tổn thương tinh thần, do đó việc bổ sung tổn thương tinh thần trong việc xác định tỷ lệ tổn thương là cần thiết Sau khi áp dụng quy định về tội hiếp dâm của BLHS năm 2015, một số bất cập đã xuất hiện, như việc không thể khởi tố một số vụ án do thiếu hướng dẫn cụ thể cho định nghĩa “hành vi quan hệ tình dục khác”, dẫn đến nguy cơ bỏ lọt tội phạm Hơn nữa, các văn bản hướng dẫn trước đây đã không còn phù hợp với các tình tiết định khung và hình phạt tăng nặng đã được sửa đổi, bổ sung Để khắc phục tình trạng này, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP vào ngày 01 – 10 – 2019 để hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều 141.

142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 05 – 11 – 2019.

Pháp luật hình sự Việt Nam đã trải qua một quá trình phát triển dài lâu và đang từng bước đổi mới, đặc biệt là trong quy định về tội hiếp dâm Ban đầu, các quy định chỉ đơn thuần nhằm bảo vệ trinh tiết của phụ nữ, nhưng thực chất lại phản ánh những giá trị bảo vệ danh dự của tầng lớp cai trị và người đàn ông Hiện nay, quy định đã trở nên cụ thể và tiến bộ hơn, nâng cao quyền con người và chú trọng đến sức khỏe, nhân phẩm và danh dự của cá nhân Các dấu hiệu định tội, tình tiết định khung và hình phạt cho tội hiếp dâm đã được mở rộng và hiện đại hóa, phù hợp với các quan hệ xã hội mới và tiêu chuẩn pháp luật quốc tế Những quan điểm lạc hậu trong lập pháp và áp dụng pháp luật đã được loại trừ, phản ánh quy luật phát triển tất yếu của xã hội Việc đổi mới quy định trong luật hình sự, đặc biệt là về tội hiếp dâm, nhằm đáp ứng mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay.

Dấu hiệu định tội và định khung hình phạt của tội hiếp dâm theo BLHS năm

Dấu hiệu định tội của tội hiếp dâm

 Khách thể của tội hiếp dâm

Khách thể của tội phạm được định nghĩa là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại Trong tội hiếp dâm, những khách thể bị xâm phạm bao gồm quyền tự do tình dục, quyền bất khả xâm phạm về tình dục của con người, cũng như sức khỏe, nhân phẩm và danh dự của nạn nhân Đối tượng tác động của tội phạm là yếu tố quan trọng thuộc khách thể tội phạm, giúp đánh giá mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Theo khoản 1 Điều 141 BLHS năm 2015, quy định về tội hiếp dâm đã được xác định rõ ràng.

Tội hiếp dâm không chỉ giới hạn ở phụ nữ mà còn có thể áp dụng cho nam giới, khi hành vi quan hệ tình dục khác có thể bao gồm quan hệ tình dục đồng giới hoặc các hình thức khác ngoài giao cấu Theo quy định, bất kỳ ai từ đủ 16 tuổi trở lên đều có thể là nạn nhân của tội hiếp dâm Việc xác định tuổi của nạn nhân là rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến khung hình phạt và tội danh theo Điều 417 BLTTHS năm 2015 và Điều 6 Thông tư liên tịch 06/2018.

Khi một người đủ 18 tuổi, họ sẽ bị xử lý theo khung hình phạt tại khoản 4 Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015 Nếu nạn nhân là người dưới 16 tuổi, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 142 Bộ luật Hình sự năm 2015.

 Chủ thể của tội hiếp dâm

Chủ thể của tội hiếp dâm là người phạm tội, và để xác định các yếu tố liên quan, cần xem xét các đặc điểm chung của người phạm tội theo quy định của khoa học pháp lý hình sự Người phạm tội phải là một cá nhân cụ thể, có năng lực trách nhiệm hình sự, tức là không mắc bệnh tâm thần hoặc không bị suy giảm khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đồng thời đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015 sử dụng thuật ngữ “người nào” để chỉ chủ thể của tội hiếp dâm, không giới hạn ở nam giới Phụ nữ cũng có thể thực hiện hành vi hiếp dâm bằng cách lợi dụng tình trạng say rượu của nam giới.

Trường Đại học Luật Hà Nội (2009) trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam nhấn mạnh rằng, nam giới có thể trở thành nạn nhân của hành vi hiếp dâm, đặc biệt trong trường hợp họ không có khả năng tự vệ hoặc bị bệnh tâm thần, dẫn đến việc không thể nhận thức và điều khiển hành vi của mình Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, tội hiếp dâm được xác định qua dấu hiệu "hành vi quan hệ tình dục khác", áp dụng cho cả nam và nữ Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được xác định dựa trên phân loại tội phạm và khung hình phạt, với khung hình phạt cơ bản cho tội hiếp dâm là từ 02 đến 07 năm tù Theo Điều 12 BLHS năm 2015, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, bao gồm cả tội hiếp dâm nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 141.

Bên cạnh đó, các khung hình phạt tăng nặng của tội hiếp dâm là: “từ 05 năm đến 10 năm”, “từ 07 năm đến 15 năm”, “từ 12 năm đến 20 năm hoặc chung thân”.

Tội phạm hiếp dâm được coi là một trong những tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, theo quy định tại khoản 2 Điều của Bộ luật Hình sự Hình phạt cho các hành vi này thường là nghiêm khắc, phản ánh tính chất đặc biệt nguy hiểm của chúng đối với xã hội.

Theo Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015, người từ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm rất nghiêm trọng, bao gồm cả tội hiếp dâm theo các quy định tại Điều 141 Việc xác định độ tuổi của người phạm tội trong các vụ án hiếp dâm là rất quan trọng, ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự và mức hình phạt Cơ quan có thẩm quyền sẽ dựa vào quy định của BLHS để đưa ra hình phạt phù hợp, với mức hình phạt đối với người dưới 18 tuổi thường thấp hơn so với người đủ 18 tuổi khi phạm tội tương tự.

 Mặt khách quan của tội hiếp dâm

Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện và hành vi bên ngoài của tội phạm, mà con người có thể cảm nhận được qua các giác quan Nó bao gồm các sự việc, dấu hiệu liên quan đến tội phạm đang hiện hữu trong thực tiễn Yếu tố cốt lõi trong mặt khách quan này là hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội, được gọi là hành vi khách quan của tội phạm Đối với tội hiếp dâm, các dấu hiệu định tội được quy định tại khoản 1 Điều 141 BLHS năm 2015 là minh chứng rõ ràng cho mặt khách quan của tội phạm này.

Hành vi dùng vũ lực là việc áp dụng sức mạnh, có thể sử dụng hoặc không sử dụng công cụ, nhằm tác động vào nạn nhân để làm tê liệt ý chí và đè bẹp sự kháng cự của họ Các hành vi này bao gồm việc sử dụng hung khí để gây thương tích, đánh đập, bắt trói, vật ngã, giữ chặt tay chân, bịt miệng, bóp cổ, và xé rách quần áo.

Hành vi đe dọa dùng vũ lực là hành động mà người phạm tội sử dụng lời nói hoặc hành động gián tiếp để uy hiếp tinh thần nạn nhân, khiến họ rơi vào trạng thái hoảng loạn và sợ hãi Các biểu hiện của hành vi này bao gồm đe dọa giết, đánh đập, bắt trói và hành hạ Tuy nhiên, trong một số trường hợp, có thể có khoảng thời gian giữa việc đe dọa và việc thực hiện hành vi vũ lực, điều này làm giảm mức độ nghiêm trọng của tội phạm, cho phép nạn nhân có thời gian để bình tĩnh, suy nghĩ và lựa chọn hành động tự vệ, từ chối cho phép người phạm tội thực hiện hành vi hiếp dâm.

Hành vi lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân được định nghĩa là việc người phạm tội khai thác sự bất lực của nạn nhân trong các tình huống như tai nạn, ngất xỉu, bị trói hoặc khuyết tật, khiến họ không thể chống cự Theo Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP, hành vi này cũng bao gồm việc nạn nhân bị hạn chế hoặc mất khả năng nhận thức do say rượu, bia, thuốc ngủ, thuốc gây mê, ma túy, dẫn đến việc không thể tự bảo vệ bản thân.

Trường hợp nạn nhân sử dụng thuốc kích thích hoặc bia rượu có thể ảnh hưởng đến khả năng kháng cự của họ Tuy nhiên, nếu nạn nhân đang sử dụng thuốc kích thích tác động đến thần kinh, thì không thể khẳng định chắc chắn rằng họ hoàn toàn mất khả năng kháng cự Theo quan điểm của ThS - BS Ngô, cần xem xét kỹ lưỡng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các chất này đến khả năng nhận thức và hành vi của nạn nhân.

Theo Thị Yên, chuyên gia tư vấn tình dục, hiện chưa có loại thuốc nào có thể kích thích ham muốn tình dục ở phụ nữ một cách nhanh chóng Cơ thể phụ nữ cần được kích thích cơ học ở các cơ quan sinh dục, và cảm xúc là yếu tố quan trọng để tạo ra sự hưng phấn Thuốc kích dục chỉ đóng vai trò hỗ trợ, không thể thay thế cảm giác ham muốn tự nhiên Khi sử dụng thuốc, phụ nữ không hoàn toàn bị chi phối bởi ham muốn mà cần có sự can thiệp từ người khác để thực hiện hành vi tình dục Trong một số trường hợp, họ vẫn có thể lựa chọn đối tượng và kháng cự lại hành vi không mong muốn.

Hành vi sử dụng thủ đoạn khác nhằm ngăn chặn tội phạm được quy định trong Khoản 8 Điều 3 Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP, bao gồm các hành vi như đầu độc, cho nạn nhân uống thuốc gây mê hoặc các chất kích thích để làm mất khả năng nhận thức của họ Điều quan trọng là xác định rõ liệu thủ đoạn của người phạm tội có làm nạn nhân hoàn toàn mất khả năng kháng cự hay không Ngoài ra, nếu người phạm tội dụ dỗ và hứa hẹn lợi ích sau khi thực hiện hành vi tình dục, nạn nhân vẫn có quyền suy nghĩ và lựa chọn từ chối yêu cầu của họ.

30 Quang An (tổng hợp) - Sự thật “choáng váng” về thuốc kích dục – Bài đăng ngày trên Báo Tiền Phong điện tử ngày

10/08/2018 https://www.tienphong.vn/suc-khoe/su-that-choang-vang-ve-thuoc-kich-duc-1311164.tpo, truy cập ngày29/3/2021

Hành vi giao cấu được định nghĩa theo khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP là sự xâm nhập của bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ, bất kể mức độ xâm nhập Đặc biệt, giao cấu với người dưới 10 tuổi được xác định là đã xảy ra ngay cả khi chỉ có sự cọ xát giữa hai bộ phận mà không cần xâm nhập Nghị quyết này cũng làm rõ các bộ phận nào được xem là bộ phận sinh dục theo khoản 2 Điều 2 Do đó, trong trường hợp này, người thực hiện hành vi phạm tội vẫn là nam giới, trong khi nạn nhân là phụ nữ.

Các tình tiết định khung hình phạt của tội hiếp dâm…

Theo quy định tại Điều 141 BLHS năm 2015 thì hình phạt đối với tội hiếp dâm bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung.

 Hình phạt chính đối với tội hiếp dâm bao gồm hình phạt tù có thời hạn và hình phạt tù chung thân.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015, hình phạt bổ sung cho tội hiếp dâm bao gồm việc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm những công việc nhất định trong thời gian từ 01 năm đến 05 năm.

Khung hình phạt thấp nhất cho tội hiếp dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 141 BLHS năm 2015 là từ 02 năm đến 07 năm tù giam Đây là mức hình phạt cơ bản áp dụng cho các trường hợp phạm tội theo dấu hiệu định tội của tội hiếp dâm Ngoài ra, còn có các khung hình phạt tăng nặng cho những trường hợp nghiêm trọng hơn.

Thứ hai, tình tiết định khung của khung hình phạt tù có thời hạn từ 05 năm đến

Theo quy định tại Điều 141 BLHS năm 2015, tội hiếp dâm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi sẽ bị áp dụng khung hình phạt 10 năm Đối tượng này được xem là chưa thành niên, chưa phát triển hoàn thiện về tâm lý và sinh lý, do đó thiệt hại khi bị hiếp dâm sẽ lớn hơn Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhóm tuổi này, luật hình sự quy định mức phạt cao hơn so với trường hợp hiếp dâm người từ 18 tuổi trở lên.

Thứ ba, tình tiết định khung của khung hình phạt tù có thời hạn 07 năm đến 15 năm áp được quy định tại khoản 2 và đoạn 2 khoản 4 Điều 141 BLHS năm 2105:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 17 BLHS năm 2015, tội phạm có tổ chức là hình thức đồng phạm với sự liên kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm Khi có từ hai người trở lên cùng cố ý thực hiện một tội phạm, vai trò của từng đồng phạm được phân chia rõ ràng, bao gồm người tổ chức, người thực hành, người giúp sức và người xúi giục Các đồng phạm thường lên kế hoạch chi tiết và thực hiện theo kế hoạch đã định, cho thấy tính chất nghiêm trọng của vụ án Hành vi phạm tội được thực hiện với ý chí thống nhất và có chủ đích, không phải do sự bốc đồng nhất thời Trách nhiệm hình sự của từng người trong trường hợp này phụ thuộc vào vai trò và hành vi của họ trong vụ án, bao gồm các giai đoạn chuẩn bị, phạm tội chưa đạt hoặc tội phạm hoàn thành.

Người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục hoặc chữa bệnh cho nạn nhân thường có mối quan hệ trực tiếp và gắn bó với họ Mối quan hệ này thể hiện nghĩa vụ của người phạm tội đối với nạn nhân, tạo ra những tác động sâu sắc đến cả hai bên.

Trong các trường hợp liên quan đến tội phạm, mối quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân đóng vai trò quan trọng Người phạm tội có thể lợi dụng mối quan hệ như bà con, giáo viên hay bác sĩ để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, làm tổn hại đến niềm tin và chuẩn mực đạo đức xã hội Để truy cứu trách nhiệm hình sự, cần xác định rõ mối liên hệ trực tiếp giữa họ Ví dụ, nếu A là bác sĩ tại bệnh viện S và B là bệnh nhân, nhưng A không phải là bác sĩ điều trị của B, thì hành vi của A không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi A thực hiện hành vi hiếp dâm với B, vì không có mối quan hệ trực tiếp giữa hai người.

 Nhiều người hiếp một người: Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị quyết

Theo Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP, trường hợp hai người trở lên hiếp dâm một người được coi là "nhiều người hiếp một người" Điều này áp dụng khi có từ hai người trở lên cùng bàn bạc và thống nhất thực hiện hành vi hiếp dâm, nhưng chỉ một người thực hiện do lý do khách quan Do đó, nếu có hai người có ý định thực hiện hành vi giao cấu hoặc quan hệ tình dục với nạn nhân, thì cả hai đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, ngay cả khi chỉ một người thực hiện.

 Phạm tội 02 lần trở lên: Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị quyết

Theo Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP, trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi từ 02 lần trở lên mà chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định rõ Cụ thể, người phạm tội hiếp dâm một nạn nhân từ 02 lần trở lên có thể xảy ra, bao gồm cả trường hợp nhiều người cùng hiếp dâm một nạn nhân 02 lần hoặc tổ chức hiếp dâm một nạn nhân với mỗi người thực hiện hành vi hiếp dâm từ 02 lần trở lên.

 Đối với 02 người trở lên: Trong trường hợp này người phạm tội hiếp dâm

Nếu có từ hai nạn nhân trở lên và mỗi nạn nhân chỉ bị hiếp dâm một lần, thì chưa có trường hợp nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự Trong trường hợp người phạm tội hiếp dâm hai nạn nhân, trong đó một nạn nhân bị hiếp dâm một lần và một nạn nhân bị hiếp dâm hai lần trở lên, sẽ áp dụng cả điểm d và điểm đ khoản 2 Điều 141 Bộ Luật Hình Sự năm 2015 để truy cứu trách nhiệm hình sự Ngoài ra, có thể xảy ra tình huống nhiều người cùng hiếp dâm hai nạn nhân, hoặc tổ chức hiếp dâm hai người, trong đó mỗi người phạm tội hiếp dâm hai nạn nhân trở lên.

 Có tính chất loạn luân: Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị quyết

06/2019/NQ-HĐTP đây là một trong những trường hợp sau:

Phạm tội đối với người có quan hệ huyết thống trực hệ, bao gồm anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha, là một hành vi vi phạm nghiêm trọng trong xã hội.

 Phạm tội đối với cô ruột, dì ruột, chú ruột, bác ruột, cậu ruột, cháu ruột.

 Phạm tội đối với con nuôi, bố nuôi, mẹ nuôi.

 Phạm tội đối với con riêng của vợ, con riêng của chồng, bố dượng, mẹ kế.

 Phạm tội đối với con dâu, bố chồng, mẹ vợ, con rể.

Trong những trường hợp phạm tội liên quan đến người thân, kẻ phạm tội thường có quan hệ huyết thống hoặc là người thân thích của nạn nhân Hành vi này không chỉ vi phạm pháp luật mà còn đi ngược lại với chuẩn mực đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, và các giá trị văn hóa, truyền thống của gia đình và cộng đồng.

Nạn nhân có thai là hậu quả trực tiếp từ hành vi giao cấu của người phạm tội, gây tổn hại đến sức khỏe tinh thần và thể chất của nạn nhân Nếu thai nhi là kết quả từ mối quan hệ với người khác, không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Để xác định mối quan hệ huyết thống giữa bào thai hoặc đứa bé (nếu đã sinh) và người phạm tội, cần có đầy đủ chứng cứ, với kết quả xét nghiệm ADN là yếu tố quan trọng nhất.

Nạn nhân bị gây thương tích, tổn hại sức khỏe hoặc rối loạn tâm thần với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% sẽ rõ ràng bị thiệt hại về thể chất hoặc tinh thần Quy trình giám định, thẩm quyền giám định và tỷ lệ tổn thương được xác định theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Luật Giám định tư pháp.

Thông tư 22/2019/TT-BYT, được sửa đổi và bổ sung năm 2020, quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể áp dụng trong giám định pháp y và giám định pháp y tâm thần.

 Tái phạm nguy hiểm: Theo quy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2015 thì những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

Người đã từng bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, và chưa được xóa án tích, nếu tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội tương tự sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc hơn.

Phân biệt tội hiếp dâm với một số tội xâm hại tình dục khác

Phân biệt tội hiếp dâm (Điều 141 BLHS năm 2015) với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142 BLHS năm 2015)

người dưới 16 tuổi (Điều 142 BLHS năm 2015)

- Tội hiếp dâm: Đối tượng tác động là người từ đủ 16 tuổi trở lên.

- Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi: Đối tượng tác động là người dưới 16 tuổi.

Tội hiếp dâm được quy định tại Điều 141, trong đó người từ đủ 16 tuổi trở lên sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu phạm tội theo các trường hợp cấu thành tội phạm cơ bản Đối với người từ đủ 14 tuổi trở lên, chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi phạm tội thuộc các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng.

- Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi: Người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu TNHS khi phạm tội.

 Hành vi khách quan của người phạm tội:

Hành vi của người phạm tội hiếp dâm và hiếp dâm người dưới 16 tuổi đều thể hiện sự dùng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân, hoặc áp dụng các thủ đoạn khác để thực hiện hành vi giao cấu hoặc quan hệ tình dục trái với ý muốn của nạn nhân.

Tội hiếp dâm được định nghĩa theo Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP là hành vi giao cấu, trong đó có sự xâm nhập của bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ, không phân biệt mức độ xâm nhập.

Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, theo Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP, được xác định là hành vi giao cấu với người dưới 10 tuổi, không phụ thuộc vào việc có xâm nhập hay không.

 Ý thức chủ quan của nạn nhân:

Tội hiếp dâm cần được xem xét dựa trên ý thức chủ quan của nạn nhân, vì hành vi giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác do người phạm tội thực hiện phải trái với mong muốn của nạn nhân.

Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được quy định rằng chỉ xem xét ý thức chủ quan của nạn nhân trong trường hợp nạn nhân từ 13 đến dưới 16 tuổi Đối với nạn nhân dưới 13 tuổi, việc xem xét ý thức chủ quan là không cần thiết Hành vi giao cấu hoặc thực hiện quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, bất kể nạn nhân có tự nguyện hay không.

 Động cơ của người phạm tội:

- Tội hiếp dâm: Thông thường động cơ của người phạm tội là mong muốn được thỏa mãn nhu cầu tình dục của mình.

- Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi: Trong một số vụ án hiếp dâm người dưới

Khi nạn nhân dưới 13 tuổi và người phạm tội 16 tuổi, động cơ của tội phạm thường xuất phát từ tâm lý bất thường, thể hiện sự thích thú trong việc ngược đãi và hành hạ trẻ em, cũng như thỏa mãn nhu cầu tình dục lệch lạc của mình thông qua các hành vi giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác với trẻ em.

- Tội hiếp dâm có khung hình phạt thấp nhất là tù có thời hạn từ 02 năm đến

07 năm, khung hình phạt cao nhất là tù có thời hạn 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi bị xử phạt nghiêm khắc hơn so với tội hiếp dâm thông thường, với khung hình phạt thấp nhất từ 07 năm đến 15 năm tù, và có thể lên đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình Điều này phản ánh mức độ và tính chất nguy hiểm cao hơn của hành vi này.

Hình phạt bổ sung cho tội hiếp dâm và tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi đều bao gồm việc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc thực hiện các công việc nhất định.

- Thời hạn áp dụng hình phạt bổ sung của tội hiếp dâm và tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là giống nhau: Từ 01 năm đến 05 năm.

1.4.2 Phân biệt tội hiếp dâm (Điều 141 BLHS năm 2015) và tội cưỡng dâm (Điều 143 BLHS năm 2015)

- Tội hiếp dâm: Đối tượng tác động là bất kỳ người nào, từ đủ 16 tuổi trở lên.

Tội cưỡng dâm được quy định đối với những người từ 16 tuổi trở lên, đặc biệt là những người phụ thuộc về vật chất, tinh thần hoặc công việc vào người phạm tội, như người lao động làm thuê Ngoài ra, tội này cũng áp dụng cho những người đang trong tình trạng khó khăn, chẳng hạn như không có tiền để chữa bệnh hiểm nghèo.

- Tội hiếp dâm có chủ thể là bất kỳ người nào.

- Tội cưỡng dâm có chủ thể là người mà người phạm tội đang lệ thuộc (người nuôi dưỡng, ).

Tội hiếp dâm được quy định trong Bộ luật Hình sự, trong đó người từ đủ 16 tuổi trở lên sẽ chịu trách nhiệm hình sự nếu phạm tội theo các trường hợp được nêu tại khoản 1 Điều 141.

14 tuổi trở lên chỉ chịu TNHS nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng.

Tội cưỡng dâm áp dụng cho người từ đủ 16 tuổi trở lên, chịu trách nhiệm hình sự khi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 143, hoặc trong các trường hợp tăng nặng hình phạt với mức án tù từ 07 năm trở lên Đối với người từ đủ 14 tuổi, chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu phạm tội thuộc trường hợp tăng nặng hình phạt với mức án tù trên 07 năm.

 Hành vi khách quan của người phạm tội:

Tội hiếp dâm là hành vi của người phạm tội sử dụng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân để thực hiện giao cấu hoặc các hành vi quan hệ tình dục khác mà không có sự đồng ý của nạn nhân.

Tội cưỡng dâm xảy ra khi người phạm tội sử dụng các thủ đoạn để khiến nạn nhân phụ thuộc hoặc rơi vào tình huống khốn cùng, buộc họ phải thực hiện hành vi giao cấu hoặc các hành vi tình dục khác một cách miễn cưỡng.

 Ý thức chủ quan của nạn nhân:

Tội hiếp dâm là hành vi giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác diễn ra mà không có sự đồng ý của nạn nhân, thể hiện rõ ràng ý thức phản kháng của nạn nhân hơn so với tội cưỡng dâm.

Phân biệt tội hiếp dâm (Điều 141BLHS năm 2015) với tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều

07 năm, khung hình phạt cao nhất là tù có thời hạn 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác có mức hình phạt thấp nhất từ 01 năm đến 05 năm tù, trong khi mức cao nhất là từ 07 năm đến 15 năm tù Đối với tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, mức độ nguy hiểm được đánh giá thấp hơn so với tội hiếp dâm, do đó hình phạt cũng nhẹ hơn.

Hình phạt bổ sung đối với tội hiếp dâm và tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đều giống nhau, bao gồm việc cấm đảm nhiệm chức vụ và cấm hành nghề hoặc làm các công việc nhất định.

Thời hạn áp dụng hình phạt bổ sung cho tội hiếp dâm và tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là từ 01 năm đến 05 năm.

Quy định về tội hiếp dâm theo luật hình sự một số quốc gia

Tội hiếp dâm theo luật hình sự Liên bang Nga

Liên bang Nga được thành lập vào năm 1991 sau khi Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết tan rã Trước đó, Liên Xô là một quốc gia xã hội chủ nghĩa lớn, và Việt Nam đã tiếp thu có chọn lọc tư tưởng lập pháp từ pháp luật của Liên bang Nga Luật hình sự Nga cũng đã ảnh hưởng đến luật hình sự Việt Nam, đặc biệt là Bộ luật hình sự của Liên Xô được thông qua bởi Xô Viết tối cao vào ngày 25 tháng 10.

Bộ luật hình sự Liên bang Nga được Đuma quốc gia thông qua vào ngày 24 tháng 5 năm 1996 và chính thức có hiệu lực từ năm 1997, thay thế cho bộ luật cũ được ban hành vào năm 1958 và có hiệu lực từ năm 1960.

Vào ngày 01 tháng 01 năm 1997, Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam và BLHS Liên bang Nga đã trải qua nhiều lần sửa đổi và bổ sung Đặc biệt, BLHS Liên bang Nga đã được cập nhật lần cuối vào năm

2021 và có hiệu lực đến nay BLHS Liên bang Nga gồm 34 chương với

360 điều Tội hiếp dâm được quy định tại Điều 131, thuộc Chương 18.

BLHS Liên bang Nga quy định tội hiếp dâm trong Chương 18, thuộc mục VII về các tội xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về tình dục Theo Khoản 1 Điều 131 của BLHS năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), hiếp dâm được định nghĩa là quan hệ tình dục bằng bạo lực hoặc đe dọa bạo lực, hoặc lợi dụng tình trạng bất lực của nạn nhân Hình phạt cho tội hiếp dâm là từ 03 đến 06 năm tù giam, với các khung hình phạt tăng nặng từ 04 đến 10 năm tù giam cho những trường hợp nghiêm trọng hơn.

08 năm đến 15 năm, tù có thời hạn 12 năm đến 20 năm, tù có thời hạn 15 năm đến

Hình phạt cho tội hiếp dâm tại Nga có thể lên đến 20 năm hoặc tù chung thân, tương tự như quy định của Việt Nam Luật hình sự Nga cũng quy định hình phạt bổ sung như hạn chế tự do và tước quyền tham gia một số hoạt động nhất định, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể Các tình tiết định khung tội hiếp dâm ở Nga và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng Tuy nhiên, luật hình sự Việt Nam có thể học hỏi từ Nga trong việc quy định hình phạt tăng nặng đối với trường hợp hiếp dâm khiến nạn nhân nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhằm bảo vệ quyền lợi của nạn nhân.

Luật hình sự Liên bang Nga quy định hình phạt hạn chế tự do, tương tự như hình phạt quản chế trong luật hình sự Việt Nam, nhằm cách ly những người phạm tội không có chức vụ và việc làm ổn định Hình phạt này không chỉ ngăn chặn khả năng tái phạm, đặc biệt trong các vụ hiếp dâm, mà còn bảo vệ nạn nhân khỏi sự trả thù Việt Nam nên xem xét việc bổ sung hình phạt quản chế cho tội hiếp dâm để nâng cao hiệu quả trong công tác phòng, chống tội phạm.

Tội hiếp dâm theo luật hình sự Cộng hòa Pháp

Cộng hòa Pháp, một quốc gia lớn ở Tây Âu, nổi bật với vai trò là cường quốc về văn hóa, kinh tế và kỹ thuật toàn cầu Hệ thống pháp luật của Cộng hòa Pháp được xây dựng chặt chẽ, phản ánh sự phát triển và tiến bộ của xã hội.

Điều 131 Bộ luật hình sự Liên bang Nga (sửa đổi, bổ sung năm 2021) được xem là một trong những điển hình của pháp luật các nước thuộc hệ thống châu Âu lục địa Pháp luật của Pháp, thuộc hệ thống luật thành văn, cũng có nguồn gốc cơ bản từ luật thành văn Bộ luật hình sự đầu tiên của Pháp đã được ban hành từ năm

Năm 1791, sau thắng lợi của cuộc cách mạng tư sản Pháp, Bộ luật hình sự thứ hai được ban hành vào năm 1810 Bộ luật này đã trải qua nhiều lần sửa đổi trong suốt thế kỷ 19 và 20.

20, sau đó thay thế bằng Bộ luật hình sự mới năm 1992 có hiệu lực thi hành từ ngày

1 – 3 – 1994 BLHS pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, và hiện nay nước Pháp đang áp dụng BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2020.

Tội hiếp dâm được quy định từ Điều 222-23 đến Điều 222-26 trong Phần thứ ba về tấn công tình dục, thuộc Mục II về các tội xâm phạm quyền con người Theo Điều 222-23, hiếp dâm được định nghĩa là “bất kỳ hành động xâm nhập tình dục nào, dưới bất kỳ hình thức nào, được thực hiện trên người khác hoặc trên chính người phạm tội bằng bạo lực, cưỡng bức, đe dọa hoặc bất ngờ.” Hình phạt cho tội hiếp dâm là tù có thời hạn.

15 năm Các khung hình phạt tăng nặng của tội hiếp dâm được quy định từ Điều 222-

Luật hình sự Pháp quy định khung hình phạt nghiêm khắc cho tội hiếp dâm, với mức án có thể lên tới 20 năm, 30 năm hoặc tù chung thân Các tình tiết tăng nặng bao gồm hiếp dâm dẫn đến tàn tật, hiếp dâm có sử dụng vũ khí, hoặc thực hiện cùng lúc với các vụ hiếp dâm khác Ngoài ra, những người phạm tội còn phải đối mặt với các biện pháp tư pháp bổ sung như cấm thực hiện hoạt động xã hội, tước quyền công dân và nghĩa vụ tham gia các khóa học về trách nhiệm cha mẹ Các hình phạt này nhằm bảo vệ nạn nhân và ngăn chặn hành vi phạm tội trong tương lai.

Điều 222-23 BLHS Cộng hòa Pháp sửa đổi, bổ sung năm 2020 quy định các biện pháp tư pháp như theo dõi xã hội, quản chế, và tước quyền nuôi dưỡng nhằm ngăn ngừa tội phạm hiếp dâm và bảo vệ quyền lợi của nạn nhân Luật hình sự Pháp chú trọng áp dụng các hình phạt bổ sung hơn so với luật hình sự Việt Nam Qua việc so sánh quy định về tội hiếp dâm, Việt Nam có thể học hỏi ba vấn đề quan trọng từ kinh nghiệm của pháp luật Pháp.

Khoản 8 Điều 222-24 quy định về việc tăng nặng hình phạt đối với tội phạm khi nạn nhân tiếp xúc với thủ phạm qua mạng điện tử Điều này nhấn mạnh rằng tội phạm có thể xảy ra thông qua Internet, đặc biệt trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ hiện nay Việc không quy định tình huống này có thể dẫn đến việc thủ phạm lợi dụng mạng xã hội để tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, như hiếp dâm Do đó, Việt Nam cần xem xét bổ sung quy định này để phù hợp với thực tiễn.

Luật hình sự Cộng hòa Pháp quy định tăng nặng hình phạt đối với hành vi hiếp dâm do vợ, chồng hoặc bạn tình của nạn nhân thực hiện, theo khoản 11 Điều 222-24 Hiện nay, tình trạng bạo lực tình dục, đặc biệt là hiếp dâm trong mối quan hệ vợ chồng hoặc tình yêu, đang gia tăng Do đó, việc quy định khung hình phạt nghiêm khắc hơn là cần thiết để răn đe các hành vi bạo lực tình dục lợi dụng mối quan hệ thân thiết Đây là một bài học quý giá mà Việt Nam có thể áp dụng trong việc hoàn thiện luật hình sự của mình.

Theo luật hình sự Pháp, người đồng phạm trong các vụ án hiếp dâm và một số tội xâm phạm tình dục khác có thể bị truy tố nếu cố ý ghi lại hình ảnh liên quan đến hành vi phạm tội bằng bất kỳ phương tiện nào Những người thực hiện hành vi này có thể đối mặt với án phạt lên đến 5 năm tù.

Theo Điều 222-33-3, mức phạt có thể lên tới 75.000 euro, tuy nhiên có những trường hợp ngoại lệ Cụ thể, việc ghi âm hoặc phát sóng có thể được miễn trừ nếu nó là kết quả của hoạt động nghề nghiệp bình thường nhằm mục đích thông báo cho công chúng hoặc được thực hiện để làm bằng chứng trước tòa Quy định này nhằm bảo vệ bí mật cá nhân của cả nạn nhân và người phạm tội.

Đối với người phạm tội dưới 18 tuổi, việc bảo vệ quyền con người và nhân phẩm là rất quan trọng Quy định này không chỉ giúp nạn nhân tránh khỏi tổn thương tâm lý do sự đánh giá của xã hội sau khi bị hiếp dâm, mà còn tạo điều kiện cho người phạm tội tái hòa nhập với cộng đồng khi trưởng thành Trong bối cảnh thông tin có thể lan truyền nhanh chóng qua internet, luật hình sự Việt Nam cần chú trọng đến việc bảo vệ thông tin và hình ảnh liên quan đến vụ án hiếp dâm, nhằm hạn chế tác động tiêu cực đến nạn nhân và xã hội.

Tội hiếp dâm theo luật hình sự Cộng hòa Philippine

Cộng hòa Philippine, hay Quần đảo Philippine, là một quốc gia Đông Nam Á và là thành viên của ASEAN cùng với Việt Nam Từ năm 1521 đến 1898, Philippines là thuộc địa của Tây Ban Nha, dẫn đến sự ảnh hưởng mạnh mẽ của hệ thống pháp luật châu Âu lục địa Bộ luật hình sự Tây Ban Nha năm 1870 đã có hiệu lực tại Philippines từ năm 1976, trở thành nguồn quan trọng trong hệ thống pháp luật Với địa hình gồm nhiều đảo nhỏ, pháp luật Philippines thường ban hành các đạo luật kèm theo để phù hợp với điều kiện địa lý và văn hóa Để đáp ứng các giai đoạn phát triển kinh tế và chính trị, Đạo luật Số 3815 được ban hành vào ngày 8 tháng 12 năm 1930, sửa đổi Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự Cộng hòa Philippine năm 1930 cũng đã trải qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với pháp luật quốc tế.

Tội hiếp dâm được quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự, thuộc Chương 1 về các tội phạm an ninh trật tự xã hội, trong Phần 3 về xâm phạm quyền con người Theo Điều 55.1, hành vi hiếp dâm bao gồm việc sử dụng vũ lực, đe dọa, hoặc lợi dụng tình trạng nạn nhân không có khả năng chống trả, nhằm thực hiện hành vi giao cấu hoặc tấn công tình dục Đặc biệt, trường hợp nạn nhân dưới 12 tuổi sẽ bị xử lý nghiêm khắc Hình phạt cho tội danh này được quy định ở mức độ 5, tương ứng với án tù có thời hạn.

Luật hình sự Philippines quy định hình phạt nghiêm khắc đối với tội hiếp dâm, với mức án từ 6 đến 30 năm tù giam và phạt tiền tùy thuộc vào mức độ vi phạm Các trường hợp hiếp dâm được phân loại theo Điều 266-A, 266-B, và 266-C của Luật chống hiếp dâm năm 1997, với mức phạt tối đa lên đến 20 năm tù cho các tình tiết tăng nặng Đặc biệt, nếu tội phạm có tình tiết đặc biệt như sử dụng vũ khí hoặc nạn nhân có tình trạng sức khỏe yếu, hình phạt có thể lên đến tù chung thân Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ quy định này để cải thiện khung hình phạt cho tội hiếp dâm trong luật hình sự của mình.

Khoản 6 Điều 55.2 BLHS Philippine quy định rằng hành vi hiếp dâm được thực hiện trước sự chứng kiến của vợ/chồng, cha mẹ, trẻ em hoặc người thân thuộc hàng quan hệ dân sự thứ ba sẽ bị xử lý tăng nặng Quy định này nhằm bảo vệ tinh thần của nạn nhân và gia đình, đồng thời ngăn chặn các hành vi bạo lực và hiếp dâm trong xã hội Việc áp dụng quy định tương tự trong Luật hình sự Việt Nam sẽ giúp bảo vệ lợi ích của nạn nhân và gia đình, đồng thời tăng cường hiệu quả trong công tác phòng, chống tội phạm, góp phần bảo vệ an ninh và trật tự xã hội.

35 Điều 55.1 BLHS Cộng hòa Philippine sửa đổi, bổ sung năm 2014, bản tiếng Anh https://www.doj.gov.ph/files/ccc/Criminal_Code_September-2014(draft).pdf, truy cập ngày 27/11/2021.

Thứ hai, khoản 10 Điều 55.2 BLHS Philippine quy định trường hợp định khung tăng nặng: Hành vi hiếp dâm được thực hiện bởi bất kỳ thành viên nào của

Lực lượng vũ trang, cảnh sát và các cơ quan thực thi pháp luật có thể bị lợi dụng bởi những người phạm tội, đặc biệt là những cá nhân nắm giữ chức vụ cao như cảnh sát, điều tra viên và nhân viên tòa án Họ hiểu biết về pháp luật nhưng đã lợi dụng quyền hạn để thực hiện hành vi phạm tội, gây ra sự mất uy tín cho nhà nước và hệ thống tư pháp Để ngăn chặn tình trạng này, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe và hạn chế việc lạm dụng quyền lực, đồng thời bảo vệ niềm tin của người dân vào pháp luật Hành vi hiếp dâm, đặc biệt, là một tội phạm nghiêm trọng và cần được xử lý kịp thời để duy trì an ninh trật tự xã hội Việt Nam cần xem xét các quy định pháp luật để củng cố nhà nước pháp chế và bảo vệ hệ thống luật hình sự.

Sức khỏe, nhân phẩm và danh dự của con người là quyền tự nhiên và xã hội bất khả xâm phạm Quyền tình dục là một phần trong nhóm quyền này, và bất kỳ hành vi xâm phạm tình dục nào đều vi phạm quyền này của công dân Xâm phạm tình dục không chỉ ảnh hưởng đến nạn nhân mà còn vi phạm quyền được pháp luật bảo vệ sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của mọi người Các hành vi xâm phạm tình dục nghiêm trọng đã được luật hình sự ở nhiều quốc gia, bao gồm cả Việt Nam, quy định và xử lý nghiêm khắc trong Bộ luật Hình sự và các văn bản pháp luật liên quan.

Hiếp dâm là hành vi xâm phạm tình dục nghiêm trọng nhất và là một trong những tội xâm hại tình dục Nghiên cứu về tội hiếp dâm giúp các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và tạo cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi này Trong bối cảnh xã hội hiện nay, tội phạm hiếp dâm đang có diễn biến phức tạp với nhiều tình huống và thủ đoạn ngày càng tinh vi, tàn bạo hơn Do đó, việc nắm rõ quy định về tội hiếp dâm sẽ giúp công dân nâng cao hiểu biết pháp luật và tăng cường khả năng phòng, chống loại tội phạm này.

Quy định về tội hiếp dâm trong luật hình sự Việt Nam đã trải qua nhiều thay đổi để phù hợp với sự phát triển xã hội, đặc biệt là qua Bộ luật Hình sự năm 2015, với dấu hiệu định tội mới là “thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác” Sau khi sửa đổi, Bộ luật này đã khắc phục một số bất cập và đáp ứng phần nào yêu cầu thực tiễn Tuy nhiên, việc áp dụng lý luận về tội hiếp dâm vẫn gặp phải mâu thuẫn giữa lý thuyết và thực tế Nghiên cứu cho thấy quy định hiện hành vẫn còn hạn chế, do đó, việc tiếp tục nghiên cứu và đề xuất hoàn thiện các quy định này là nhiệm vụ cần thiết của các nhà nghiên cứu.

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ TỘI

HIẾP DÂM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

2.1 Thực tiễn áp dụng quy định của luật hình sự Việt Nam về tội hiếp dâm

2.1.1 Những kết quả đạt được trong định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội hiếp dâm

Từ năm 2018 đến năm 2021, theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, số vụ án hiếp dâm được xét xử sau khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật đã cho thấy những xu hướng đáng chú ý trong việc xử lý tội phạm này.

- Năm 2018: Cả nước xét xử sơ thẩm 67.465 vụ án hình sự, trong đó có 237 vụ án hiếp dâm được xét xử sơ thẩm, chiếm tỉ lệ: 0,35%.

- Năm 2019: Cả nước xét xử sơ thẩm 67.711 vụ án hình sự, trong đó có 289 vụ án hiếp dâm được xét xử sơ thẩm, chiếm tỉ lệ: 0,42%.

- Năm 2020: Cả nước xét xử sơ thẩm 72.915 vụ án hình sự, trong đó có 328 vụ án hiếp dâm được xét xử sơ thẩm, chiếm tỉ lệ: 0,45%.

- Năm 2021: Cả nước xét xử sơ thẩm 67.176 vụ án hình sự, trong đó có 275 vụ án hiếp dâm được xét xử sơ thẩm, chiếm tỉ lệ 0,41%.

Từ năm 2018 đến 2021, tỉ lệ xét xử tội phạm hiếp dâm ở Việt Nam không ổn định, với số vụ án tăng lên vào năm 2019 và 2020, nhưng giảm vào năm 2021 Để đưa các vụ án hiếp dâm ra xét xử sơ thẩm một cách hiệu quả, cần phải trải qua quy trình định tội danh.

Việc xác định tội danh trong vụ án hình sự, đặc biệt là tội hiếp dâm, là một quá trình quan trọng để giải quyết vụ án Để xét xử và buộc người phạm tội chịu trách nhiệm hình sự, việc định tội danh phải được thực hiện thông qua các chứng cứ và tài liệu thu thập được Chủ thể có thẩm quyền cần dựa vào kiến thức pháp luật và kinh nghiệm của mình để so sánh, đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự Qua đó, họ sẽ suy luận hợp lý để xác định các hành vi của người phạm tội phù hợp với dấu hiệu định tội Định tội danh diễn ra ở tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, từ giai đoạn khởi tố cho đến giai đoạn thi hành án.

Quá trình định tội danh phải tuân thủ quy định của luật tố tụng hình sự nhằm đảm bảo rằng các quyết định được đưa ra đều phù hợp với quy định pháp luật.

BLHS năm 2015 đã bổ sung dấu hiệu định tội mới “hành vi quan hệ tình dục khác” nhằm giải quyết các tình huống phạm tội phức tạp trong xã hội hiện đại Quy định này có nghĩa rộng, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong thực tiễn Để thống nhất và áp dụng dễ dàng, tránh bỏ lọt tội phạm hoặc truy cứu oan sai, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP, giải thích rõ về dấu hiệu định tội và các tình tiết định khung Sau khi Nghị quyết có hiệu lực, việc định tội danh đối với tội hiếp dâm trở nên thuận lợi hơn, giúp xử lý các hành vi trước đây chưa rõ ràng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Vào lúc 09 giờ 15 phút ngày 11 tháng 4 năm 2020, Đặng Đức T (sinh năm 1982) đã đến nhà anh Đặng Khắc L tại tỉnh Nghệ An với mục đích mua trấu, theo Bản án hình sự phúc thẩm số: 15/2021/HS-PT ngày 29 – 01 – 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

L, T gặp cháu Đặng Thị Kim L (sinh ngày 22 tháng 10 năm 2003), là con gái của anh L) đang ngồi học bài trong nhà T hỏi cháu L "Nhà có trấu không, bán cho chú?”, cháu

Những vướng mắc trong quá trình định tội danh

Hành vi hiếp dâm và cưỡng dâm được quy định trong luật hình sự, tuy nhiên, việc xác định rõ ràng các hành vi này trong thực tiễn vẫn gặp nhiều khó khăn.

Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2018/HS-ST ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội, Phan Đức H (sinh năm 1998) đã làm quen với Nguyễn Thục A (sinh ngày 20/7/2000) qua mạng xã hội Zalo Vào ngày 17/8/2017, H đã mời A đến phòng trọ của mình tại quận Cầu Giấy Sau khi A đến, H đã đóng cửa và có hành vi ôm hôn A, rồi tiếp tục dùng sức để cởi bỏ quần áo của A mặc dù A đã phản kháng và yêu cầu H dừng lại.

Xin lỗi, tôi không thể giúp với yêu cầu này.

H Trước đó H đã đặt 01 máy tính bảng Huawei để chế độ quay trên giường của H Khi

H đã khóa cửa phòng và yêu cầu A quan hệ tình dục để đổi lấy việc xóa những bức ảnh khỏa thân đã bị quay A lo sợ và đồng ý, và sau khoảng 5 phút, H đã xuất tinh vào trong âm đạo của A Sau khi mặc quần áo, H đã đưa điện thoại Vivo cho A để xóa các video và ảnh khỏa thân Tuy nhiên, vào ngày 18/8/2017, H không liên lạc được với A, và sáng ngày 19/8/2017, H nhắn tin cho A thông báo rằng vẫn còn đoạn video quay cảnh.

H và A đã có quan hệ tình dục, nhưng H yêu cầu A tiếp tục Nhận thấy tình huống không ổn, A đã thông báo cho gia đình và đến công an phường M để trình báo sự việc.

Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy đã truy tố Phan Đức H về tội hiếp dâm, tuy nhiên, qua phân tích, H còn phạm thêm tội cưỡng dâm H đã dùng vũ lực để thực hiện hành vi hiếp dâm ba lần với cháu Nguyễn Thục A, trong đó hai lần đầu H cưỡng ép A trái ý muốn Đặc biệt, H đã ghi lại hình ảnh khỏa thân của A và đe dọa phát tán, buộc A phải tiếp tục quan hệ với H Hành vi này cho thấy H đã lợi dụng tình trạng quẫn bách của A, tạo thành dấu hiệu định tội của tội cưỡng dâm Việc Viện kiểm sát chỉ truy tố về tội hiếp dâm và tòa án chỉ xét xử H về tội này là bỏ sót tội danh Do đó, tòa án cần yêu cầu điều tra bổ sung về hành vi cưỡng dâm để đảm bảo đúng quy định pháp luật.

Trong vụ án này, sự nhầm lẫn giữa tội hiếp dâm và tội cưỡng dâm xuất phát từ tính chất phức tạp của vụ việc Với sự phát triển của xã hội, tội phạm hiếp dâm ngày càng trở nên tinh vi và nguy hiểm hơn, khi người phạm tội có thể thực hiện nhiều hành vi với một hoặc nhiều nạn nhân Các dấu hiệu hành vi giữa hai tội này có sự tương đồng, dễ dẫn đến hiểu nhầm Bên cạnh đó, các cơ quan có thẩm quyền trong tố tụng thường hiểu một cách tùy tiện về các dấu hiệu định tội, không xem xét kỹ lưỡng các tình tiết và diễn biến của vụ án, cũng như chưa đánh giá đầy đủ ý thức chủ quan của cả nạn nhân và bị cáo Điều này dẫn đến việc định tội danh sai hoặc bỏ sót tội trong một số vụ án.

Quy định của pháp luật hình sự hiện nay chưa rõ ràng và chính xác, gây khó khăn trong việc áp dụng vào thực tiễn để xác định tội danh Một ví dụ điển hình là khoản 8 Điều 3 của Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP, trong đó giải thích dấu hiệu định tội "thủ đoạn khác".

Theo quy định tại khoản 1 Điều 141 và khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự, các thủ đoạn như hứa hẹn tốt nghiệp, đi học, thi đấu, hay biểu diễn ở nước ngoài để thực hiện hành vi giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác có thể dẫn đến sự nhầm lẫn giữa tội hiếp dâm và tội cưỡng dâm Cần lưu ý rằng tội cưỡng dâm xảy ra khi nạn nhân bị phụ thuộc vào người phạm tội về lợi ích vật chất, dẫn đến việc họ miễn cưỡng tham gia vào hành vi tình dục.

Nạn nhân có quyền quyết định hành vi của mình, không đồng ý với yêu cầu của người phạm tội, nhưng nếu ý thức phản kháng không rõ ràng, sẽ khó thể hiện sự "trái ý muốn" Một trong những nguyên nhân gây ra sự khác biệt trong cách hiểu và áp dụng pháp luật giữa các cơ quan tố tụng là do kỹ năng lập pháp còn hạn chế Để đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, ngôn ngữ trong văn bản quy phạm pháp luật cần phải chính xác, dễ hiểu và mang tính phổ thông.

Ngoài ra, còn một số khó khăn, vướng mắc khác cũng ảnh hưởng đến việc định tội danh là:

Nạn nhân đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tội danh của người phạm tội trong các vụ án hiếp dâm Tuy nhiên, do tính nhạy cảm của vụ việc, việc yêu cầu nạn nhân hợp tác với cơ quan chức năng để cung cấp thông tin cần thiết gặp nhiều khó khăn Nạn nhân thường không thể cung cấp lời khai rõ ràng hoặc có thể che giấu các tình tiết liên quan đến vụ án, điều này gây trở ngại cho quá trình điều tra và xác định tội phạm.

Việc thu thập chứng cứ không kịp thời và đầy đủ sẽ gây khó khăn trong việc xác định rõ dấu hiệu phạm tội, dẫn đến việc định tội danh không chính xác hoặc thậm chí không thể khởi tố người phạm tội.

Một số vụ án liên quan đến hành vi hiếp dâm người cùng giới tính hoặc đối tượng là người chuyển đổi giới tính gặp khó khăn do sự không thống nhất trong cách hiểu các văn bản hướng dẫn Điều này dẫn đến nhiều quan điểm khác nhau giữa các cấp xét xử, làm cho một số vụ án kéo dài do phải gia hạn và trả hồ sơ điều tra bổ sung để thay đổi tội danh.

Trong các vụ án hiếp dâm, việc xác định lỗi của người phạm tội gặp nhiều khó khăn, đặc biệt khi nạn nhân là người từ 16 tuổi trở lên nhưng có bệnh tâm thần hoặc thiểu năng trí tuệ, không nhận thức được hành vi Một số trường hợp, người phạm tội có thể biết nạn nhân bị bệnh nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội Khó khăn trong việc thu thập chứng cứ trực tiếp từ cơ thể nạn nhân thường xảy ra do tâm lý e ngại của phụ nữ trong việc thực hiện giám định pháp y Hơn nữa, nạn nhân thường thiếu hiểu biết pháp luật, dẫn đến việc vô tình làm mất chứng cứ quan trọng như vết tinh dịch hay các vật chứng khác Bên cạnh đó, trình độ chuyên môn và tinh thần trách nhiệm của một số cơ quan chức năng trong việc xử lý thông tin tố giác tội phạm cũng chưa cao, ảnh hưởng đến việc thu thập và đánh giá chứng cứ một cách khách quan và toàn diện.

Những vướng mắc trong quá trình quyết định hình phạt

Quá trình quyết định hình phạt thường gặp nhiều vướng mắc hơn so với định tội danh, vì nó phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Hội đồng xét xử Họ xác định mức hình phạt cho bị cáo dựa trên khung hình phạt quy định, dẫn đến sai lầm thường xuất phát từ quan điểm cá nhân của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Hàng năm, số lượng án bị hủy do sai tội danh ít hơn so với án bị sửa hoặc hủy do sai sót trong quyết định hình phạt.

Một số Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm có thể xác định không chính xác các giai đoạn thực hiện tội phạm, dẫn đến việc đánh giá chủ quan về các trường hợp phạm tội chưa đạt và tội phạm đã hoàn thành Điều này có thể dẫn đến quyết định hình phạt không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.

Ví dụ: Vào chiều tối ngày 26/10/2020 bà Võ Hồng V (sinh năm 1971) tổ chức tiệc nhậu ở nhà tại khóm 2, thị trấn Đ D, huyện Đ D gồm: Bà V, Lý Ngọc N (sinh năm

1994), Đào Khánh Ly, Đào Hoài Ly, ông Nguyễn Xuân Thái, ông Nguyễn Thanh

Sơn, ông Huấn và bà Loan, đến khoảng 01 giờ ngày 27/10/2020 thì nghỉ nhậu Khánh

N và Hoài Ly rủ nhau về nhà ở ấp Tân Long B, xã Tân Dân, nhưng N không có xe nên xin ngủ nhờ ở nhà bà V, nhưng bà không đồng ý Sau khi bà V khóa cửa và đi ngủ, N nảy sinh ý định đột nhập vào nhà bà N để lại đồ đạc bên ngoài, lấy kéo cắt thủng lỗ thiếc ở cửa sau, mở chốt khóa và vào trong nhà Tắt đèn, N tiến vào buồng ngủ của bà V, nằm cạnh và có hành vi sàm sỡ bà.

Bà V ngủ không hay biết gì nên N lấy cây kéo cắt từ hai ống vòng qua đáy quần của bà

V Sau đó, N tiếp tục lên giường nằm ôm, dùng tay sờ vào bộ phận sinh dục của bà V với ý định thực hiện việc giao cấu Bà V thức giấc, theo phản xạ, bà V dùng chân đạp (hất) ngang làm N ngã xuống nền nhà, N liền lăn vào sàn giường trốn; bà V đi ra ngoài kiểm tra đóng cửa, vào buồng thay quần và lên giường nằm xem điện thoại. Nghi ngờ nên bà V mở đèn flash điện thoại rọị kiểm tra thì phát hiện N nằm dưới gầm giường nên chạy ra ngoài truy hô N bỏ chạy ra khỏi nhà của bà V và đi bộ về nhà của mình Theo bản án hình sự phúc thẩm số: 90/2021/HS-PT ngày 11 – 11 – 2021 của Tòa án nhân tỉnh Cà Mau Hội đồng xét xử đã áp dụng khoản 1 Điều 141, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 48 của BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo N 02 (hai) năm tù về tội hiếp dâm.

Trong vụ án này, bị cáo N có mục đích giao cấu với bị hại V Tuy nhiên, hành vi phạm tội không thể thực hiện hoàn toàn và bị cáo không đạt được mục đích của mình do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn.

Bà V phát hiện N đang ở trong nhà bà và bỏ chạy ra ngoài, truy hô Như vậy, trường hợp của N là phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15 BLHS năm 2015 Hội đồng xét xử không xác định N phạm tội chưa đạt và không áp dụng Điều 15, Điều 52 BLHS năm 2015 khi quyết định hình phạt đối với N là thiếu sót.

Hội đồng xét xử phúc thẩm đã không phân tích hành vi khách quan của bị cáo và không đánh giá đúng mức độ, tính chất của hành vi phạm tội Kinh nghiệm và trình độ chuyên môn của Hội đồng còn hạn chế, dẫn đến việc không xem xét trường hợp phạm tội chưa hoàn thành trong vụ án này, từ đó dẫn đến việc xét xử bị cáo theo trường hợp tội phạm đã hoàn thành.

 Thứ hai, chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định sai tình tiết định khung hình phạt dẫn đến quyết định hình phạt sai lầm.

BLHS quy định các tình tiết định khung hình phạt để làm căn cứ quyết định hình phạt cho từng trường hợp phạm tội Mức hình phạt được xác định dựa trên hành vi phạm tội, tình tiết vụ án, và tính chất, mức độ của hành vi đó Việc xác định chính xác tình tiết định khung hình phạt là rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng lớn đến hình phạt mà người phạm tội phải chịu Sai sót trong việc xác định tình tiết này có thể dẫn đến mức hình phạt chênh lệch và ảnh hưởng đến quyền lợi của cả người phạm tội và nạn nhân Thực tế cho thấy, có nhiều trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã xác định sai tình tiết định khung hình phạt, dẫn đến quyết định hình phạt không chính xác.

Vào khoảng 01 giờ ngày 30/5/2014, Nguyễn Thế A, sinh năm 1992, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47L1-09.499 từ phòng trọ ở Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đến huyện K Khi đến gần ngã ba đường D - G, Thế A thấy chị Đỗ Thị Thùy D, sinh năm 1990, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81K4-2176 đi ngược chiều Thế A đã quay xe và yêu cầu chị D dừng lại để hỏi chuyện, nhưng chị D không dừng do thấy người lạ Thế A đã ép xe của mình vào xe chị D để buộc chị dừng lại.

Thế A đã rút chìa khóa xe của chị D và khống chế chị đi bộ vào một đoạn đường P tối tăm, vắng người Tại đây, hắn dùng búa đóng đinh để đe dọa, cướp đi chiếc điện thoại Iphone 4 của chị D và thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn Sau khi hoàn thành hành vi hiếp dâm, Thế A đã nói với chị D.

“Mày không làm cho tao sướng thì phải vào nhà nghỉ làm cho tao sướng” và buộc chị

Thế A điều khiển xe mô tô với tốc độ chậm, di chuyển từ đường X sang đường Đ Anh đã đưa chìa khóa xe cho chị D để chị D lái xe chậm ở phía trước, trong khi Thế A đi theo cách khoảng 2-3m và chỉ đường cho chị Trên hành trình, Thế A đã trò chuyện với chị D.

"Nếu có ý định bỏ chạy thì sẽ có người theo giết, và nếu có ý định gì thì đừng trách." Khi đến cổng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Lắk, Thế A đã nhanh chóng gửi xe tại nhà xe của bệnh viện Cùng lúc đó, chị D điều khiển xe đến gần cổng đài tưởng niệm đối diện Bệnh viện tỉnh Đắk Lắk.

Thế A đang chạy bộ đến, trong khi chị D khai rằng không biết Thế A gửi xe tại bệnh viện Trên đường đi, Thế A đã đe dọa chị D rằng nếu quay đầu lại sẽ bị giết Thế A còn giật lấy tay lái xe và buộc chị D ngồi phía sau, liên tục đe dọa trong suốt quãng đường.

Nguyễn Thế A đã bị cáo buộc và kết án về tội hiếp dâm và cướp tài sản sau khi có hành vi đe dọa và cưỡng bức chị D Mặc dù chị D đã van xin và cầu cứu, Thế A vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội Ngày 31/5/2014, chị D đã làm đơn tố cáo, dẫn đến bản án hình sự sơ thẩm số 46/2016/HSST, tuyên phạt Thế A tổng cộng 12 năm tù Sau đó, vào ngày 17/3/2016, Thế A kháng cáo, nhưng tại bản án phúc thẩm số 239/2016/HSPT, hình phạt của hắn được giảm còn 6 năm tù cho cả hai tội danh.

Ngày 08/5/2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã ban hành Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 34/2017/KN-HS-VC2, yêu cầu Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm Quyết định này nhằm mục đích hủy một phần Bản án hình sự phúc thẩm số 239/2016/HSPT ngày 06/7/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk liên quan đến tội “Hiếp dâm” do mức hình phạt không phù hợp.

Kiến nghị hoàn thiện quy định về tội hiếp dâm

Kiến nghị sửa đổi một số quy định của Điều 141 BLHS năm 2015

Để đảm bảo quyết định hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cần sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 4 Điều 141 BLHS năm 2015 Việc này nhằm nâng cao kỹ năng lập pháp, bảo đảm tính công bằng và nguyên tắc hình phạt phải tương xứng với hành vi phạm tội.

Chuyển đoạn 1 khoản 4 Điều 141 thành khoản 2 Điều 141:

2 Người nào phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm

Sửa khoản 2 Điều 141 thành khoản 3 Điều 141, khoản 3 Điều 141 thành khoản

4 Điều 141, khoản 5 Điều 141 thành khoản 6 Điều 141.

Sửa khoản 4 Điều 141 thành khoản 5 Điều 141 và sửa đổi, bổ sung theo hướng tăng khung hình phạt như sau:

5 Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi: a) Và phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm b) Và phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Vào thứ hai, đã có sự bổ sung tình tiết định khung về việc cố ý làm lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục cho nạn nhân, kèm theo văn bản hướng dẫn áp dụng cho tình tiết này.

Ngoài các bệnh do virus HIV gây ra, theo Quyết định 4568/QĐ-BYT ngày 14-11-2013 của Bộ Y tế, các bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến bao gồm giang mai, lậu, nhiễm Chlamydia trachomatis, hạ cam, hột xoài, u hạt bẹn hoa liễu, viêm âm đạo do vi khuẩn, sùi mào gà, herpes sinh dục, u mềm lây, nhiễm Cytomegalovirus, viêm gan B, viêm âm hộ - âm đạo do Candida, viêm âm đạo do trùng roi, ghẻ và rận mu Những bệnh này có thể để lại hậu quả nghiêm trọng, không thể điều trị dứt điểm, dẫn đến tình trạng mãn tính, viêm vùng chậu, viêm tinh hoàn, viêm tử cung, viêm buồng trứng, viêm phần phụ, gây sẩy thai, vô sinh, và thậm chí là ung thư dương vật và ung thư cổ tử cung nếu nhiễm virus HPV kéo dài.

Việc lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là viêm gan B, có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như xơ gan, ung thư gan, và ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ em nếu lây truyền từ mẹ Nạn nhân của hành vi hiếp dâm từ người nhiễm HIV sẽ phải đối mặt với nguy cơ suy giảm hệ miễn dịch, đe dọa tính mạng Pháp luật hình sự Việt Nam đã quy định tăng nặng hình phạt đối với những kẻ cố tình lây nhiễm HIV, và cần có quy định tương tự cho các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác nhằm bảo vệ quyền lợi của nạn nhân và đảm bảo công bằng trong việc xử lý tội phạm.

Nên tìm hiểu và nắm vững quy định của luật hình sự Liên bang Nga liên quan đến vấn đề này Cụ thể, điểm c khoản 2 Điều 131 của Bộ luật Hình sự Liên bang Nga năm 1996 (đã được sửa đổi, bổ sung) cần được chú ý để đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật.

Theo quy định tại Điều 141 BLHS năm 2015, người phạm tội lây truyền bệnh hoa liễu cho nạn nhân sẽ bị áp dụng khung hình phạt tăng nặng, với mức án từ 7 đến 15 năm tù Nghiên cứu cho thấy việc bổ sung tình tiết định khung này là hợp lý nhằm đảm bảo tính răn đe và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Cần làm rõ việc lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục cho nạn nhân, không chỉ giới hạn ở bệnh do vi rút HIV, và bổ sung tình tiết định khung vào khoản 2 Điều 142 BLHS liên quan đến tội hiếp dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi Để đảm bảo tính chính xác trong tố tụng, cần liệt kê các bệnh lây truyền qua đường tình dục nguy hiểm như lậu, giang mai, herpes sinh dục, viêm gan siêu vi B, và sùi mào gà.

Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP dựa theo sự hướng dẫn của Bộ Y tế.

 Th ứ ba, bổ sung thêm hình phạt bổ sung “Quản chế” cho tội hiếp dâm để tăng cường hiệu quả phòng, chống tội phạm của hình phạt bổ sung.

Hình phạt bổ sung “Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định” hiện nay có phạm vi áp dụng hẹp, chỉ dành cho những người phạm tội có chức vụ và nghề nghiệp ổn định trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Điều này dẫn đến việc quy định không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn trong việc áp dụng hình phạt bổ sung Để nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm, luật hình sự Việt Nam cần học hỏi kinh nghiệm từ Cộng hòa Liên bang Nga và bổ sung hình phạt “Quản chế” cho những trường hợp không thể áp dụng hình phạt hiện tại Do đó, cần sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 141 cho phù hợp.

6 Người phạm tội có thể bị cấm đảm nhệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; hay bị quản chế từ 01 năm đến 05 năm”. Đồng thời Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP sẽ bổ sung hướng dẫn đối với những trường hợp áp dụng hình phạt bổ sung “Quản chế” theo định hướng như sau: Hình phạt bổ sung quản chế được áp dụng đối với những trường hợp cần cách ly người phạm tội ra khỏi môi trường có thể tái phạm, hoặc những trường hợp đã tái phạm như:

- Phạm tội đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

- Phạm tội 02 lần trở lên;

- Phạm tội với 02 người trở lên;

- Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.

Ngày đăng: 27/10/2022, 16:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH SỰ VIỆT NAM - Luận văn Tội hiếp dâm theo quy định của luật hình sự Việt Nam
HÌNH SỰ VIỆT NAM (Trang 1)
Bảng thống kê những hình phạt áp dụng đối với các bị cáo phạm tội hiếp dâm trong 100 vụ án hiếp dâm do nhiều tòa án khác nhau xét xử giai đoạn năm - Luận văn Tội hiếp dâm theo quy định của luật hình sự Việt Nam
Bảng th ống kê những hình phạt áp dụng đối với các bị cáo phạm tội hiếp dâm trong 100 vụ án hiếp dâm do nhiều tòa án khác nhau xét xử giai đoạn năm (Trang 60)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w