Gi ớ i thi ệ u
Hình 1.1 Tỷ lệ tín dụng ngân hàng trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) giai đoạn 2002-2011 (đơn vị tính: %)
Nguồn số liệu: Ngân hàng Thế Giới
Tính đến cuối năm 2011, tỷ lệ tín dụng trên GDP tại Việt Nam đạt khoảng 121%, tăng mạnh từ 45% vào năm 2002, cho thấy sự gia tăng nhanh chóng của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế Tỷ lệ tín dụng cao phản ánh ảnh hưởng lớn của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế, khiến nhà nước xem đây là kênh quan trọng để thực hiện chính sách tiền tệ Mặc dù tỷ lệ tín dụng đã liên tục gia tăng, nhưng đã giảm từ năm 2010 đến 2011 do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu Điều này đặt ra câu hỏi về mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và chính sách tiền tệ, cũng như những yếu tố khác liên quan đến sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của Việt Nam, đặc biệt sau khi thị trường chứng khoán trong nước hoạt động từ ngày 20/07/2000, tạo ra kênh huy động vốn mới cho doanh nghiệp.
Hình 1.2 Biến động chỉ số VN-Index trong 5 năm 2009-2013
Thị trường chứng khoán Việt Nam còn non trẻ và đang gặp khó khăn trong việc huy động vốn, do hệ thống tài chính chưa phát triển mạnh mẽ Trong suốt năm năm qua, thị trường chứng khoán gần như bị đóng băng, với chỉ số VN-Index dao động quanh mức 400-500 điểm, chủ yếu do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế Vì vậy, kênh tín dụng ngân hàng hiện đang trở thành nguồn cung cấp vốn chính cho nền kinh tế.
Hiểu rõ cách thức truyền dẫn chính sách tiền tệ vào nền kinh tế Việt Nam là cần thiết để các nhà làm chính sách có cái nhìn đúng đắn và thực hiện các bước đi phù hợp nhằm điều hành nền kinh tế hiệu quả Mặc dù có một số nghiên cứu trước đây về kênh tín dụng ngân hàng tại Việt Nam, nhưng chúng chủ yếu tập trung vào cái nhìn tổng quan về các con đường truyền dẫn chính sách tiền tệ, thiếu các nghiên cứu chuyên sâu về kênh tín dụng ngân hàng.
Bài nghiên cứu này nhằm khảo sát vai trò của kênh tín dụng ngân hàng trong việc truyền dẫn chính sách tiền tệ tại Việt Nam, tập trung vào việc phân tích sự khác biệt trong tác động của chính sách tiền tệ đối với tín dụng ngân hàng dựa trên quy mô, sức mạnh vốn và tính thanh khoản của các ngân hàng Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng cho 37 ngân hàng thương mại tại Việt Nam từ năm 2002 đến 2012, áp dụng phương pháp ước lượng bảng linh hoạt Đặc biệt, bài nghiên cứu áp dụng phương pháp của Ashcraft (2006) để đánh giá sự khác biệt trong phản ứng của tăng trưởng tín dụng ngân hàng dựa trên các yếu tố như quy mô, thanh khoản và vốn hóa ngân hàng, nhằm làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ vốn của hệ thống ngân hàng trước các cú shock tiền tệ.
(b) tăng trưởng sản lượng quốc gia đối với tăng trưởng tín dụng quốc gia.
Bài nghiên cứu được tổ chức thành các phần rõ ràng: Phần 2 diễn giải kết quả từ các nghiên cứu trước, Phần 3 mô tả phương pháp và cách thu thập dữ liệu, Phần 4 trình bày và phân tích kết quả thực nghiệm từ dữ liệu ngân hàng đơn lẻ, tiếp theo là kết quả vĩ mô của kênh tín dụng ngân hàng, và cuối cùng, Phần 5 đưa ra kết luận.
T ổ ng quan các k ế t qu ả nghiên c ứu trước đây
Khung lý thuy ế t v ề s ự truy ề n d ẫ n chính sách ti ề n t ệ
2.1.1 Vai trò của chính sách tiền tệ
Trường phái Kinh tế học cổ điển cho rằng nhà nước chỉ cần thực hiện ba chức năng cơ bản: bảo đảm môi trường hòa bình, tạo ra môi trường thể chế cho phát triển kinh tế và cung cấp hàng hóa công cộng, trong khi không cần can thiệp sâu vào nền kinh tế nhờ vào "Bàn tay vô hình" (A.Smith, 1776) Ngược lại, Kinh tế học tân cổ điển nhấn mạnh rằng nhà nước cần can thiệp vào thị trường để duy trì sự ổn định thông qua chính sách tiền tệ và tài khóa (Keynes, 1931, 1936).
Chính sách tiền tệ, theo định nghĩa của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, là các hành động nhằm kiểm soát tính sẵn có và chi phí của tiền tệ và tín dụng Các kỳ vọng của thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá cả và tăng trưởng, do đó, chính sách tiền tệ cũng bao gồm hướng dẫn, chính sách, tuyên bố và hành động của Ngân hàng Trung ương để chi phối kỳ vọng về tương lai.
Ngân hàng Trung Ương giữ vai trò là Người cho vay cuối cùng trong hệ thống tiền tệ quốc gia, đảm bảo sự hoạt động hiệu quả của môi trường trung gian tài chính Điều này được thực hiện thông qua việc cung cấp thanh khoản phù hợp cho các thị trường tài chính (Labonte, M., 2013).
Friedman (1968) đã phân tích những giới hạn của chính sách tiền tệ, nhấn mạnh những điều mà nó không thể đạt được, cũng như những tác động tích cực mà chính sách này có thể mang lại Ông cũng trình bày cách thức thực hiện chính sách tiền tệ một cách hiệu quả.
Bàn về những hạn chế mà chính sách tiền tệ không làm được, Friedman
Theo quan điểm của (1968), chính sách tiền tệ không thể duy trì kiểm soát các biến thực như tỷ lệ thất nghiệp và GDP trong dài hạn Thay vào đó, trong thời gian dài, chính sách này chỉ có khả năng điều chỉnh các biến danh nghĩa như tỷ giá hối đoái, mức giá và tổng cung tiền.
Friedman (1968) đã chỉ ra ba vai trò quan trọng của chính sách tiền tệ Đầu tiên, nó giúp ngăn chặn các xáo trộn lớn và sai sót nghiêm trọng trong nền kinh tế Thứ hai, chính sách tiền tệ cung cấp một nền tảng ổn định, đặc biệt là trong việc duy trì sự ổn định giá cả Cuối cùng, chính sách này có thể hỗ trợ trong việc điều chỉnh các rối loạn kinh tế do nguyên nhân khác ngoài chính sách tiền tệ gây ra.
Liên quan đến chính sách tiền tệ làm sao có thể được thực hiện, Friedman
Năm 1968, hai yêu cầu quan trọng được đưa ra cho các ngân hàng trung ương: Thứ nhất, các ngân hàng nên tập trung vào những biến số mà họ có khả năng kiểm soát, như tỷ giá, giá cả và tổng cung tiền Thứ hai, các ngân hàng trung ương cần tránh thực hiện những thay đổi đột ngột trong chính sách.
2.1.2 Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ
Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ là quá trình mà chính sách này tác động đến các biến số vĩ mô quan trọng như tổng tiêu dùng, giá cả, đầu tư và sản lượng Mishkin, một trong những nhà kinh tế học tiên phong trong lĩnh vực này, đã nghiên cứu và xác định các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ Theo Mishkin (1996), các con đường này bao gồm kênh lãi suất, kênh tín dụng, kênh tỷ giá và kênh giá tài sản.
Hình 2.1 Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ
Nguồn: Ngân hàng Trung ương châu Âu
Theo Mishkin (2006), chính sách tiền tệ mở rộng làm giảm lãi suất thực, dẫn đến chi phí vốn thấp hơn Sự giảm lãi suất khuyến khích doanh nghiệp tăng cường đầu tư và khách hàng chi tiêu nhiều hơn vào nhà ở và hàng hóa lâu bền, điều này cũng được coi là hình thức đầu tư Tăng cường chi tiêu đầu tư sẽ thúc đẩy tổng cầu và làm tăng sản lượng.
Theo Mishkin (2006), sự gia tăng cung tiền gây ra giảm lãi suất thực trong nước, làm cho tài sản định danh bằng đồng nội tệ trở nên kém hấp dẫn hơn so với tài sản định danh bằng đồng ngoại tệ Hệ quả là đồng nội tệ giảm giá, khiến hàng hóa trong nước trở nên rẻ hơn so với hàng hóa nước ngoài, từ đó thúc đẩy xuất khẩu ròng và tăng trưởng sản lượng.
Theo Minshkin (1995), kênh giá tài sản có hai tác động chính: lý thuyết q của Tobin về đầu tư và ảnh hưởng của tài sản đối với tiêu dùng Mishkin (1996) định nghĩa q là tỷ lệ giữa giá trị thị trường của doanh nghiệp và chi phí thay thế vốn Khi q cao, chi phí thay thế vốn thấp hơn giá trị thị trường, cho phép doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn vào máy móc thiết bị, dẫn đến tăng trưởng đầu tư Ngược lại, khi q thấp, giá trị thị trường giảm so với chi phí thay thế, khiến doanh nghiệp hạn chế đầu tư tài sản, dẫn đến giảm đầu tư.
Trong kinh tế học, khi cung tiền giảm, người dân sẽ có ít tiền hơn và sẽ cố gắng giảm chi tiêu Một trong những phương thức để thực hiện điều này là giảm tổng số tiền đầu tư vào thị trường chứng khoán, dẫn đến giảm cầu và giá cổ phiếu.
Mô hình chu kỳ sống của Modigliani (1971) cho thấy rằng tiêu dùng của khách hàng bị ảnh hưởng bởi tài sản của họ, bao gồm vốn con người, vốn thực và tài sản tài chính Trong đó, chứng khoán là thành phần chủ yếu của tài sản tài chính Khi giá chứng khoán giảm, giá trị tài sản của khách hàng cũng giảm theo, dẫn đến việc họ cắt giảm chi tiêu cho tiêu dùng.
Kênh tín dụng chủ yếu liên quan đến các vấn đề gia tăng của người đại diện do bất cân xứng thông tin và chi phí cao trong các hợp đồng tài chính Kênh tín dụng hoạt động chủ yếu qua hai hình thức: kênh tín dụng ngân hàng và kênh bảng cân đối tài sản (Mishkin, 1995).
Sự gia tăng cung tiền có thể dẫn đến giảm tiền gửi ngân hàng, từ đó làm giảm tổng số tiền mà ngân hàng có thể cho vay Hệ quả là đầu tư giảm và tổng cầu cũng bị ảnh hưởng Kênh này cho phép chính sách tiền tệ hoạt động mà không cần dựa vào lãi suất, nghĩa là việc giảm lãi suất chưa chắc đã thúc đẩy đầu tư Tuy nhiên, cần lưu ý rằng những cải tiến trong lĩnh vực tài chính có thể làm giảm hiệu quả của kênh này (Mishkin, 1995).
nghiên Các c ứ u v ề kênh tín d ụ ng ngân hàng
Hình 2.5 Lãi suất cơ bản tại Việt Nam giai đoạn 2000-2010
Nguồn số liệu: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
2.2 Các nghiên cứu về kênh tín dụng ngân hàng
2.2.1 Các nghiên cứu lý thuyết
Kênh tín dụng là một khái niệm quan trọng trong việc truyền dẫn chính sách tiền tệ, được nghiên cứu từ sớm, như trong bài viết của Bernanke và Blinder (1988), khi họ mở rộng mô hình IS-LM thành mô hình tổng cầu với tín dụng là một biến quan trọng Kênh tín dụng tồn tại khi có những người đi vay không thể tìm kiếm sự thay thế hoàn hảo cho tín dụng ngân hàng và khi sự điều chỉnh giá không hoàn hảo, dẫn đến nguồn cung vốn phi tiền gửi của các ngân hàng không hoàn toàn co giãn Các ngân hàng không thể thay thế dự trữ bắt buộc bằng các nguồn thay thế khác trong bối cảnh chính sách thắt chặt tiền tệ, như chứng chỉ tiền gửi hay giảm nắm giữ trái phiếu (Bernanke & Gertler, 1995).
Kishan và Opiela (2006) đã đề xuất khái niệm về kênh tín dụng ngân hàng, cho rằng các ngân hàng có bảng cân đối tài chính yếu sẽ gặp khó khăn trong việc tăng cường quỹ không đảm bảo do chi phí đại diện trong thị trường tiền gửi Điều này dẫn đến việc các ngân hàng có nguồn vốn thấp bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi chính sách tiền tệ thu hẹp, trong khi chính sách tiền tệ mở rộng lại không kích thích được sự tăng trưởng tín dụng của họ.
Một số nghiên cứu gần đây đã phân tích các điều kiện cần thiết để kênh tín dụng tồn tại, nhấn mạnh rằng sự không thể thay thế giữa các khoản tín dụng và trái phiếu vi phạm mệnh đề của Modigliani – Miller (1958) Stein (1998) đã chỉ ra rằng các nguồn quỹ không đảm bảo có thể dẫn đến vấn đề lựa chọn đối nghịch và phân phối tín dụng Cụ thể, nếu có sự lựa chọn đối nghịch lớn trên thị trường cho các chứng chỉ tiền gửi (CDs) không bảo đảm, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc bù đắp khoản mất mát tiền gửi đảm bảo, dẫn đến việc giảm quỹ tín dụng cho khách hàng Tài liệu của Kashyap và Stein (1993, 2000) cung cấp cái nhìn tổng quan về những vấn đề này.
Kênh tín dụng ngân hàng phản ánh cách các khoản vay ngân hàng điều chỉnh trước các thay đổi trong chính sách tiền tệ, tùy thuộc vào đặc điểm của ngân hàng và tình hình bảng cân đối kế toán Các ngân hàng có bảng cân đối yếu thường nhạy cảm hơn với các cú sốc tiền tệ so với những ngân hàng có bảng cân đối mạnh Nghiên cứu đã chỉ ra ba đặc trưng chính của ngân hàng ảnh hưởng đến phản ứng của khoản vay đối với chính sách tiền tệ: quy mô tài sản, vốn hóa ngân hàng và thanh khoản.
2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về kênh tín dụng ngân hàng
2.2.2.1.Các phương pháp sử dụng
Các nghiên cứu tiếp theo đã chuyển hướng sang việc chứng minh thực nghiệm sự tồn tại của kênh tín dụng trong thực tế Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào ba hướng chính: sử dụng dữ liệu ở cấp độ tổng thể, dữ liệu cấp độ ngân hàng, và dữ liệu tổng thể phân tách giữa cung và cầu tín dụng, thường được phân tích bằng Mô hình vector hiệu chỉnh sai số (VECM).
Việc sử dụng dữ liệu cấp độ tổng thể trong nghiên cứu kênh tín dụng và chính sách tiền tệ được khởi xướng bởi Bernanke và Blinder (1992), tập trung vào việc ước lượng các hàm cung tín dụng giản lược Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này gặp phải chỉ trích vì khó khăn trong việc xác định các phản ứng của cung tín dụng, do giả định rằng các cú sốc tiền tệ ảnh hưởng đồng thời đến cầu tín dụng (Romer & Romer).
Việc không phân tách các tác động riêng biệt đã dẫn đến ước lượng quá mức về tác động của chính sách tiền tệ đối với cung tín dụng Để giải quyết vấn đề này, một số nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu cấp độ ngân hàng nhằm giải thích sự không đồng nhất trong phản ứng của các ngân hàng trước các thay đổi trong chính sách tiền tệ Giả định rằng các ngân hàng là người nhận giá, nhưng với phản ứng khác nhau do khả năng thay thế giữa các nguồn tài chính phi tiền gửi khác nhau Thông tin về các đặc tính như vốn hóa, quy mô và thanh khoản của ngân hàng được sử dụng để giải thích sự không đồng nhất này, như đã được nghiên cứu bởi Kashyap & Stein (1995a, 2000), Peek, Rosengren, & Tootell (2003), Angeloni et al (2002) ở châu Âu, và Ashcraft (2006), Cetorelli & Goldberg (2008) tại Mỹ.
Một hướng nghiên cứu đang được chú ý là sử dụng dữ liệu tổng thể và mô hình vector hiệu chỉnh sai số (VECM) để khắc phục nhược điểm của dữ liệu cấp độ ngân hàng Theo Kashyap và Stein (2000), việc sử dụng dữ liệu cấp độ ngân hàng có thể gây khó khăn trong việc đánh giá tác động tổng thể của chính sách tiền tệ đối với tổng tín dụng ngân hàng Nghiên cứu này cho phép xác định cầu và cung tín dụng thông qua việc kiểm định mối quan hệ đồng liên kết và các yếu tố ngoại sinh, từ đó mô hình hóa cầu và cung tín dụng một cách đồng bộ, thay vì chỉ thiết lập trong một phương trình giản lược.
2.2.2.2 Kết quả nghiên cứu trước đây
Các nghiên cứu về vai trò của tín dụng như một kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ cho thấy những kết quả khác nhau, do sự khác biệt trong phương pháp nghiên cứu, mẫu số liệu từ các quốc gia khác nhau và các giai đoạn thời gian khác nhau.
Những nghiên cứu đầu tiên về kênh tín dụng ngân hàng sử dụng dữ liệu cấp độ ngân hàng được thực hiện tại Mỹ Kashyap và Stein (1995a, 1995b) phát hiện rằng các ngân hàng thương mại nhỏ có sự phản ứng mạnh mẽ nhất với chính sách tiền tệ thông qua việc gia tăng khoản vay ngân hàng Nghiên cứu sâu hơn của Kashyap và Stein cũng đã chỉ ra những khía cạnh quan trọng của kênh tín dụng này.
Các ngân hàng được phân chia không chỉ dựa trên quy mô tài sản mà còn theo mức độ thanh khoản Nghiên cứu của Kishan và Opiela chỉ ra rằng những ngân hàng nhỏ nhất, với thanh khoản thấp nhất, thường có phản ứng mạnh mẽ nhất đối với chính sách tiền tệ.
Nghiên cứu trước đây đã phân chia các ngân hàng dựa trên quy mô và độ mạnh vốn, với Kishan và Opiela (2006) tập trung vào các hiệu ứng không đối xứng của chính sách tiền tệ đối với hành vi tín dụng của ngân hàng có vốn ít và nhiều Kết quả của họ khẳng định kênh tín dụng ngân hàng, đặc biệt là trong giai đoạn hậu Basel Tóm lại, các nghiên cứu về ngân hàng tại Mỹ cung cấp bằng chứng vững chắc cho vai trò của kênh tín dụng ngân hàng trong việc truyền dẫn chính sách tiền tệ.
Ashcraft (2006) đã phân tích dữ liệu cấp độ ngân hàng để xác định các phản ứng khác nhau của cung tín dụng đối với sự thay đổi lãi suất quỹ liên bang Tuy nhiên, khi tổng hợp dữ liệu đến cấp độ bang, thị phần tín dụng của các ngân hàng thành viên có xu hướng làm giảm các phản ứng tiêu cực từ việc tăng trưởng tín dụng bang trước các thay đổi trong chính sách tiền tệ Đáng chú ý, độ co giãn tổng thể của sản lượng với tín dụng ngân hàng lại cho thấy giá trị âm và không có ý nghĩa.
Sử dụng dữ liệu tổng thể trên cơ sở mô hình VECM, Hülsewig et al.
Nghiên cứu năm 2002 sử dụng dữ liệu quý của Đức từ Quý 1 năm 1975 đến Quý 4 năm 1998 và phát hiện ba quan hệ đồng liên kết, được giải thích qua các phương trình cầu tín dụng, cung tín dụng và vốn ngân hàng Việc xác định các phương trình này dựa vào dấu hiệu lãi suất cho vay và đi vay của ngân hàng, cùng với nguồn vốn ngân hàng, trong bối cảnh các hạn chế về loại trừ và tính đồng nhất của các hệ số dài hạn Kết quả nghiên cứu hỗ trợ sự tồn tại của kênh tín dụng ngân hàng, mặc dù tác động biên của các cú shock tiền tệ đối với cung tín dụng được ước tính là nhỏ.
Nghiên cứu thực nghiệm tại Brazil, dù còn hạn chế, đã chỉ ra sự tồn tại của kênh tín dụng trong cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ Hầu hết các bằng chứng thực nghiệm được xây dựng dựa trên phương pháp của Kashyap và Stein (2000), sử dụng dữ liệu cấp độ ngân hàng để ước lượng độ nhạy cảm của tín dụng đối với những thay đổi trong chính sách tiền tệ thông qua phương trình giản lược cho cung tín dụng.
Phương pháp nghiên cứ u
Việc sử dụng dữ liệu tổng thể như được trình bày bởi Bernanke và Blinder
Năm 1992, nghiên cứu đã đối mặt với chỉ trích về khả năng xác định phản ứng của cung tín dụng, với giả định rằng cú sốc tiền tệ tác động đồng thời đến cầu tín dụng (Romer & Romer, 1990) Một hướng nghiên cứu thú vị khác là sử dụng dữ liệu tổng thể kết hợp với mô hình vector hiệu chỉnh sai số (VECM) để phân tách tác động của cung và cầu tín dụng Tuy nhiên, việc áp dụng hướng nghiên cứu này tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn do dữ liệu tổng thể chưa được công bố đầy đủ cho đến tháng 4/2012, theo quy định tại Thông tư số 35/2011/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 11/11/2011.
Việc sử dụng dữ liệu ngân hàng để xác định kênh tín dụng trong chính sách tiền tệ thường dựa vào việc phân loại ngân hàng theo quy mô, thanh khoản và mức độ vốn hóa Tuy nhiên, phương pháp này yêu cầu số lượng ngân hàng lớn, điều này phù hợp với các quốc gia có hệ thống tài chính phát triển như Mỹ hay Tây Âu Ngược lại, tại Việt Nam, nơi số lượng ngân hàng còn hạn chế và hầu hết các ngân hàng thương mại mới phát triển trong những năm gần đây, phương pháp này không còn phù hợp.
Phương pháp thay thế sử dụng mô hình bảng giúp phản ứng của tín dụng ngân hàng đối với chính sách tiền tệ phụ thuộc vào các đặc tính của ngân hàng, như đã được chỉ ra trong nghiên cứu của Ehrmann et al (2003) Phương pháp này vượt qua khó khăn về số lượng ngân hàng, do đó được chọn cho bài nghiên cứu Các tác giả phát triển mô hình thị trường tín dụng dựa trên lý thuyết của Bernanke và Blinder (1988), từ đó cung cấp một phương trình liên kết phản ứng của tín dụng ngân hàng với chính sách tiền tệ qua kênh tiền tệ và các đặc tính ngân hàng qua kênh cho vay Mô hình này, sau khi cho phép các thay đổi ngắn hạn, được ước lượng và diễn giải cụ thể.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi xem xét N ngân hàng trong khoảng thời gian T, với i = 1,…, N và t = 1,…, T, trong đó L it đại diện cho nợ vay của ngân hàng i trong năm t Chúng tôi phân tích sự thay đổi lãi suất ngắn hạn danh nghĩa ∆R t-j như một chỉ báo cho chính sách tiền tệ, cùng với tỷ lệ tăng trưởng GDP ∆GDP t-j và tỷ lệ lạm phát ∆CPI t-j, phản ánh nhu cầu tín dụng Các đặc tính của ngân hàng được mô tả qua vector z it, và chúng tôi cũng tính đến các tác động cố định giữa các ngân hàng thông qua hệ số α i.
Cũng thực hiện theo phương pháp nghiên cứu này, Matousek và Sarantis
Năm 2009, một biến giả đã được sử dụng để xác định tác động của ngân hàng nước ngoài và trong nước lên tăng trưởng tín dụng ngân hàng tổng thể Tuy nhiên, hoạt động của các ngân hàng sở hữu nước ngoài tại Việt Nam hiện còn nhiều hạn chế, với tổng tài sản chỉ chiếm khoảng 11% trong toàn ngành tính đến 31/07/2013 Thêm vào đó, thông tin về các ngân hàng này không được công bố rộng rãi, dẫn đến việc mẫu dữ liệu trong nghiên cứu không bao gồm các ngân hàng sở hữu nước ngoài Do đó, biến giả liên quan đến quyền sở hữu không được áp dụng trong nghiên cứu này tại Việt Nam.
Các ngân hàng được đặc trưng bởi ba yếu tố chính: quy mô, thanh khoản và mức vốn hóa Theo nghiên cứu của Kashyap và Stein (1995a, 1995b, 2000) và Kishan và Opiela (2000), quy mô ngân hàng ảnh hưởng đến khả năng đối phó với bất cân xứng thông tin, với các ngân hàng nhỏ dễ bị tổn thương hơn trước các cú sốc chính sách tiền tệ so với ngân hàng lớn Thêm vào đó, thanh khoản là yếu tố quan trọng; các ngân hàng có thanh khoản cao có khả năng bảo vệ danh mục tín dụng tốt hơn bằng cách giảm tài sản thanh khoản, như được chỉ ra bởi Kashyap và Stein (2000) cùng với Ehrmann et al (2003) Cuối cùng, mức độ vốn hóa cũng là một đặc trưng quan trọng, với những ngân hàng có vốn hóa thấp thường giảm cung tiền vay mạnh hơn sau các chính sách thu hẹp tiền tệ, do khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn không bảo đảm, như được nêu bởi Peek và Rosengren (1995) cùng với Kishan và Opiela (2000, 2006).
Các yếu tố đặc trưng của ngân hàng bao gồm Quy mô (S), Thanh khoản (Liq) và Vốn hóa (Cap), được sử dụng để kiểm tra sự tồn tại của các hiệu ứng phân phối từ chính sách tiền tệ giữa các ngân hàng.
1 Tương tự như các tính toán được thực hiện bởi Ehrmann et al (2003) và Gambacorta (2005).
Quy mô ngân hàng được xác định bằng log tổng tài sản, trong khi thanh khoản được tính bằng tỷ số tài sản thanh khoản trên tổng tài sản Vốn hóa ngân hàng được đo bằng tỷ số tổng vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản Dữ liệu về ba đặc trưng này đều được điều chỉnh theo chênh lệch so với giá trị trung bình của tất cả ngân hàng trong mẫu Để loại bỏ xu hướng trong quy mô, mẫu được điều chỉnh không chỉ cho toàn bộ thời gian nghiên cứu mà còn cho từng khoảng thời gian nghiên cứu riêng biệt (Ehrmann et al., 2003).
Việc phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố ngân hàng và lãi suất ngắn hạn giúp hiểu rõ tác động của chính sách tiền tệ Các ngân hàng nhỏ, kém thanh khoản và có vốn hóa thấp thường phản ứng mạnh mẽ hơn trước những thay đổi trong chính sách tiền tệ so với các ngân hàng lớn và có thanh khoản cao Nghiên cứu này nhằm kiểm tra giả thuyết về sự tồn tại của tín dụng ngân hàng thông qua các giả thuyết đã được đề ra.
Tín dụng của các ngân hàng lớn ít nhạy cảm hơn với sự thay đổi trong chính sách tiền tệ so với tín dụng của các ngân hàng nhỏ Điều này cho thấy rằng các ngân hàng lớn có khả năng duy trì ổn định hơn trong bối cảnh biến động kinh tế.
Các ngân hàng có thanh khoản tốt hơn có khả năng mở rộng tín dụng bằng cách giảm tổng tài sản thanh khoản của họ Ngược lại, các ngân hàng kém thanh khoản sẽ phải thu hẹp danh mục tín dụng khi xảy ra cú sốc tiền tệ.
(iii) � 2 � �� ///////////////∆� �−� ���� ��−1 > 0 Ngụ ý rằng các ngân hàng vốn hóa càngcao càng kém nhạy cảm với các thay đổi trong tình hình chính sách tiền tệ.
Phương trình (3.1) mô tả mô hình bảng linh hoạt, được ước lượng bằng phương pháp moments tổng quát (GMM) như đề xuất của Arellano và Bond (1991) trên ứng dụng Eviews 8.0 Phương pháp GMM đảm bảo tính chính xác của các ước lượng tham số thông qua việc lựa chọn biến công cụ cho biến phụ thuộc có độ trễ, giúp giảm thiểu sự tương quan giữa các biến công cụ và khái niệm lỗi của mô hình (Hamilton, 1994) Các biến độc lập có độ trễ được sử dụng làm biến công cụ Để xác nhận tính chính xác của kết quả từ mô hình GMM, nghiên cứu áp dụng kiểm định Sargan và kiểm định Arellano và Bond m2 Kiểm định Sargan (1988) được sử dụng để kiểm tra hiệu lực của các giới hạn xác định vượt mức, đảm bảo rằng biến công cụ không có tương quan với phần dư của mô hình Ngoài ra, kiểm định Arellano và Bond m2 được thực hiện để kiểm tra giả thuyết về sự không tồn tại mối tương quan chuỗi bậc hai trong sự biến động của phương trình phân rã phương sai.
Bảng 3.1 Thống kê dữ liệu
Tổng tài sản (tỷ đồng)
Tổng cho vay (tỷ đồng)
Chỉ số giá tiêu dùng
Tổng sản phẩm quốc dân
Nguồn: tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu
Arellano và Bond (1991) nhấn mạnh rằng độ chính xác của các ước lượng GMM chủ yếu phụ thuộc vào giả định không có tương quan chuỗi bậc hai trong các số dư phân rã phương sai.
Dữ liệu ngân hàng trong nghiên cứu này được thu thập từ báo cáo tài chính của 37 ngân hàng thương mại niêm yết trên HOSE, HNX và OTC trong giai đoạn 2002 – 2012, không bao gồm Ngân hàng Phát Triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội, do đây là các ngân hàng cho vay đối tượng ưu tiên của chính phủ, ít chịu ảnh hưởng từ chính sách tiền tệ Số liệu về các biến kinh tế vĩ mô được trích xuất từ các báo cáo của Ngân hàng Thế Giới.
Trong bài viết này, một số khái niệm quan trọng được định nghĩa như sau: Tín dụng ngân hàng là tổng tín dụng, bao gồm cả nợ xấu; quy mô ngân hàng được xác định qua tổng tài sản trên bảng cân đối kế toán; thanh khoản được tính toán từ tiền và tương đương tiền, tiền gửi, cho vay của các ngân hàng thương mại và Ngân hàng nhà nước, cũng như các trái phiếu, thương phiếu, tài sản tài chính khác và đầu tư chứng khoán ngắn hạn; nguồn vốn được hiểu là tổng vốn và các quỹ.
N ộ i dung và các k ế t qu ả nghiên c ứ u
tác Các động vĩ mô củ a kênh tín d ụ ng ngân hàng
Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ghi nhận 25 doanh nghiệp niêm yết mới, thấp hơn nhiều so với kỷ lục 168 doanh nghiệp năm 2010, cho thấy chỉ khoảng 1% doanh nghiệp có khả năng tiếp cận nguồn tài trợ từ thị trường tài chính Đối với phần lớn doanh nghiệp không thể tự tài trợ hoặc tìm kiếm hỗ trợ từ bạn bè, người thân, vay nợ trở thành phương án duy nhất để tài trợ cho hoạt động và dự án Do đó, tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp vốn cho nền kinh tế Việt Nam.