Việt Nam hội nhập thơng mại tự do ASEAN -
Nội dung cơ bản của AFTA , cơ chế CEPT
Để thành công trong việc thiết lập khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), các bộ trưởng kinh tế ASEAN đã họp và ký hiệp định về thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) vào năm 1992 CEPT là thỏa thuận giữa các nước thành viên ASEAN nhằm giảm thuế quan trong thương mại nội bộ xuống còn 0-5%, đồng thời loại bỏ tất cả các hạn chế định lượng và hàng rào phi thuế quan trong vòng 10 năm, bắt đầu từ 01/01/1993 và hoàn thành vào 01/01/2003 Do đó, việc cắt giảm thuế quan, loại bỏ hàng rào cản thương mại và hợp tác trong lĩnh vực hải quan là những yếu tố quan trọng và không thể tách rời trong việc xây dựng khu vực thương mại tự do.
Hiệp định CEPT áp dụng cho tất cả các sản phẩm chế tạo, bao gồm cả sản phẩm cơ bản và nông sản, trừ những hàng hóa được các nước đưa vào danh mục loại trừ hoàn toàn theo Điều 9 của Hiệp định.
1.1 Các danh mục sản phẩm và tiến trình giảm thuế theo kế hoạch CEPT
Các sản phẩm trong danh mục giảm thuế sẽ trải qua hai tiến trình: giảm bình thường và giảm nhanh Đối với giảm bình thường, sản phẩm có thuế suất trên 20% sẽ giảm xuống 20% từ 01/01/1998 và tiếp tục giảm xuống 0-5% vào 01/01/2003 Trong khi đó, sản phẩm có thuế suất dưới 20% sẽ được giảm xuống 0-5% vào 01/01/2000 Đối với tiến trình giảm thuế nhanh, sản phẩm có thuế suất trên 20% sẽ giảm xuống 0-5% vào 01/01/2000, và các sản phẩm có thuế suất bằng hoặc thấp hơn 20% sẽ được giảm xuống 0-5% từ 01/01/1998.
* Danh mục các sản phẩm tạm thời cha giảm thuế:
Các quốc gia thành viên ASEAN đang gặp khó khăn trong việc hoạch định chính sách tự do hóa thương mại, cần thời gian ổn định cho các lĩnh vực cụ thể nhằm tiếp tục các chương trình đã đề ra trước khi tham gia kế hoạch CEPT Hiệp định CEPT cho phép các nước thành viên đưa ra một số mặt hàng tạm thời chưa thực hiện tiến trình giảm thuế Các sản phẩm trong danh mục tạm thời sẽ không được hưởng nhượng bộ từ các nước thành viên Tuy nhiên, danh mục này chỉ mang tính chất tạm thời và sau 5 năm, các quốc gia phải đưa toàn bộ sản phẩm vào danh mục cắt giảm thuế.
Lịch trình chuyển đổi các sản phẩm từ danh mục loại trừ tạm thời sang danh mục cắt giảm thuế được quy định là hoàn tất trong vòng 5 năm, từ ngày 01/01/1996 đến 01/01/2000 Mỗi năm, 20% số sản phẩm trong danh mục loại trừ tạm thời sẽ được chuyển sang danh mục cắt giảm thuế.
* Danh mục loại trừ hoàn toàn:
Danh mục này bao gồm các sản phẩm không tham gia Hiệp định, yêu cầu những sản phẩm này không gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, đạo đức xã hội, sức khỏe con người, động thực vật, cũng như việc bảo tồn các giá trị văn hóa, nghệ thuật và di tích lịch sử, khảo cổ Việc cắt giảm thuế và xóa bỏ các biện pháp phi thuế quan đối với những mặt hàng này sẽ không được xem xét theo Chương trình CEPT.
* Danh mục nhạy cảm của hàng nông sản cha qua chế biÕn:
Theo Hiệp định CEPT-1992 , sản phẩm nông sản cha qua chế biến không đợc đa vào thực hiện kế hoạch CEPT.
Theo Hiệp định CEPT sửa đổi năm 1994, sản phẩm nông sản chưa qua chế biến được phân loại thành ba danh mục: danh mục giảm thuế, danh mục loại trừ tạm thời và danh mục đặc biệt dành cho các sản phẩm nông sản chế biến nhạy cảm.
Hàng nông sản chưa qua chế biến sẽ được chuyển vào chương trình cắt giảm thuế nhanh hoặc cắt giảm bình thường từ ngày 01/01/1996, với mức thuế giảm xuống còn 0-5% vào ngày 01/01/1998 Các sản phẩm trong danh mục tạm thời loại trừ hàng nông sản chưa chế biến sẽ được chuyển sang danh mục cắt giảm thuế trong vòng 5 năm, từ 01/01/1998 đến 01/01/2003, với mức giảm 20% mỗi năm.
Các sản phẩm nhạy cảm được phân thành hai danh mục: mặt hàng nông sản chưa qua chế biến nhạy cảm và mặt hàng nông sản chưa qua chế biến nhạy cảm cao Quy định về cơ chế cắt giảm thuế quan cho các mặt hàng này bao gồm thời gian bắt đầu và kết thúc cắt giảm thuế, cùng với thuế suất cuối cùng cần đạt được Hiện tại, các quy định này đang được xác định dần.
1.2 Cơ chế trao đổi nhợng bộ của kế hoạch CEPT:
Những nhợng bộ khi thực hiện CEPT của các quốc gia đợc trao đổi trên nguyên tắc có đi có lại.
Muốn hởng nhợng bộ về thuế quan khi xuất khẩu hàng hoá trong khối, một sản phẩm cần có điều kiện sau:
Sản phẩm cần được cắt giảm thuế phải thuộc danh mục của cả nước xuất khẩu và nước nhập khẩu, đồng thời mức thuế nhập khẩu phải bằng hoặc thấp hơn 20%.
- Sản phẩm đó phải có chơng trình cắt giảm thuế đ- ợc Hội đồng AFTA thông qua.
Sản phẩm cần phải thuộc khối ASEAN, nghĩa là phải đáp ứng yêu cầu về hàm lượng xuất xứ từ các quốc gia thành viên ASEAN, với tỷ lệ tối thiểu là 40%.
Giá trị nguyên vật liệu, bộ phận và sản phẩm nhập khẩu từ các quốc gia không phải là thành viên ASEAN được xác định theo giá CIF tại thời điểm nhập khẩu Đối với những nguyên vật liệu, bộ phận và sản phẩm không xác định được xuất xứ xuất khẩu, giá trị sẽ được tính dựa trên giá xác định ban đầu trước khi đưa vào chế biến tại lãnh thổ của quốc gia xuất khẩu, nếu quốc gia đó là thành viên của ASEAN.
Nếu sản phẩm đủ điều kiện, nó sẽ nhận được tất cả các ưu đãi mà quốc gia nhập khẩu cung cấp Điều này có nghĩa là sản phẩm sẽ được hưởng ưu đãi hoàn toàn Tuy nhiên, nếu sản phẩm không đáp ứng một số yêu cầu nhưng có mức thuế quan nhập khẩu bằng hoặc thấp hơn, thì vẫn có khả năng nhận được một số ưu đãi nhất định.
Khi sản phẩm có thuế suất trên 20%, nó chỉ được hưởng thuế suất CEPT cao hơn 20% trước đó hoặc thuế suất MFM, tùy thuộc vào thuế suất nào thấp hơn Để xác định các sản phẩm đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan theo chương trình CEPT, hàng năm, mỗi nước thành viên sẽ xuất bản tài liệu trao đổi ưu đãi CEPT, trong đó nêu rõ thuế suất của các sản phẩm theo CEPT và danh sách các sản phẩm đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan từ các nước thành viên khác.
2 Các hạn chế định lợng (QR) và các rào cản phi thuế quan khác (NTBs)
Để thiết lập khu vực thương mại tự do, việc loại bỏ các hạn chế về số lượng nhập khẩu và rào cản phi thuế quan là rất quan trọng Các hạn chế này có thể được điều chỉnh dễ dàng, vì vậy cần quy định loại bỏ ngay đối với các mặt hàng trong chương trình CEPT, nhằm hưởng các nhượng bộ từ các nước thành viên khác.
Tác động của AFTA đối với hoạt động thơng mại quốc tế của Việt Nam
1 Tác động tới thơng mại và cơ cấu sản xuất
Tham gia AFTA có tác động trực tiếp đến thương mại, từ đó ảnh hưởng đến sản xuất trong nước Việc đánh giá tác động của AFTA đối với các ngành sản xuất Việt Nam thực chất là xem xét khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam so với hàng hóa của các nước ASEAN và thị trường ngoài ASEAN.
Khả năng cạnh tranh của hàng hóa chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố, trong đó chất lượng, chủng loại, mẫu mã và giá cả là những yếu tố then chốt Tham gia AFTA sẽ tác động trực tiếp đến giá cả hàng hóa nhờ vào việc cắt giảm và đơn giản hóa các thủ tục buôn bán, dẫn đến giá cả giảm xuống Ngoài ra, chất lượng và mẫu mã cũng sẽ được cải thiện do áp lực cạnh tranh trong khu vực AFTA.
Việc hình thành AFTA đã góp phần quan trọng vào việc xoá bỏ thuế nhập khẩu giữa các nước ASEAN, tuy nhiên vẫn giữ nguyên thuế nhập khẩu đối với các nước ngoài khối Điều này có thể dẫn đến những hậu quả đáng kể cho nền kinh tế trong khu vực.
- Phân bố lại luồng buôn bán giữa các nớc ASEAN.
- Do các luồng buôn bán nội bộ khu vực thay đổi nên buôn bán với bên ngoài khu vực cũng thay đổi.
- Làm thay đổi các luồng đầu t, hình thành sự chuyên môn hóa sản xuất và phân bố các ngành sản xuất khác so víi tríc.
- Tạo một sự kiểm soát và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nớc thuộc AFTA trong buôn bán nội bộ và hình thành một t- ơng quan mới bên ngoài.
Tác động của khu vực thương mại tự do (FTA) sẽ rõ ràng nhất khi các nước thành viên có trình độ phát triển kinh tế và cơ cấu kinh tế tương đồng Trong trường hợp này, tính cạnh tranh sẽ mạnh mẽ và sự thay đổi hàng rào thuế quan sẽ có ảnh hưởng quyết định Ngược lại, nếu cơ cấu kinh tế của các nước thành viên khác nhau và bổ sung cho nhau, với sự chuyên môn hóa sản xuất đã tồn tại trước khi hình thành AFTA, thì tác động của FTA sẽ không đáng kể.
Xu hướng phân bổ sản xuất diễn ra từ những khu vực có giá cao đến những nơi có giá thấp Khi mức chênh lệch giá lớn, sự di chuyển sản xuất sẽ gia tăng, đặc biệt khi các rào cản thương mại được gỡ bỏ Do đó, các quốc gia thành viên FTA sẽ trao đổi hàng hóa với nhau, trong khi hàng hóa từ nước thứ ba ngoài FTA, mặc dù có giá thành tương đương, lại bị ngăn cản bởi rào cản thuế quan.
Những tác động cụ thể đối với Việt Nam về lĩnh vực thơng mại và cơ cấu sản xuất nh sau:
Hiện nay, ASEAN bao gồm 10 quốc gia với tổng dân số vượt 500 triệu người, tạo ra một thị trường lớn Điều này giúp Việt Nam khai thác tiềm năng lao động và tài nguyên phong phú, từ đó thúc đẩy sự phát triển của ngành xuất khẩu.
Trong những năm gần đây, kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và các nước ASEAN đã tăng trưởng mạnh mẽ, đạt gần 30% mỗi năm Doanh số này hiện chiếm một phần ba tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam.
Câu hỏi đặt ra là liệu AFTA có làm tăng đáng kể tỷ trọng kim ngạch buôn bán của Việt Nam với ASEAN hay không, và nếu có, điều này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến sản xuất trong nước Để tìm ra câu trả lời, cần phân tích cụ thể cơ cấu buôn bán của Việt Nam với các quốc gia trong khối ASEAN.
Việt Nam luôn ở thế nhập siêu trong cán cân buôn bán với ASEAN, mặc dù xuất khẩu, đặc biệt là dầu thô sang Singapore, có sự tăng trưởng Tuy nhiên, triển vọng gia tăng xuất khẩu sang các nước ASEAN vẫn chưa có dấu hiệu thay đổi mạnh do cơ cấu mặt hàng xuất khẩu hiện tại.
Việt Nam xuất khẩu sang các nước ASEAN chủ yếu các mặt hàng như dầu thô, gạo, đậu, và cao su, trong đó nhiều sản phẩm nông sản chưa chế biến được coi là nhạy cảm, dẫn đến việc chậm giảm thuế Mặc dù một số mặt hàng nông sản đã được bổ sung vào CEPT để giảm thuế, nhưng tỷ trọng vẫn rất nhỏ so với kim ngạch xuất khẩu chủ yếu là dầu thô và nông sản chưa chế biến CEPT chủ yếu kích thích ngành công nghiệp chế biến nhờ vào việc cắt giảm thuế suất cho các mặt hàng này, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các nước phát triển hơn như Singapore và Malaysia khi các rào cản thuế quan và phi thuế quan được giảm bớt.
Sau khi thực hiện AFTA, sự chênh lệch giữa mức thuế hiện tại và thuế suất dưới 5% đối với các mặt hàng công nghiệp chế biến mà Việt Nam có khả năng tăng cường xuất khẩu trong tương lai gần như đồ nhựa, da, cao su và dệt may không đáng kể.
Lợi ích mà Việt Nam thu được từ AFTA hiện nay còn hạn chế, đặc biệt khi cơ cấu xuất khẩu chưa chuyển dịch mạnh mẽ sang các sản phẩm công nghiệp chế biến Nếu có sự chuyển biến này, việc cắt giảm thuế có thể kích thích doanh nghiệp sản xuất cho xuất khẩu Tuy nhiên, sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường ASEAN vẫn yếu, do sản phẩm công nghiệp tương tự và công nghệ còn thua kém Việt Nam chỉ có thể cạnh tranh dựa vào sự độc đáo về chủng loại và mẫu mã Do đó, việc giảm thuế nhập khẩu từ các nước ASEAN chưa đủ để tăng cường sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam Đối với thị trường ngoài ASEAN, AFTA giúp giảm giá thành sản xuất nhờ vào việc mua nguyên liệu với giá thấp hơn từ các nước ASEAN, nhưng các nước này cũng hưởng lợi tương tự khi xuất khẩu hàng hóa ra thế giới.
Việt Nam chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu từ ASEAN để phục vụ sản xuất, bao gồm nhôm, hóa chất và hàng điện tử Hơn 50% nhóm hàng thuế suất nhập khẩu hiện có mức thấp hơn 5%, bao gồm các sản phẩm thiết yếu cho sản xuất và tiêu dùng.
Cơ cấu sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam tương đồng với một số nước ASEAN, với nhiều mặt hàng cạnh tranh trên thị trường, như nông sản chưa chế biến và phương tiện giao thông Tuy nhiên, sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam còn yếu kém về chất lượng, chủng loại và số lượng, tạo điều kiện cho các nước ASEAN chiếm lĩnh thị phần tại Việt Nam Việc áp dụng AFTA sẽ giúp tăng cường cạnh tranh về giá cả và thủ tục hải quan so với hàng hóa từ các nước ngoài khối Thị trường Việt Nam có tiềm năng lớn nhưng cũng đặt ra thách thức lớn cho hàng hóa nội địa, đặc biệt là trong bối cảnh hàng nhập khẩu đang tràn ngập, ảnh hưởng đến nhiều ngành công nghiệp nội địa Khi hàng rào bảo hộ giảm, sản xuất trong nước sẽ chịu áp lực lớn Tuy nhiên, việc gia nhập AFTA cũng tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam cải thiện năng lực cạnh tranh và xâm nhập thị trường quốc tế Do đó, Việt Nam cần giảm thuế quan theo lộ trình hợp lý, nhằm hỗ trợ cho các ngành có lợi thế so sánh trong xuất khẩu.
2 Tác động tới đầu t nớc ngoài:
Kinh tế các nước ASEAN có mối liên hệ chặt chẽ với các trung tâm công nghiệp và thương mại lớn như Mỹ, Nhật Bản và EU, nơi các công ty xuyên quốc gia tìm kiếm cơ hội đầu tư Trong những thập niên qua, các nước ASEAN đã đạt được sự phát triển kinh tế đáng kể, với một số quốc gia bắt đầu xuất khẩu vốn Tuy nhiên, tất cả các nước thành viên vẫn cần vốn đầu tư nước ngoài với mức độ khác nhau, phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật và khả năng huy động vốn của từng quốc gia Đặc biệt, việc thực hiện AFTA sẽ thúc đẩy dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam từ cả các nguồn trong và ngoài ASEAN Việt Nam mang lại thị trường tiềm năng lớn với chi phí nhân công thấp, lực lượng lao động dễ tiếp nhận công nghệ mới, vị trí địa lý thuận lợi và các ưu đãi tài chính hấp dẫn cho nhà đầu tư.
tình hình thực hiện CEPT- AFTA của Việt
Những cam kết thực hiện CEPT-AFTA
Việt Nam gia nhập ASEAN vào tháng 7 năm 1995 và ký Hiệp định CEPT khi các nước thành viên đã thực hiện được 3 năm Theo quy chế của ASEAN, thời hạn để Việt Nam hoàn thành quá trình tham gia AFTA sẽ muộn hơn 3 năm so với các nước khác, nghĩa là bắt đầu giảm thuế từ 01/01/1996 và kết thúc vào năm 2006 Các mặt hàng trong danh mục loại trừ tạm thời sẽ được chuyển dần sang danh mục cắt giảm thuế quan qua 5 bước, với mỗi bước áp dụng cho 20% số mặt hàng và bước đầu tiên bắt đầu từ năm 1998, kết thúc vào năm 2003.
Hiệp định CEPT, được các nước thành viên ký kết vào năm 1992, chỉ bắt đầu thực hiện từ ngày 01/01/1994, cho thấy các nước đã có khoảng thời gian 2 năm để chuẩn bị Đối với Việt Nam, thời gian chuẩn bị cho việc tham gia Hiệp định CEPT là không quá nửa năm, tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng Việt Nam đã có đủ thời gian chuẩn bị do đã là quan sát viên của ASEAN từ tháng trước đó.
Vào năm 1992, Việt Nam bắt đầu chuẩn bị tham gia ASEAN, nhưng thực tế chỉ đạo các Bộ, ngành để tham gia AFTA chỉ được đưa ra từ giữa năm 1995, dẫn đến việc chuẩn bị bị động Thời gian chuẩn bị này trở nên cấp bách khi các danh mục hàng hóa theo chương trình CEPT cần được đệ trình vào tháng 12/1995 Để phân tích rõ tình hình thực hiện AFTA của Việt Nam, cần làm rõ tổ chức tham gia thực hiện AFTA, được thực hiện thông qua nhiều yếu tố khác nhau.
1 Chơng trình u đãi thuế quan có hiệu lực chung CEPT.
2 Thống nhất và công nhận tiêu chuẩn hàng hóa giữa các nớc thành viên.
3 Công nhận việc xóa những quy định hạn chế đối với ngoại thơng.
4 Hoạt động t vấn kinh tế vĩ mô.
Và thực tiễn thực hiện AFTA của Việt Nam trong thời gian vừa qua cũng sẽ đợc phân tích cụ thể theo 3 lĩnh vực cho các ngành phụ trách:
Lĩnh vực cắt giảm thuế quan.
Lĩnh vực loại bỏ các hạn chế định lợng (Qrs) và các rào cản phi thuế quan khác (NTBs).
Lĩnh vực hợp tác hải quan.
Lĩnh vực cắt giảm thuế quan:
Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức trong việc xây dựng chương trình cắt giảm thuế quan theo Hiệp định CEPT khi tham gia khu vực thương mại tự do ASEAN, do xuất phát điểm kinh tế thấp hơn so với các quốc gia thành viên khác.
Bảng 1: Cơ cấu thuế suất của biểu thuế nhập khẩu Việt
Sè nhã m mặt hàng tû trọng (%)
Sè nhã m mặt hàng tû trọng (%)
Sè nhã m mặt hàng tû trọng (%)
8 Nguồn biểu thuế xuất nhập khẩu, Bộ tài chính
Trong hơn 3000 nhóm mặt hàng của Biểu thuế nhập khẩu Việt Nam, hơn một nửa đã phù hợp với mức thuế tiêu chuẩn của chương trình CEPT Điều này cho thấy Việt Nam chỉ cần thực hiện giảm thuế cho khoảng 50% tổng số nhóm mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu hiện hành.
So với các nước ASEAN khác, Việt Nam có tỷ lệ thuế suất từ 0%-5% cao hơn nhiều khi bắt đầu thực hiện chương trình cắt giảm thuế theo Hiệp định CEPT Cụ thể, Indonesia chỉ có 9% số nhóm mặt hàng có thuế suất dưới 5%, Thái Lan là 27% và Philippines là 32% Điều này mang lại thuận lợi cho Việt Nam trong việc thực hiện chương trình cắt giảm thuế quan theo quy định của Hiệp định CEPT.
Trong cơ cấu biểu thức nhập khẩu của Việt Nam, thuế suất thấp chủ yếu áp dụng cho nguyên vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất và xuất khẩu Tỷ trọng lớn của các thuế suất từ 0%-5% phản ánh nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu khi sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ Ngược lại, các mặt hàng xa xỉ phẩm và thiết bị có thuế suất trên 60% nhằm điều chỉnh tiêu dùng.
Tính đến ngày 01/01/1996, Việt Nam chỉ áp dụng một loại thuế chung cho hàng hóa nhập khẩu, đó là thuế nhập khẩu với mức thuế suất cao, đặc biệt đối với hàng hóa xa xỉ phẩm so với các nước khác.
Hiện nay, các nước ASEAN đóng góp khoảng 30% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam, trong khi thuế nhập khẩu từ khu vực này chiếm 1/4 tổng thu ngân sách Nếu thương mại giữa ASEAN và Việt Nam duy trì mức thuế chung 5% theo các chính sách hiện hành, nguồn thu từ thuế nhập khẩu đối với hàng hóa ASEAN sẽ giảm đáng kể.
Trong khuôn khổ CEPT/AFTA, Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu và phân loại các ngành sản xuất thành ba nhóm dựa trên khả năng cạnh tranh, ưu thế và tiềm năng, cũng như những khó khăn hiện tại Mục tiêu là xây dựng danh mục hàng hóa nhằm thực hiện chương trình cắt giảm thuế một cách hiệu quả, góp phần vào việc thực hiện AFTA.
Nhóm ngành hàng có thế mạnh xuất khẩu.
Nhóm các ngành hàng có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu trong tơng lai.
Nhóm các ngành có tiềm năng cạnh tranh kém.
1 Lịch trình giảm thuế cho các ngành hàng có thế mạnh xuất nhập khẩu: Đây là những nhóm hàng bao gồm những hàng mà trong thời gian trớc mắt những lợi thế so sánh của Việt Nam dựa trên nguồn tài nguyên đa dạng phong phú, nguồn dao động dồi dào, có thể tiếp thu tay nghề nhanh có thể tác dụng nhiều nhất Cụ thể là ngành hàng nông sản ( với các mặt hàng gạo, cà phê, chè hạt điều ), cao su sơ chế, thuỷ sản, dệt may.
Sau đây là một số mặt hàng cụ thể quan trọng trong nhóm các mặt hàng có thế mạnh xuất khẩu a Hàng nông sản:
Lịch trình dựa vào tham gia CEPT của gạo
Mặc dù gạo là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, nhưng việc mở rộng thị trường xuất khẩu là cần thiết và cần thực hiện CEPT theo lịch trình sớm nhất có thể vì nhiều lý do quan trọng.
Mặt hàng này cần sự quản lý chặt chẽ từ Nhà nước về cung cầu và giá cả trên thị trường trong nước, do nó có ảnh hưởng trực tiếp đến đại bộ phận dân cư, đặc biệt là nông dân.
Bảo hộ nông dân là cần thiết và nên được duy trì trong nhiều năm tới để đảm bảo sự ổn định cho ngành nông nghiệp, tránh những rủi ro không lường trước trong cả quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Để ngăn chặn sự xâm nhập của gạo Thái Lan, đặc biệt là loại gạo chất lượng cao vào thị trường Việt Nam, cần lưu ý rằng Thái Lan là quốc gia dẫn đầu trong xuất khẩu gạo trong khu vực ASEAN và đã đưa mặt hàng này vào thực hiện CEPT.
Thành tựu thách thức và triển vọng
Hợp tác thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và ASEAN đã trở thành một chủ đề nổi bật trong các đánh giá về thành tựu kinh tế trong 5 năm qua Các quốc gia ASEAN hiện đang là những đối tác thương mại và nhà đầu tư quan trọng hàng đầu của Việt Nam.
Kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và ASEAN 1995-99 Đơn vị (tỷ USD)
N¨m XuÊt khÈu NhËp khẩu Tỷ lệ so với tổng kim ngạch của Việt Nam so với thế giới
Nguồn : Thực tại hợp tác kinh tế Việt Nam-ASEAN, nhng thuận lợi và trở ngại Hội thảo 5 Việt Nam tham gia ASEAN, Học viên Quan hệ quèc tÕ, 20/6/2000.
Năm 1995, tổng giá trị buôn bán giữa Việt Nam và ASEAN đạt 3,490 tỷ USD, chiếm 23,9% tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam với toàn cầu Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN là 1,12 tỷ USD, trong khi kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN là 2,378 tỷ USD.
Năm 1996, sau một năm Việt Nam gia nhập ASEAN, tổng kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và ASEAN đã đạt 4,152 tỷ USD, chiếm 33,4% tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam với thế giới, tăng gần 1,2 lần so với năm 1995 Trong những năm tiếp theo, kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và ASEAN tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ, thường xuyên vượt mức năm 1995, với xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN hàng năm tăng trưởng ở mức hai con số.
Thông qua việc áp dụng công nghệ sản xuất và quản lý tiên tiến, cùng với việc tham gia cạnh tranh, các ngành và doanh nghiệp Việt Nam đã cải thiện sức cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu Từ con số 0, hiện nay chúng ta đã có tới 200 mặt hàng được công nhận có khả năng tạo dựng vị thế trên thị trường quốc tế.
Hoạt động đầu t của các nớc ASEAN vào Việt Nam cũng khả quan. Đầu t của ASEAN vào Việt Nam ( tính đến 4/2000)
Nớc Số dự án Vốn đăng ký(triệu
Nguồn Việt Nam Investment Review, số 448/15-21 tháng 5/2000
Trong lĩnh vực thương mại, Việt Nam đang đối mặt với thách thức nhập siêu từ các đối tác ASEAN, mặc dù tổng kim ngạch xuất khẩu có tăng Nguyên nhân chính là do trình độ sản xuất còn hạn chế, khiến cho khả năng cạnh tranh của Việt Nam đối với các sản phẩm chế tạo so với các nước ASEAN-6 vẫn chưa đủ mạnh.
Năm 1995 nhập siêu là 1266 triệu USD, đạt tỷ lệ113,8%, năm 1996 là 1424 triệu USD (104,4%); năm 1997 là 1,255 triệu USD (67,5%), năm 1998 là 1377 triệu USD (58,1%) và năm 1999 là 825 triệu USD (33,5%).
Ngoài các yếu tố bất ổn chính trị, một số quốc gia ASEAN như Indonesia và Myanmar đang đối mặt với những biến động kinh tế nội bộ sau khủng hoảng, điều này tạo ra thách thức cho quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và ASEAN.
Trong bối cảnh phục hồi sau khủng hoảng, các nước Đông Nam Á đang có xu hướng trở lại với chính sách bảo hộ mậu dịch, dẫn đến việc giảm sút nỗ lực tự do hóa kinh tế và thương mại Sự trì hoãn trong việc thực hiện tiến trình AFTA đã diễn ra, ngoại trừ Thái Lan, quốc gia tích cực cắt giảm thuế Các nước như Philippines, Malaysia và Indonesia đã nêu lý do cần thời gian để thích ứng với tình hình mới, từ đó xin tạm hoãn việc giảm thuế quan đối với các mặt hàng dự kiến giảm thuế trong năm 2000 xuống còn 5-0%.
Năm 2002, các nước ASEAN đã đối mặt với thách thức lớn do xu hướng quay trở lại bảo hộ công nghiệp trong nước, điều này đã gây khó khăn cho việc thực hiện các hiệp định AFTA, AIA và AICO.
ASEAN đang đối mặt với áp lực cạnh tranh thương mại gia tăng do sự gia nhập của các quốc gia vào WTO, điều này tạo ra thách thức lớn cho các khối kinh tế, quốc gia và khu vực trên toàn cầu.
Tại ASEAN-10, hiện có sự phân chia rõ rệt về trình độ phát triển, được chia thành hai khối: ASEAN-6 và ASEAN-4, trong đó Việt Nam thuộc ASEAN-4 Sự chênh lệch này gây khó khăn trong việc đạt được sự phát triển đồng đều và thống nhất, ảnh hưởng đến khả năng khai thác thế mạnh tập thể của ASEAN.
Nhóm ASEAN-4, với trình độ phát triển thấp hơn, đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập kinh tế Việc kết hợp thiếu đồng bộ giữa các cơ quan chức năng và doanh nghiệp, do bỡ ngỡ trong chuyển đổi cơ chế kinh tế, dẫn đến những lúng túng trong việc thực hiện các yêu cầu của CEPT/AFTA Đặc biệt, mốc 2006 đặt ra yêu cầu Việt Nam phải đạt mức thuế 0-5% cho tất cả các dòng thuế, điều này thực sự là một thách thức lớn khi hiện tại chỉ còn 8,4% dòng thuế trong danh mục CEPT có mức thuế trên 20%.
Năm 1999, nhiều dòng thuế ở Việt Nam vẫn còn ở mức cao, từ 25% đến 45% cho đến năm 2005 Việc giảm đột ngột các mức thuế này vào năm 2006 để phù hợp với yêu cầu về thời hạn và tỷ lệ sẽ có tác động rõ rệt đến nền kinh tế thương mại của đất nước.
Những biện pháp cơ bản nhằm thúc đẩy thơng mại quốc tế ở Việt Nam trong qúa tr×nh héi nhËp
Các biện pháp điều chỉnh để Việt Nam bắt nhập với các nớc ASEAN
1 Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành trong công tác ASEAN.
Các chương trình hợp tác kinh tế trong ASEAN được xây dựng nhằm phục vụ lợi ích đa dạng của các quốc gia trong khối mà không làm mất quyền kiểm soát của chính quyền Do đó, cần nghiên cứu các hiệp định và chương trình hợp tác của ASEAN một cách khách quan và khoa học để tìm ra giải pháp phù hợp với chính sách và tình hình trong nước Những điểm phù hợp cần được khai thác như một động lực cho công cuộc cải cách kinh tế và hành chính Để đảm bảo hoạt động của ASEAN diễn ra hiệu quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp Hơn nữa, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều phối một cách toàn diện và thống nhất, đồng thời nghiên cứu phương án tham gia các hoạt động ASEAN một cách bình đẳng và chủ động, phù hợp với tình hình trong nước và xu hướng chung của ASEAN.
Chúng ta cần tích cực đóng góp vào nỗ lực của ASEAN nhằm xây dựng và duy trì môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển khu vực Trong thời gian tới, chính sách đối ngoại chủ động cùng với các quốc gia thành viên ASEAN sẽ được tiếp tục thực hiện để nâng cao hiệu quả của những nỗ lực này.
Để thúc đẩy hợp tác ASEAN, cần phát hiện và hệ thống hóa các điểm khác biệt về cơ cấu, chính sách kinh tế và thủ tục hành chính trong nước Điều này sẽ tạo cơ sở khoa học cho việc điều chỉnh, bổ sung nhằm cải cách hành chính và kinh tế theo hướng đã chọn Những nhu cầu phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước cần được thực hiện nhanh chóng và hiệu quả, trong khi những điểm chưa phù hợp cần có giải pháp bảo đảm lợi ích quốc gia và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
2 Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác ASEAN Để có thể tham gia tích cực vào hoạt động trong ASEAN, đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác ASEAN cần làm quen dần với “ phong cách ASEAN “ nắm đợc quy trình hình thành các văn bản và các chơng trình, dự án hợp tác. Điều quan trọng hơn cả là đội ngũ cán bộ này cần ý thức đợc tính bình đẳng về trách nhiệm trong ASEAN Mỗi cuộc họp bàn về một vấn đề thực sự là một cuộc đàm phán trong môi trờng đa phơng để bảo vệ lợi ích của quốc gia mình đồng thời lại quan hệ mật thiết tới các mối quan hệ song phơng.
Hoạt động ASEAN cần được xem như một môi trường quan trọng, yêu cầu tăng cường đội ngũ cán bộ có chuyên môn vững vàng, thông thạo ngoại ngữ và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế đa dạng Điều này đặc biệt cần thiết trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu hướng tăng cường đối thoại hiện nay, nhằm đáp ứng các vấn đề cụ thể và chuyên sâu ở tất cả các cấp, các ngành.
3 Công tác thông tin tuyên truyền về ASEAN
3 Công tác thông tin tuyên truyền về ASEAN
Công tác thông tin tuyên truyền đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của người dân về sự tham gia của Việt Nam vào ASEAN, giúp họ hiểu rõ đường lối hội nhập của Đảng và Nhà nước Một mục tiêu chính là cung cấp thông tin đầy đủ cho các doanh nghiệp trong nước về tình hình kinh doanh và thị trường khu vực, từ đó giúp họ phân tích và dự báo biến động để có biện pháp phòng ngừa hiệu quả Đồng thời, cần xóa bỏ quan niệm sai lầm rằng việc tham gia ASEAN chỉ mang lại lợi ích chính trị mà Việt Nam sẽ thiệt thòi về kinh tế, cũng như quan điểm cho rằng Việt Nam là thành viên nghèo nhất và sẽ nhận được nhiều hỗ trợ từ tổ chức này và cộng đồng quốc tế.
II Những biện pháp cơ bản nhằm thúc đẩy thơng mại quốc tế của Việt Nam trong quá trình hội nhập
1 Các biện pháp u tiên phát triển:
Để phát triển các lĩnh vực ưu tiên, cần thiết phải xác định các biện pháp khuyến khích cụ thể thông qua các chính sách điều chỉnh vĩ mô Các chính sách này bao gồm thu hút đầu tư nước ngoài trực tiếp, đầu tư trong nước, điều chỉnh tỷ giá và bảo hộ sản xuất trong nước.
1.1 Chính sách thu hút đầu t nớc ngoài trực tiếp:
Việt Nam cần tận dụng tối đa khả năng thu hút vốn đầu tư từ cả các nước trong và ngoài khối AFTA, nhằm khai thác hiệu quả các lợi thế về tài nguyên, lực lượng lao động và thị trường mới Để tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn hơn so với các nước ASEAN khác, Việt Nam cần thiết lập các chính sách ưu đãi ổn định và minh bạch, cùng với việc cải thiện cơ sở hạ tầng.
Cần bổ sung và hoàn thiện các chính sách đầu tư nước ngoài, bao gồm chính sách góp vốn, công nghệ và kỹ thuật, đất đai và nhà ở cho người nước ngoài, lao động và tiền lương, bảo hiểm, khai thác và chế biến, cũng như chính sách nội tiêu và ngoại tiêu.
Cải cách và đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư nước ngoài là cần thiết, bao gồm các quy trình cấp giấy phép đầu tư, giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu, cấp đất đai, cấp giấy phép xây dựng, thủ tục hải quan và thuế Những cải tiến này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, góp phần thúc đẩy môi trường đầu tư và phát triển kinh tế.
Cần ưu tiên hoàn thiện cơ sở hạ tầng cho đầu tư trực tiếp, tập trung vào hệ thống giao thông, điện nước, cảng biển và thông tin liên lạc.
+ Tập trung vào việc kế hoạch hóa giáo dục và đào tạo để nhanh chóng có đợc đội ngũ lao động với kỹ năng và trình độ cao.
Xây dựng một danh mục cụ thể các ngành nghề , lĩnh vực công nghiệp cần đợc u tiên khuyến khích đầu t nớc ngoài trực tiếp Danh mục bao gồm:
Cần thu hút đầu tư nước ngoài từ các nước công nghiệp phát triển ngoài ASEAN nhằm mục đích sản xuất và xuất khẩu Đối với nguồn vốn này, việc giám sát chặt chẽ là cần thiết để ưu tiên đầu tư vào công nghệ tiên tiến phù hợp.
Các ngành công nghiệp ứng dụng công nghệ không chỉ là những lĩnh vực tiên phong mà còn phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động, nhằm tạo ra thêm cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho người lao động.
Các nguồn đầu tư trực tiếp từ các nước ASEAN đang dần chuyển hướng sang Việt Nam, nơi có nguồn lao động dồi dào và chi phí thấp Những quốc gia này, mặc dù đã có vốn dồi dào, đang mất dần lợi thế cạnh tranh về lao động và chuyển sang công nghệ cao Do đó, Việt Nam trở thành điểm đến lý tưởng cho việc chuyển giao các ngành công nghệ sử dụng nhiều lao động.
1.2 Chính sách đầu t trong nớc:
Ngoài việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp, cần chú trọng đến việc hỗ trợ đầu tư trong nước Cần triển khai các biện pháp phù hợp cho cả khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực tư nhân để thúc đẩy sự phát triển bền vững.
Đối với các xí nghiệp quốc doanh, việc cải cách theo hướng nâng cao hiệu suất là cần thiết, ví dụ như thực hiện cổ phần hóa một cách hợp lý Cần áp dụng các biện pháp về vốn và tín dụng từ Nhà nước, nhưng đầu tư của Nhà nước chỉ nên tập trung vào những xí nghiệp có khả năng tồn tại mà không cần hàng rào bảo hộ.
Các xí nghiệp tư nhân có thể được hỗ trợ tín dụng nhằm khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghiệp phù hợp với quy mô sản xuất nhỏ, như công nghiệp chế biến, lắp ráp điện tử và sản xuất phụ trợ Điều này giúp phát huy lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, việc xác định các chính sách công nghiệp phù hợp là rất quan trọng Cần ưu tiên các biện pháp khuyến khích đầu tư và cải cách hệ thống ngân hàng nhằm huy động vốn và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính.
2 Những biện pháp phòng ngừa:
2.1 Các biện pháp bảo hộ hợp lý sản xuất trong nớc:
Tham gia AFTA đồng nghĩa với việc không thể duy trì hàng rào bảo hộ mậu dịch, mà phải tuân theo xu hướng tự do hóa thương mại Do đó, việc bảo hộ sản xuất trong nước cần được thực hiện một cách hợp lý và hiệu quả.
Nguyên tắc bảo hộ chung:
Chỉ bảo hộ các sản phẩm sản xuất trong nước có tiềm năng phát triển, nhằm tăng cường ngân sách nhà nước và giải quyết vấn đề lao động.