1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự truyền dẫn lãi suất ở việt nam luận văn thạc sĩ kinh tế

101 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Sự Truyền Dẫn Lãi Suất Ở Việt Nam
Tác giả Trần Thị Hoàng Trâm
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Ngọc Định
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Chuyên ngành Tài Chính – Ngân Hàng
Thể loại luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2014
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 271,15 KB

Cấu trúc

  • Chương 1: Giới thiệu chung (9)
    • 1.1 Lý do chọn đề tài (9)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (11)
    • 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (12)
    • 1.4 Phương pháp nghiên cứu (12)
    • 1.5 Đóng góp của đề tài (13)
    • 1.6 Kết cấu của luận văn (13)
  • Chương 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây (15)
    • 2.1. Nghiên cứu về sự dẫn truyền lãi suất ở nước ngoài (0)
    • 2.2. Nghiên cứu về sự truyền dẫn lãi suất ở Việt Nam (0)
    • 2.3. Kết luận (44)
    • 3.1. Dữ liệu nghiên cứu (45)
    • 3.2. Mô tả các biến (46)
    • 3.3. Phương pháp nghiên cứu (51)
    • 3.4. Mô hình nghiên cứu (52)
      • 3.4.1 Phân tí ch sự dẫn truyền trong dài hạn (52)
      • 3.4.2 Phân tích sự dẫn truyền trong ngắn hạn và tốc độ điều chỉnh lãi suất (53)
      • 3.4.3 Kiểm tra tính bất đối xứng trong truyền dẫn lãi suất (55)
  • Chương 4: Kết quả nghiên cứu (57)
    • 4.1. Kiểm định tính dừng của các chuỗi lãi suất (57)
    • 4.2. Sự dẫn truyền dài hạn (58)
    • 4.3. Kiểm định tính dừng của phần dư (61)
    • 4.4. Sự dẫn truyền trong ngắn hạn và tốc độ điều chỉnh theo sự thay đổi lãi suất thị trường (63)
    • 4.5. Sự bất cân xứng trong truyền dẫn lãi suất bán lẻ (0)
    • 4.6. Kết luận (71)
  • Chương 5: Kết luận và định hướng chính sách (72)
    • 5.1. Kết luận (72)
    • 5.2. Định hướng chính sách (73)
    • 5.3. Hạn chế của bài luận văn (73)

Nội dung

Giới thiệu chung

Lý do chọn đề tài

Sự truyền dẫn của lãi suất là quá trình phản ánh mức độ và tốc độ thay đổi của lãi suất chính sách vào lãi suất bán lẻ của ngân hàng.

Sự truyền dẫn lãi suất là quá trình mà lãi suất chính sách ảnh hưởng đến lãi suất thị trường và lãi suất bán lẻ, phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa chúng Tốc độ truyền dẫn cao cho thấy hiệu quả của kênh lãi suất và chính sách tiền tệ, đồng thời chỉ ra mức độ cạnh tranh và hội nhập tài chính trong thị trường Khi Chính phủ kiểm soát hiệu quả lãi suất thị trường, nền kinh tế có khả năng đạt được các mục tiêu chính sách Ngược lại, sự truyền dẫn không hoàn hảo có thể dẫn đến thất bại trong việc ổn định nền kinh tế trước các cú sốc.

Truyền dẫn lãi suất là một chủ đề được quan tâm bởi cả các nhà hoạch định chính sách và giới nghiên cứu Nghiên cứu của Liu (2006) về New Zealand cho thấy sự truyền dẫn lãi suất không hoàn toàn đối với một số lãi suất bán lẻ và không có sự bất cân xứng Tương tự, Weth (2002) chỉ ra rằng tại Đức, các điều kiện cho vay của ngân hàng là yếu tố chính ảnh hưởng đến mức độ truyền dẫn lãi suất không hoàn toàn Sorensen (2006) cũng nhận định rằng ở Châu Âu, sự truyền dẫn lãi suất không hoàn toàn xuất phát từ mức độ cạnh tranh khác nhau giữa các ngân hàng Cuối cùng, Sanusi (2010) nghiên cứu tại Nigeria cho thấy sự truyền dẫn lãi suất diễn ra chậm và không hoàn toàn do biến dạng trong lãi suất cho vay.

Nghiên cứu của các tác giả về sự truyền dẫn lãi suất ở Romania và Châu Á chỉ ra rằng quá trình này thường chậm và bị hạn chế do nhiều yếu tố Cụ thể, nghiên cứu năm 2004 cho thấy ở Romania, sự dẫn truyền từ lãi suất chính sách đến lãi suất thị trường bị ảnh hưởng bởi đặc điểm chính sách tiền tệ, mức độ tiền tệ hóa thấp và thị trường tài chính kém phát triển Pih Nee Tai (2012) chỉ ra rằng ở Châu Á, mức truyền dẫn lãi suất thấp do chính sách tiền tệ kém hiệu quả và mức độ hội nhập tài chính hạn chế Byungchul Yu (2013) nhấn mạnh rằng sự truyền dẫn này không hoàn toàn do nhiều yếu tố như chi phí thực đơn, chi phí chuyển đổi, cạnh tranh không hoàn hảo và bất cân xứng thông tin Dongyang Di (2014) cũng cho rằng ở Thái Lan, sự truyền dẫn lãi suất bị ảnh hưởng bởi cấu trúc chính trị.

Nghiên cứu của năm 2011 chỉ ra rằng GDP và lạm phát có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả dẫn truyền Các tác giả Sebastian (2012) và Nguyễn Khắc Quốc Bảo (2013) đã phân tích sự bất cân xứng trong truyền dẫn lãi suất, cho rằng nguyên nhân chính là do các ngân hàng gặp phải rào cản về vốn và thanh khoản.

Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn trong kinh tế với nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó Ngân hàng Trung ương đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và điều tiết nền kinh tế, chống lạm phát Lãi suất là công cụ chính sách tiền tệ được sử dụng rộng rãi, ảnh hưởng mạnh mẽ đến quyết định tiết kiệm, tiêu dùng của người dân và đầu tư của doanh nghiệp, đồng thời tác động đến nhiều thị trường, đặc biệt là thị trường chứng khoán Việc điều chỉnh chính sách lãi suất phù hợp với tình hình kinh tế là nhiệm vụ phức tạp của NHTW Do đó, nghiên cứu sự truyền dẫn lãi suất ở Việt Nam là cần thiết để đánh giá hiệu quả chính sách tiền tệ, từ đó tôi chọn đề tài “Nghiên cứu sự truyền dẫn lãi suất ở Việt Nam” cho luận văn thạc sĩ.

Mục tiêu nghiên cứu

Bài luận văn này được thực hiện với mục đích sau đây:

Nghiên cứu sự khác biệt trong mức độ dẫn truyền từ lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ trong ngắn hạn và dài hạn, đồng thời phân tích cách thức mà lãi suất bán lẻ phản ứng trước những thay đổi của lãi suất chính sách.

Để đánh giá xem tốc độ điều chỉnh lãi suất có hợp lý hay không, cần thực hiện một phân tích toàn diện nhằm đưa ra khuyến nghị chính sách lãi suất phù hợp Để đạt được mục tiêu này, ba câu hỏi quan trọng cần được giải quyết.

- Mức độ truyền dẫn lãi suất bán lẻ trong ngắn hạn và dài hạn như thế nào khi lãi suất chính sách thay đổi?

- Tốc độ điều chỉnh lãi suất bán lẻ như thế nào khi lãi suất chính sách thay đổi?

- Tốc độ điều chỉnh lãi suất là cân xứng hay bất cân xứng?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Để đạt được những mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn hướng tới những đối tượng và phạm vi nghiên cứu như sau:

Sự truyền dẫn từ lãi suất chính sách, bao gồm lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu, ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất thị trường tiền tệ như lãi suất liên ngân hàng và lãi suất trái phiếu Tiếp theo, lãi suất thị trường tiền tệ sẽ tác động đến lãi suất bán lẻ, bao gồm lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi.

Tốc độ điều chỉnh lãi suất bán lẻ phản ứng với sự thay đổi lãi suất chính sách.

Sự bất cân xứng trong tốc độ điều chỉnh lãi suất bán lẻ.

Bài luận văn này phân tích dữ liệu từ lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất trái phiếu, lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, được thu thập từ Thống Kê Tài Chính Quốc Tế và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn từ QI/2003 đến QI/2014 Mục tiêu là để khảo sát sự truyền dẫn ngắn hạn và dài hạn từ lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ, đồng thời xem xét tốc độ điều chỉnh lãi suất và hiện tượng bất cân xứng trong việc điều chỉnh lãi suất bán lẻ.

Phương pháp nghiên cứu

Bài luận văn này áp dụng phương pháp hồi quy OLS để ước lượng sự dẫn truyền lãi suất dài hạn và sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số nhằm kiểm tra mức dẫn truyền ngắn hạn cũng như tốc độ điều chỉnh của lãi suất bán lẻ đối với sự biến động của lãi suất thị trường tại Việt Nam Ngoài ra, nghiên cứu còn áp dụng kiểm định Wald Test để xác định tính cân xứng hay bất cân xứng trong tốc độ điều chỉnh lãi suất bán lẻ.

Phương pháp này bắt đầu bằng việc kiểm định tính dừng của các biến số thông qua hai phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị ADF và PP Tiếp theo, kiểm định đồng tích hợp sẽ được thực hiện để xác định mối quan hệ giữa các biến Nếu các biến số có quan hệ đồng tích hợp, mô hình ECM sẽ được ước lượng để phân tích sâu hơn.

Đóng góp của đề tài

Luận văn “Nghiên cứu sự truyền dẫn lãi suất ở Việt Nam” khi hoàn thành sẽ đóng góp quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo về truyền dẫn lãi suất, đồng thời cung cấp những khuyến nghị hữu ích cho việc điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam.

Nghiên cứu cho thấy sự dẫn truyền từ lãi suất chính sách đến lãi suất thị trường tiền tệ không hoàn toàn và tương tự, lãi suất thị trường tiền tệ cũng không hoàn toàn dẫn đến lãi suất bán lẻ, cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn.

- Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự bất cân xứng trong điều chỉnh lãi suất bán lẻ và tốc độ điều chỉnh lãi suất âm.

Kết cấu của luận văn

Bài luận văn gồm gồm có năm chương Trong đó:

Chương 1 cung cấp cái nhìn tổng quan về đề tài nghiên cứu, thiết lập một khung định hướng quan trọng cho các chương tiếp theo Nội dung này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về bối cảnh nghiên cứu mà còn tạo nền tảng vững chắc cho các phân tích sâu hơn trong những phần sau của bài viết.

Chương 2 sẽ tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đây liên quan đến truyền dẫn lãi suất, đồng thời phân tích sự bất cân xứng trong quá trình này tại nhiều quốc gia khác nhau.

- Chương 3 đề cập phương pháp nghiên cứu, lựa chọn mô hình.

- Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu.

Chương 5 tóm tắt các vấn đề quan trọng đã được trình bày, bao gồm những phát hiện chính từ nghiên cứu và các gợi ý chính sách Đồng thời, chương này cũng chỉ ra những hạn chế hiện tại và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây

Kết luận

Nghiên cứu về truyền dẫn lãi suất tại Việt Nam và trên thế giới cho thấy quá trình này không diễn ra hoàn toàn do nhiều yếu tố như điều kiện cho vay của ngân hàng, mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng, và sự biến dạng trong lãi suất cho vay Các yếu tố khác như cấu trúc tài chính, chi phí điều chỉnh, và chính sách tiền tệ không hiệu quả cũng ảnh hưởng đến hiệu quả truyền dẫn lãi suất Nghiên cứu của Sebastian (2012) và Nguyễn Khắc Quốc Bảo (2013) chỉ ra rằng sự bất cân xứng trong truyền dẫn lãi suất xuất phát từ việc ngân hàng bị ràng buộc về vốn và thanh khoản Dựa trên các nghiên cứu trước đó, chúng tôi áp dụng phương pháp của Liu (2006) để nghiên cứu truyền dẫn lãi suất ở Việt Nam, nhằm rút ra bài học kinh nghiệm từ New Zealand về tính minh bạch chính sách và cấu trúc tài chính.

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dựa trên phương pháp luận đã trình bày và kế thừa các nghiên cứu trước đây, đặc biệt là mô hình nghiên cứu của Ming-hua Liu, Dimitri Margaritis và Alizera Tourani-Rad (2006), phần thiết kế nghiên cứu sẽ bao gồm mô tả dữ liệu nghiên cứu, các biến sử dụng trong mô hình, phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu.

Dữ liệu nghiên cứu

Chúng tôi đã ước lượng mô hình dựa trên dữ liệu quý từ quý I/2003 đến quý I/2014, với tổng cộng 45 quan sát tại Việt Nam Dữ liệu này được thu thập từ các nguồn uy tín như website của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam và Thống kê tài chính quốc tế.

Chúng tôi bắt đầu quá trình kiểm định bằng cách xác định tính dừng của chuỗi số liệu trong mô hình Nếu chuỗi không đạt tính dừng, chúng tôi sẽ thực hiện lấy sai phân cho đến khi chuỗi có tính dừng trước khi đưa vào mô hình Việc kiểm định tính dừng được thực hiện thông qua kiểm định Phillips – Perron (PP) và kiểm định ADF.

Biến chuỗi dừng là một khái niệm quan trọng trong lý thuyết Đồng liên kết, và việc kiểm định thuộc tính này là cần thiết khi ước lượng tham số hoặc kiểm định giả thuyết của các mô hình Nếu không thực hiện kiểm định, các kỹ thuật phân tích thông thường như OLS sẽ không chính xác, dẫn đến hiện tượng "hồi quy giả mạo" (Granger và Newbold, 1974) Hậu quả của hồi quy giả mạo là các kiểm định thống kê như t, F, R² sẽ bị lệch, tạo ra kết quả tốt nhưng không có ý nghĩa thực tiễn Do đó, việc kiểm tra tính dừng của các biến chuỗi là điều kiện tiên quyết trước khi xây dựng và phân tích mô hình.

Mô tả các biến

Ngân hàng Nhà nước quản lý lãi suất thông qua ba loại lãi suất chính: lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn Trong đó, lãi suất cơ bản thường ít thay đổi, không phù hợp cho nghiên cứu Do đó, lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái

Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất áp dụng cho các giấy tờ có giá như hối phiếu, lệnh phiếu và trái phiếu Ngân hàng sẽ thanh toán cho người sở hữu các giấy tờ này và nhận lại lãi suất chiết khấu, đồng thời thu hồi khoản tiền từ người thanh toán khi đến hạn Khi các giấy tờ chưa đến hạn, ngân hàng sẽ bán các khoản thu này cho Ngân hàng Nhà nước để đổi lấy tiền mặt, và lãi suất này được gọi là lãi suất tái chiết khấu Nghiên cứu của Sanusi (2010) đã chọn lãi suất tái chiết khấu làm biến đại diện cho lãi suất chính sách tiền tệ Để thực hiện nghiên cứu, chúng tôi đã thu thập số liệu lãi suất tái chiết khấu hàng quý từ website Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong khoảng thời gian từ Q1/2003 đến Q1/2014.

Lãi suất tái cấp vốn (refinance) liên quan đến các khoản cho vay của ngân hàng thương mại, sau đó được bán cho Ngân hàng Nhà nước để nhận tiền mặt Nghiên cứu của Nguyễn Khắc Quốc Bảo (2013) đã chọn lãi suất tái cấp vốn làm đại diện cho lãi suất chính sách tiền tệ Trong bài luận văn này, chúng tôi đã thu thập dữ liệu về lãi suất tái cấp vốn hàng quý từ website Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (www.sbv.gov.vn) trong giai đoạn từ Q1/2003 đến Q1/2014 để phân tích lãi suất chính sách tiền tệ.

Theo nghiên cứu của Liu (2006), Sanusi (2010), Crespo-Cuaresma (2004), Bondt (2002), Fazal (2013), A Espinosa (2003) và Gigineishvili (2011), các tác giả đã lựa chọn lãi suất trái phiếu chính phủ và lãi suất liên ngân hàng làm đại diện cho lãi suất thị trường tiền tệ.

Lãi suất trái phiếu là mức lãi suất mà nhà phát hành, như Kho bạc Nhà nước, cam kết trả cho người mua trong một khoảng thời gian nhất định Bài viết này lựa chọn lãi suất trái phiếu làm đại diện cho lãi suất thị trường tiền tệ, với dữ liệu được thu thập theo quý từ Thống kê tài chính quốc tế (IFS) trong giai đoạn từ Q1/2003 đến Q1/2014.

Lãi suất liên ngân hàng là tỷ lệ lãi suất vay mượn giữa các ngân hàng qua thị trường liên ngân hàng, thường xuyên biến động theo thời gian trong ngày Các tổ chức như Ngân hàng Trung Ương và Bloomberg thu thập dữ liệu từ các ngân hàng để tính toán và công bố một con số bình quân vào buổi sáng Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn lãi suất liên ngân hàng làm đại diện cho lãi suất thị trường tiền tệ, với số liệu được lấy theo quý từ Thống kê tài chính quốc tế (IFS) trong giai đoạn từ Q1/2003 đến Q1/2014.

Theo nghiên cứu của các tác giả như Liu (2006), Sanusi (2010), và nhiều người khác, lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi được chọn làm biến đại diện cho lãi suất bán lẻ ngân hàng Để thực hiện luận văn này, chúng tôi đã thu thập dữ liệu lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi theo quý từ Q1/2003 đến Q1/2014, dựa trên số liệu từ Thống kê tài chính quốc tế (IFS).

Lãi suất cho vay là tỷ lệ lãi suất mà khách hàng phải trả cho ngân hàng khi vay tiền Tỷ lệ này thường thay đổi tùy thuộc vào thời hạn của khoản vay và mức độ rủi ro liên quan.

Lãi suất tiền gửi là tỷ lệ lãi được áp dụng để tính toán số tiền lãi mà người gửi tiền nhận được Mức lãi suất này có sự biến động tùy thuộc vào thời gian gửi và số tiền gửi.

Bảng dưới đây là bảng liệt kê các biến được sử dụng trong mô hình:

Bảng 3.1: Bảng mô tả biến và nguồn dữ liệu

Stt Ký hiệu Tên biến Thời gian Tác giả Nguồn

1 Refinance Lãi suất tái cấp vốn 2003 Q1 – 2014 Q1 Quốc Bảo (2013); www.sbv.gov.vn

2 Rediscount Lãi suất tái chiết khấu

2003 Q1 – 2014 Q1 Sanusi (2010) www.sbv.gov.vn

3 Treasury Lãi suất trái phiếu 2003 Q1 – 2014 Q1 Crespo-Cuaresma (2004);

4 Interbank Lãi suất liên ngân hàng

5 Lending Lãi suất cho vay 2003 Q1 – 2014 Q1 Liu (2006); Sanusi (2010);

Fuertes (2008); Montagnoli (2012); Tai (2012); Fazal (2013); Yu (2013); Di (2014); Gigineishvili (2011)

6 Deposit Lãi suất tiền gửi 2003 Q1 – 2014 Q1 Liu (2006); Sanusi (2010);

Montagnoli (2012); Tai (2012); Fazal (2013); Di (2014); A Espinosa (2003)

Phương pháp nghiên cứu

Theo nghiên cứu của Ming-hua Liu, Dimitri Margaritis và Alizera Tourani-Rad (2006), các tác giả đã thực hiện kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu bằng phương pháp Phillips – Perron và ADF Sau đó, họ áp dụng phương pháp Phillips – Loretan (1991) và OLS để ước lượng mối quan hệ dài hạn giữa lãi suất bán lẻ và lãi suất chính sách, đặc biệt trong bối cảnh có sự thay đổi cấu trúc Cuối cùng, các tác giả sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số để tính toán sự dẫn truyền trong ngắn hạn và kiểm tra tính bất cân xứng trong truyền dẫn lãi suất thông qua kiểm định Wald Test.

Trong bài luận này, chúng tôi áp dụng phương pháp OLS để ước lượng phương trình dẫn truyền dài hạn Để phân tích các biến động ngắn hạn và tốc độ điều chỉnh lãi suất bán lẻ theo thay đổi của lãi suất thị trường, chúng tôi sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số Cuối cùng, kiểm định Wald Test được thực hiện để kiểm tra tính bất đối xứng trong quá trình truyền dẫn lãi suất.

- Kiểm định tính dừng của chuỗi gốc và chuỗi sai phân bậc 1 để xem xét xu hướng theo thời gian của chúng.

Mô hình OLS được sử dụng để phân tích mối quan hệ dài hạn giữa lãi suất chính sách và lãi suất thị trường, cũng như giữa lãi suất thị trường và lãi suất bán lẻ Nghiên cứu này giúp hiểu rõ hơn về cách thức lãi suất chính sách tác động đến lãi suất thị trường và cuối cùng ảnh hưởng đến lãi suất bán lẻ, từ đó cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà đầu tư và nhà hoạch định chính sách.

Chúng tôi tiến hành kiểm định tính dừng của phần dư trong phương trình hồi quy để xác định mối quan hệ dài hạn giữa các biến số Nếu cặp lãi suất có quan hệ đồng liên kết, mô hình hiệu chỉnh sai số sẽ được áp dụng để phân tích truyền dẫn trực tiếp trong ngắn hạn.

Mô hình hiệu chỉnh sai số được sử dụng để phân tích biến động lãi suất bán lẻ trong ngắn hạn và tốc độ điều chỉnh của nó theo sự thay đổi của lãi suất thị trường Việc áp dụng mô hình này giúp hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa lãi suất bán lẻ và lãi suất thị trường, từ đó đưa ra những dự đoán chính xác hơn về xu hướng lãi suất trong tương lai.

- Cuối cùng, chúng tôi dùng kiểm định Wald Test để kiểm tra tính bất đối xứng trong truyền dẫn lãi suất bán lẻ.

Mô hình nghiên cứu

Trong bài viết này, chúng tôi phân tích sự dẫn truyền ngắn hạn và dài hạn của lãi suất chính sách tiền tệ đến các loại lãi suất bán lẻ khác nhau Chúng tôi cũng xem xét tốc độ điều chỉnh và phản ứng của lãi suất bán lẻ đối với biến động của lãi suất thị trường.

3.4.1Phân tích sự dẫn truyền trong dài hạn:

Mối quan hệ dài hạn giữa lãi suất bán lẻ và lãi suất thị trường được thể hiện như sau:

Trong đó: tiền tệ y t : là lãi suất cho vay của ngân hàng hay lãi suất tiền gửi

� � : là lãi suất chính sách tương ứng hay lãi suất thị trường

0 và 1 : tham số dài hạn.

Các chuỗi lãi suất sẽ được phân tích bằng sai phân bậc 1, I(1), với kỳ vọng rằng các biến và sai số sẽ dừng lại Như đã đề cập trong nghiên cứu của Rousseas (1985), hệ số chặn 0 được sử dụng để đo lường biên tăng cố định (markup).

Hệ số α 1 là chỉ số quan trọng để đo lường mức độ dẫn truyền lãi suất trong dài hạn Nếu α 1 lớn hơn 1, quá trình truyền dẫn lãi suất được xem là quá mức, điều này thường ít xảy ra trong thực tế Ngược lại, khi α 1 nhỏ hơn 1, quá trình truyền dẫn không hoàn toàn, trong khi α 1 bằng 1 là trường hợp lý tưởng, cho thấy sự thay đổi trong lãi suất chính sách được đáp ứng hoàn toàn bởi sự thay đổi trong lãi suất bán lẻ, thể hiện một quá trình truyền dẫn lãi suất hoàn toàn.

Phương trình (3.1) có thể được ước lượng bằng cách dùng phương pháp Engle – Granger OLS

3.4.2 Phân tích sự dẫn truyền trong ngắn hạn và tốc độ điều chỉnh lãi suất: Để phân tích biến động ngắn hạn của sự thay đổi lãi suất bán lẻ phản ứng với sự thay đổi lãi suất thị trường tiền tệ chúng tôi dùng mô hình hiệu chỉnh sai số, Mô hình hiệu chỉnh sai số được cho như sau :

� � ̂ −1 = (� �−1 − � 0 − � 1 � �−1 ) : là sai số hiệu chỉnh với 1 độ trễ

� � : là phần dư của phương trình

� 0 : đo lường ảnh hưởng của sự dẫn truyền

� � và � � : là hệ số điều chỉnh

� : là hệ số ước lượng của sai số hiệu chỉnh, cho thấy tốc độ điều chỉnh về mức cân bằng dài hạn của � �

Mô hình ECM nổi bật với nhiều ưu điểm so với các mô hình khác và thường được áp dụng trong các nghiên cứu về truyền dẫn lãi suất, như các nghiên cứu của Bondt (2002), Crespo – Cuaresma (2002), Sorensen (2006) và Liu.

Luận văn chọn lựa mô hình ECM để phân tích sự truyền dẫn lãi suất ở Việt Nam do những lý do sau :

- Mô hình ECM phù hợp hơn với đặc điểm của cơ sở dữ liệu theo dãy thời gian

- Mô hình ECM được sử dụng để phân tích các biến động cả trong ngắn hạn và dài hạn

- Mô hình ECM cho phép đo lường hiện tượng đồng liên kết giữa nhiều biến trong mô hình

Chính vì những ưu điểm đó mà mô hình ECM được sử dụng nhiều trong việc ước lượng sự dẫn truyền lãi suất.

3.4.3Kiểm tra tính bất đối xứng trong truyền dẫn lãi suất :

Nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra sự bất đối xứng trong dẫn truyền lãi suất Để xác định sự điều chỉnh bất đối xứng của lãi suất bán lẻ, chúng tôi đã bổ sung biến giả vào phương trình (3.2), với giá trị � = 1 nếu phần dư.

� � ̂ −1 dương và � = 0 nếu phần dư � � ̂ −1 âm Phương trình bất đối xứng trong ngắnhạn được diễn tả như sau :

� 2 : là tốc độ điều chỉnh sai số khi lãi suất trên mức cân bằng

� 3 : là tốc độ điều chỉnh sai số khi lãi suất dưới mức cân bằng

Tính bất đối xứng được kiểm tra bằng kiểm định Wald test phân phối

Nếu giả thuyết H0 bị bác bỏ, điều này cho thấy sự bất đối xứng trong tốc độ điều chỉnh của các biến động ngắn hạn, mà phụ thuộc vào hướng thay đổi của lãi suất chính sách.

Kết quả nghiên cứu

Kiểm định tính dừng của các chuỗi lãi suất

Chuỗi lãi suất dừng cho thấy rằng giá trị của chúng thường ổn định theo thời gian và có xu hướng lặp lại Điều này cho phép chúng ta áp dụng mô hình ECM nếu có mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến.

Để xác định xem các chuỗi lãi suất có nghiệm đơn vị hay không, trước tiên cần kiểm tra tính dừng của chuỗi Tác giả tiến hành kiểm định giả thuyết H0 (p-value > α), tức là chuỗi không có tính dừng, và giả thuyết H1 (p-value < α), cho thấy chuỗi có tính dừng, bằng cách sử dụng phương pháp ADF và Phillips-Perron (PP).

Bảng 4.1: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị

Biến Chuỗi gốc Chuỗi sai phân bậc 1

Nguồn: Kết quả ước lượng trên phần mềm Eviews 6.0.

Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị cho thấy chúng ta chấp nhận giả thuyết H0 (p-value > α) đối với chuỗi dữ liệu gốc, tức là chuỗi không có tính dừng, trong khi bác bỏ giả thuyết H0 đối với chuỗi dữ liệu sai phân bậc 1, cho thấy chuỗi đã dừng ở sai phân bậc 1 Điều này cho phép chúng ta áp dụng mô hình ECM nếu có sự tồn tại của quan hệ đồng liên kết giữa các biến.

Sự dẫn truyền dài hạn

Tác giả đã áp dụng mô hình OLS để phân tích mối quan hệ giữa lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất trái phiếu, lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi Mô hình này thể hiện sự dẫn truyền dài hạn của lãi suất chính sách đến lãi suất thị trường thông qua hệ số α1 trong phương trình dẫn truyền dài hạn Hệ số α1 càng lớn cho thấy mức độ truyền dẫn giữa hai cặp lãi suất càng cao: nếu α1 < 1, quá trình truyền dẫn không hoàn toàn; nếu α1 = 1, lãi suất chính sách được đáp ứng hoàn toàn bởi lãi suất bán lẻ; và nếu α1 > 1, đây là quá trình truyền dẫn lãi suất quá mức Kết quả ước lượng đã được thu thập và phân tích.

Bảng 4.2: Kết quả dẫn truyền dài hạn

Kết quả ước lượng được thực hiện trên phần mềm Eviews 6.0 cho thấy mối quan hệ giữa các biến độc lập, bao gồm lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất trái phiếu.

Số trong ngoặc là hệ số ước tính t-ratios

*: mức ý nghĩa 1%; **: mức ý nghĩa 5%; *** mức ý nghĩa 10%

Kết quả ước lượng cho thấy sự dẫn truyền dài hạn từ lãi suất chính sách đến lãi suất liên ngân hàng không hoàn toàn, với hệ số dẫn truyền từ lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn lần lượt là 0.8600 và 0.8774 Bên cạnh đó, sự dẫn truyền từ lãi suất chính sách đến lãi suất trái phiếu cũng không hoàn toàn trong dài hạn, với mức độ truyền dẫn thấp; hệ số dẫn truyền từ lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn đến lãi suất trái phiếu lần lượt là 0.6161.

Mức độ truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất thị trường trong dài hạn chỉ đạt 0.6308, cho thấy sự không hoàn toàn trong quá trình này Lãi suất thị trường phản ứng mạnh mẽ với lãi suất chính sách do tác động trực tiếp từ Ngân Hàng Trung Ương, đặc biệt là qua các thay đổi về lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu Đối với sự truyền dẫn dài hạn từ lãi suất thị trường đến lãi suất bán lẻ, kết quả cho thấy rằng sự truyền dẫn đến lãi suất tiền gửi diễn ra nhanh hơn so với lãi suất cho vay, với hệ số dẫn truyền lần lượt là 0.7832 và 0.8810 cho lãi suất tiền gửi, trong khi đối với lãi suất cho vay là 0.6794 và 0.7130.

Kết quả nghiên cứu của tác giả nhất quán với các nghiên cứu trước đây của Sorensen (2006), Marotta (2008), Byungchul Yu (2013), Pil Nee Tai (2012), Akberto Motagnoli (2012), Sheikh Khurram Fazal (2013), Marco A Espinosa (2003), Alexander Tieman (2004) và Dongyang Di (2014), cho thấy sự dẫn truyền lãi suất không hoàn toàn trong dài hạn Tuy nhiên, kết quả này không đồng nhất với quan điểm của Liu (2006), Cuaresma (2002) và Fuertes (2008), những người cho rằng quá trình truyền dẫn lãi suất chỉ xảy ra hoàn toàn đối với một số lãi suất bán lẻ Sự khác biệt giữa nghiên cứu của tác giả và Liu (2006) có thể được giải thích bởi các yếu tố khác nhau trong phương pháp nghiên cứu.

Trước khi có sự xuất hiện của OCR vào năm 1999, mức độ truyền dẫn từ lãi suất thị trường đến lãi suất bán lẻ dao động từ 13% đến 67% Sau khi OCR được áp dụng, mức độ truyền dẫn đối với lãi suất thế chấp thả nổi, lãi suất cho vay cơ bản và lãi suất tiền gửi 6 tháng đã tăng lên Ngược lại, lãi suất thế chấp cố định kỳ hạn từ 1-5 năm không có sự thay đổi hoặc giảm Đặc biệt, mức độ truyền dẫn đối với lãi suất cho vay cơ bản và thả nổi đạt mức ý nghĩa 5%, trong khi mức truyền dẫn đối với lãi suất tiền gửi 6 tháng đạt mức ý nghĩa 10%.

Kiểm định tính dừng của phần dư

Để xác định mối quan hệ lâu dài giữa các biến số, cần kiểm tra tính dừng của phần dư trong mô hình hồi quy Việc này giúp chúng ta chấp nhận giả thuyết về sự đồng liên kết giữa các biến.

Khi p-value lớn hơn α, điều này có nghĩa là phần dư không có tính dừng (H0) Ngược lại, nếu p-value nhỏ hơn α, chúng ta bác bỏ giả thuyết H0, cho thấy phần dư có tính dừng Dưới đây là kết quả kiểm định tính dừng của phần dư.

Bảng 4.3: Kết quả kiểm định tính dừng của phần dư

ADF PP Đồng liên kết của chuỗi lãi suất (y) với chuỗi lãi suất (x) t-statistic Prob t-statistic Prob.

The interbank rates show a range of values, with the first interbank rate at -2.4648 and the second at -2.4247, both indicating a slight increase in connection to the linked currency Treasury rates are slightly lower, with the first at -2.5684 and the second at -2.7138 Lending rates exhibit a significant drop, with the third lending rate at -4.3160 and the fourth at -3.2002, while deposit rates also reflect a decline, with the third at -3.4406 and the fourth at -3.5703, all related to the linked currency.

Nguồn: Kết quả ước lượng trên phần mềm Eviews 6.0.

Ghi chú: (1): Chuỗi lãi suất (x) là lãi suất tái chiết khấu (rediscount); (2) : Lãi suất tái cấp vốn (refinance); (3) : Lãi suất liên ngân hàng (Interbank); (4) : Lãi suất trái phiếu (Treasury)

Kết quả kiểm định cho thấy giá trị p-value của phần dư nhỏ hơn α, với các giá trị cụ thể như sau: cặp lãi suất rediscount – interbank là 0.0148, rediscount – treasury là 0.0114, refinance – interbank là 0.0164, refinance – treasury là 0.0078, interbank – lending là 0.0001, interbank – deposit là 0.0010, treasury – lending là 0.0020, và treasury – deposit là 0.0007 Do đó, chúng ta bác bỏ giả thuyết H0 về phần dư dừng, cho thấy có mối quan hệ dài hạn (quan hệ đồng liên kết) giữa các biến lãi suất chính sách.

Sự dẫn truyền trong ngắn hạn và tốc độ điều chỉnh theo sự thay đổi lãi suất thị trường

ta chạy mô hình ECM.

4.4 Sự dẫn truyền trong ngắn hạn và tốc độ điều chỉnh theo sự thay đổi lãi suất thị trường: Để phân tích biến động ngắn hạn của sự thay đổi lãi suất phản ứng với sự thay đổi lãi suất thị trường tiền tệ chúng tôi dùng mô hình hiệu chỉnh sai số Mô hình hiệu chỉnh sai số được cho như sau :

� 0 : đo lường ảnh hưởng của sự dẫn truyền trong ngắn hạn, � 0 :càng lớn cho thấy mức độ dẫn truyền càng cao.

� : là hệ số ước lượng của sai số hiệu chỉnh, cho thấy tốc độ điều chỉnh theo sự thay đổi lãi suất thị trường.

Kết quả ước lượng từ mô hình hiệu chỉnh sai số thu được như sau:

Bảng 4.4: Kết quả dẫn truyền trong ngắn hạn và tốc độ điều chỉnh

Kết quả ước lượng được thực hiện trên phần mềm Eviews 6.0 cho thấy sự thay đổi của các biến lãi suất, bao gồm: (1) biến ∆� đại diện cho sự thay đổi lãi suất liên ngân hàng; (2) sự thay đổi lãi suất trái phiếu; (3) sự thay đổi lãi suất tái chiết khấu; và (4) sự thay đổi lãi suất tái cấp vốn.

Số trong ngoặc là ước tính hệ số t-values

� 0 là hệ số truyền dẫn ngắn hạn

� là tốc độ điều chỉnh

*: mức ý nghĩa 1%; **: mức ý nghĩa 5%; *** mức ý nghĩa 10%

Trong ngắn hạn, sự dẫn truyền từ lãi suất chính sách đến lãi suất liên ngân hàng cao hơn so với lãi suất trái phiếu, với hệ số dẫn truyền lần lượt là 1.0576 và 1.0735, trong khi hệ số dẫn truyền đến lãi suất trái phiếu chỉ đạt 0.3055 và 0.2742 Lãi suất liên ngân hàng cũng dẫn truyền lãi suất bán lẻ nhanh hơn lãi suất trái phiếu, với hệ số dẫn truyền đến lãi suất tiền gửi là 0.6117 và đến lãi suất cho vay là 0.5129, cao hơn so với lãi suất trái phiếu Sự dẫn truyền lãi suất bán lẻ tại Việt Nam trong ngắn hạn diễn ra không hoàn toàn và ở mức độ thấp, phù hợp với nghiên cứu của Liu (2006) về sự không hoàn toàn trong dẫn truyền trước và sau khi có sự xuất hiện của OCR Nghiên cứu của các tác giả khác như Sanusi (2010) và Tieman (2004) cũng cho thấy lãi suất bán lẻ ngân hàng ở Châu Âu cứng nhắc trong ngắn hạn, với mức độ truyền dẫn từ lãi suất thị trường đến lãi suất bán lẻ ngân hàng chỉ khoảng 50% trong vòng một tháng.

Tốc độ điều chỉnh lãi suất cho vay và tiền gửi khi lãi suất liên ngân hàng và trái phiếu thay đổi cho thấy sự điều chỉnh âm, lần lượt là -0.4199, -0.3354 cho vay và -0.3940, -0.3878 cho tiền gửi Điều này cho thấy rằng khi lãi suất biến động, rủi ro tăng cao, dẫn đến mức độ truyền dẫn giảm Các ngân hàng thương mại e ngại trong việc điều chỉnh lãi suất bán lẻ do lo ngại về rủi ro và bất lợi từ chính sách lãi suất Nghiên cứu của Liu (2006) cũng xác nhận tốc độ điều chỉnh âm và thấp, từ -0.166 đến -0.545, với độ trễ trung bình từ 0.74 tháng đến 1.96 tháng Ngược lại, Gabe De Bondt (2002) cho rằng tốc độ điều chỉnh lãi suất dương, với thời gian điều chỉnh cho vay doanh nghiệp khoảng 9 tháng và cho vay tiêu dùng khoảng 3 tháng, lý giải sự khác biệt này do chi phí thông tin bất cân xứng giữa các khoản vay có và không có đảm bảo.

4.5 Sự bất đối xứng trong truyền dẫn lãi suất bán lẻ:

Theo nghiên cứu của Sebastian Roelands (2012), khi lãi suất chính sách tiền tệ tăng, các ngân hàng thường nhanh chóng tăng lãi suất cho vay, nhưng khi lãi suất giảm, việc điều chỉnh lãi suất cho vay diễn ra chậm hơn và không hoàn toàn Sự bất đối xứng này trong truyền dẫn lãi suất bán lẻ có thể được lý giải bởi các ràng buộc về vốn và thanh khoản Để kiểm tra tính bất đối xứng này tại Việt Nam, kiểm định Wald test phân phối χ² được thực hiện với giả thuyết H₀: β₂ = β₃, nhằm xem xét sự khác biệt giữa hai hệ số thể hiện tốc độ điều chỉnh về mức cân bằng khi lãi suất ngắn hạn cao hơn hoặc thấp hơn mức cân bằng (β₂ và β₃) Nếu giả thuyết H₀ bị bác bỏ, điều này cho thấy có sự bất đối xứng trong tốc độ điều chỉnh của các biến động ngắn hạn Kết quả kiểm định đã được thực hiện để xác định vấn đề này.

Bảng 4.5: Kết quả kiểm định sự bất cân xứng bằng kiểm định

Nguồn: Kết quả ước lượng trên phần mềm Eviews 6.0. Ghi chú: (1): Biến ∆� là sự thay đổi lãi suất liên ngân hàng; (2): sự thay đổi lãi suất trái phiếu

� 0 là hệ số truyền dẫn ngắn hạn

� 2 : Tốc độ điều chỉnh sai số khi lãi suất trên mức cân bằng

� 3 : Tốc độ điều chỉnh sai số khi lãi suất dưới mức cân bằng

Kết quả phân tích cho thấy p-value nhỏ hơn các mức ý nghĩa, dẫn đến việc bác bỏ giả thuyết H0, điều này chỉ ra sự bất cân xứng trong truyền dẫn lãi suất bán lẻ Phát hiện này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Khắc Quốc Bảo và Nguyễn Hữu Huy Nhựt (2013) cũng như Sebastian Roelands.

Nghiên cứu của Quốc Bảo (2013) chỉ ra rằng lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu không có ảnh hưởng đáng kể đến lãi suất cho vay tại Việt Nam Các ngân hàng thường tăng lãi suất cho vay ngay lập tức khi lãi suất tái cấp vốn tăng, nhưng lại giảm lãi suất cho vay chậm hơn khi lãi suất này giảm Điều này có thể được giải thích bởi hai nguyên nhân chính: thứ nhất, các ngân hàng ưu tiên lợi nhuận của mình mà không chú ý đến lợi ích của các nhóm khác; thứ hai, Ngân hàng Nhà nước chủ yếu kiểm soát lãi suất thông qua các biện pháp hành chính Mối quan hệ giữa người làm chính sách và ngân hàng cũng góp phần làm giảm tác động của lãi suất tái cấp vốn đến lãi suất cho vay.

Năm 2006, không có bằng chứng cho thấy sự bất cân xứng trong truyền dẫn lãi suất Liu (2006) cho rằng sự thiếu hụt này là kết quả của sự cạnh tranh gia tăng giữa các ngân hàng trong những năm gần đây về thị phần.

Bảng 4.6: Bảng tổng hợp các kết quả hồi quy

Kết quả ước lượng trên phần mềm Eviews 6.0 cho thấy mối quan hệ giữa các biến độc lập, bao gồm lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất trái phiếu Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích tình hình tài chính và thị trường.

Số trong ngoặc là hệ số ước tính t-ratios

� 0 là hệ số truyền dẫn ngắn hạn

� là tốc độ điều chỉnh

� 2 : Tốc độ điều chỉnh sai số khi lãi suất trên mức cân bằng

� 3 : Tốc độ điều chỉnh sai số khi lãi suất dưới mức cân bằng

*: mức ý nghĩa 1%; **: mức ý nghĩa 5%; *** mức ý nghĩa 10%

Nghiên cứu cho thấy rằng trong dài hạn, mức độ truyền dẫn lãi suất không hoàn toàn, với lãi suất chính sách ảnh hưởng mạnh mẽ hơn đến lãi suất liên ngân hàng so với lãi suất trái phiếu Sự truyền dẫn đến lãi suất tiền gửi diễn ra nhanh hơn so với lãi suất cho vay, nhưng vẫn chưa hoàn toàn Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây của Sorensen (2006), Marotta (2008), Byungchul Yu (2013), Pil Nee Tai (2012), Akberto Motagnoli (2012), Sheikh Khurram Fazal (2013), Marco A Espinosa (2003), Alexander Tieman (2004) và Dongyang Di.

Nghiên cứu năm 2014 cho rằng sự dẫn truyền lãi suất không hoàn toàn diễn ra trong dài hạn, điều này không hoàn toàn nhất quán với các kết quả nghiên cứu của Liu (2006), Cuaresma (2002) và Fuertes (2008), những người cho rằng quá trình truyền dẫn lãi suất chỉ xảy ra hoàn toàn đối với một số lãi suất bán lẻ nhất định.

Nghiên cứu cho thấy trong ngắn hạn, sự dẫn truyền lãi suất không hoàn toàn và có mức độ truyền dẫn thấp, với lãi suất tiền gửi có mức dẫn truyền cao hơn lãi suất cho vay Kết quả này nhất quán với các nghiên cứu trước đây của Sanusi (2010), Tieman (2004), A Espinosa (2003), Fazal (2013), Montagnoli (2012), Tai (2012), Di (2014) và Bondt (2002), cho thấy rằng sự dẫn truyền trong ngắn hạn cũng không hoàn toàn.

Nghiên cứu cho thấy rằng tốc độ điều chỉnh âm trong độ biến động lãi suất phản ánh rằng khi lãi suất tăng cao, rủi ro cũng gia tăng, dẫn đến mức độ truyền dẫn giảm Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra sự bất cân xứng trong truyền dẫn lãi suất bán lẻ, điều này phù hợp với các phát hiện của tác giả Nguyễn Khắc Quốc Bảo và Nguyễn Hữu Huy Nhựt.

Năm 2013, Sebastian Roelands chỉ ra rằng có sự bất cân xứng trong quá trình truyền dẫn lãi suất Ngược lại, nghiên cứu của Ming-Hua Liu vào năm 2006 không phát hiện bằng chứng nào cho thấy sự bất cân xứng này tồn tại.

Kết luận

Nghiên cứu cho thấy rằng trong dài hạn, mức độ truyền dẫn lãi suất không hoàn toàn, với lãi suất liên ngân hàng phản ứng mạnh mẽ hơn so với lãi suất trái phiếu Sự truyền dẫn đến lãi suất tiền gửi diễn ra nhanh hơn so với lãi suất cho vay, nhưng vẫn chưa hoàn toàn Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây của Sorensen (2006), Marotta (2008), Byungchul Yu (2013), Pil Nee Tai (2012), Akberto Motagnoli (2012), Sheikh Khurram Fazal (2013), Marco A Espinosa (2003), Alexander Tieman (2004) và Dongyang Di.

Năm 2014, một nghiên cứu cho rằng sự dẫn truyền lãi suất không hoàn toàn diễn ra trong dài hạn Tuy nhiên, quan điểm này không nhất quán với các nghiên cứu trước đó của Liu (2006), Cuaresma (2002) và Fuertes (2008), những tác giả này cho rằng quá trình truyền dẫn lãi suất chỉ xảy ra hoàn toàn đối với một số lãi suất bán lẻ nhất định.

Nghiên cứu cho thấy rằng trong ngắn hạn, sự dẫn truyền lãi suất không hoàn toàn và có mức độ truyền dẫn thấp, với lãi suất tiền gửi có mức dẫn truyền cao hơn so với lãi suất cho vay Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây của Sanusi (2010), Tieman (2004), A Espinosa (2003), Fazal (2013), Montagnoli (2012), Tai (2012), Di (2014) và Bondt (2002), tất cả đều chỉ ra rằng sự dẫn truyền lãi suất trong ngắn hạn không hoàn toàn.

Nghiên cứu cho thấy rằng tốc độ điều chỉnh âm trong biến động lãi suất cho thấy khi lãi suất biến động mạnh, rủi ro cao hơn dẫn đến mức độ truyền dẫn giảm Đồng thời, có sự bất cân xứng trong truyền dẫn lãi suất bán lẻ, kết quả này nhất quán với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Khắc Quốc Bảo và Nguyễn Hữu Huy Nhựt.

Nghiên cứu của Sebastian Roelands (2012) chỉ ra rằng có sự bất cân xứng trong truyền dẫn lãi suất, trong khi Ming – Hua Liu (2006) lại không tìm thấy bằng chứng cho điều này.

Ngày đăng: 12/10/2022, 21:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SVAR Mơ hình tự hồi quy véc tơ cấu trúc Structural Vector Autoregressive Model VECMMơ hình vector hiệu chỉnh sai số Vector Error Correction - Nghiên cứu sự truyền dẫn lãi suất ở việt nam  luận văn thạc sĩ kinh tế
h ình tự hồi quy véc tơ cấu trúc Structural Vector Autoregressive Model VECMMơ hình vector hiệu chỉnh sai số Vector Error Correction (Trang 4)
ARDL Mơ hình Var trễ phân phối dừng tự hồi quy - Nghiên cứu sự truyền dẫn lãi suất ở việt nam  luận văn thạc sĩ kinh tế
h ình Var trễ phân phối dừng tự hồi quy (Trang 4)
Để ước tính sự dẫn truyền trong dài hạn, tác giả dùng mơ hình tự hồi quy độ trễ như sau: - Nghiên cứu sự truyền dẫn lãi suất ở việt nam  luận văn thạc sĩ kinh tế
c tính sự dẫn truyền trong dài hạn, tác giả dùng mơ hình tự hồi quy độ trễ như sau: (Trang 17)
Để ước lượng sự dẫn truyền, tác giả dùng mơ hình hiệu chỉnh sai số - Nghiên cứu sự truyền dẫn lãi suất ở việt nam  luận văn thạc sĩ kinh tế
c lượng sự dẫn truyền, tác giả dùng mơ hình hiệu chỉnh sai số (Trang 19)
Để xem xét sự dẫn truyền trong ngắn hạn, tác giả dùng mơ hình hiệu chỉnh sai số sau: - Nghiên cứu sự truyền dẫn lãi suất ở việt nam  luận văn thạc sĩ kinh tế
xem xét sự dẫn truyền trong ngắn hạn, tác giả dùng mơ hình hiệu chỉnh sai số sau: (Trang 21)
STT Đối tượng lao động Số lượng Hình thức trả lương 1Cán bộ lãnh đạo Cơng ty (bổ nhiệm)7 Trả lương theo sản phẩm - Nghiên cứu sự truyền dẫn lãi suất ở việt nam  luận văn thạc sĩ kinh tế
i tượng lao động Số lượng Hình thức trả lương 1Cán bộ lãnh đạo Cơng ty (bổ nhiệm)7 Trả lương theo sản phẩm (Trang 24)
Bảng 2.1: Tóm tắt các kết quả nghiên cứu trước đây - Nghiên cứu sự truyền dẫn lãi suất ở việt nam  luận văn thạc sĩ kinh tế
Bảng 2.1 Tóm tắt các kết quả nghiên cứu trước đây (Trang 42)
Bảng 3.1: Bảng mô tả biến và nguồn dữ liệu - Nghiên cứu sự truyền dẫn lãi suất ở việt nam  luận văn thạc sĩ kinh tế
Bảng 3.1 Bảng mô tả biến và nguồn dữ liệu (Trang 49)
Mơ hình ECM là mơ hình có nhiều ưu điểm nổi bật so với các mơ hình khác. Mơ hình ECM được dùng nhiều trong các nghiên cứu về truyền dẫn lãi suất như : Bondt (2002) ; Crespo – Cuaresma (2002) ; Sorensen (2006) ; Liu (2006) ;   Tieman   (2004) ;   Marotta - Nghiên cứu sự truyền dẫn lãi suất ở việt nam  luận văn thạc sĩ kinh tế
h ình ECM là mơ hình có nhiều ưu điểm nổi bật so với các mơ hình khác. Mơ hình ECM được dùng nhiều trong các nghiên cứu về truyền dẫn lãi suất như : Bondt (2002) ; Crespo – Cuaresma (2002) ; Sorensen (2006) ; Liu (2006) ; Tieman (2004) ; Marotta (Trang 53)
Bảng 4.1: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị - Nghiên cứu sự truyền dẫn lãi suất ở việt nam  luận văn thạc sĩ kinh tế
Bảng 4.1 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị (Trang 58)
Bảng 4.2: Kết quả dẫn truyền dài hạn - Nghiên cứu sự truyền dẫn lãi suất ở việt nam  luận văn thạc sĩ kinh tế
Bảng 4.2 Kết quả dẫn truyền dài hạn (Trang 59)
Bảng 4.3: Kết quả kiểm định tính dừng của phần dư - Nghiên cứu sự truyền dẫn lãi suất ở việt nam  luận văn thạc sĩ kinh tế
Bảng 4.3 Kết quả kiểm định tính dừng của phần dư (Trang 62)
Bảng 4.4: Kết quả dẫn truyền trong ngắn hạn và tốc độ điều chỉnh - Nghiên cứu sự truyền dẫn lãi suất ở việt nam  luận văn thạc sĩ kinh tế
Bảng 4.4 Kết quả dẫn truyền trong ngắn hạn và tốc độ điều chỉnh (Trang 64)
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định sự bất cân xứng bằng kiểm định Wald test - Nghiên cứu sự truyền dẫn lãi suất ở việt nam  luận văn thạc sĩ kinh tế
Bảng 4.5 Kết quả kiểm định sự bất cân xứng bằng kiểm định Wald test (Trang 67)
Bảng 4.6: Bảng tổng hợp các kết quả hồi quy - Nghiên cứu sự truyền dẫn lãi suất ở việt nam  luận văn thạc sĩ kinh tế
Bảng 4.6 Bảng tổng hợp các kết quả hồi quy (Trang 69)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w