Lời Nguyện Đại Ấn Karmapa Rangjung Dorje thứ Ba
Karmapa Rangjung Dorje thứ Ba
Trong Mạn đà la, con nhận diện Guru, Bổn tôn và các Thánh Mỗi lúc, mỗi nơi, con cảm nhận sự hiện diện của chư Phật và chư Bồ tát Với tấm lòng thành kính, con tha thiết cầu nguyện các ngài ban phước cho những ước nguyện của con.
Những nghiệp thiện của tâm và thân (2)
Và những công đức của tất cả chúng sanh
Là những dòng suối sạch trong từ Núi Tuyết
Nguyện chúng tự do đổ về biển cả Của Bốn Thân của Phật quả bao la
Qua mọi đời tương lai của con (3) Nguyện con không nghe những từ Như “khổ đau” và “tội lỗi”
Nguyện con luôn luôn Chia xẻ niềm vui và cái tốt đẹp Trong đại dương Pháp bao la
Nguyện con luôn luôn có rảnh rang, lòng tin, chuyên cần (4) và trí huệ,
Gặp những Guru và nhận những giáo huấn cốt lõi của các ngài
Trong thực hành nguyện con không bao giờ gặp
Những trở ngại mà luôn luôn Hưởng thụ Pháp trong những đời tương lai
(5) Nguyện Tỉnh Giác phân biện và thiêng liêng
Giải thoát cho con khỏi vô minh:
Nguyện những Giáo Huấn cốt lõi phá tan mọi nghi ngờ bóng tối
Qua ánh sáng của thiền định Nguyện con thấy ra Chân Lý lộ bày,
Và đốt lên ánh sáng của Ba Trí Huệ
(6) Nền Tảng là Hai Chân Lý (nhị đế) Vượt khỏi những kiến chấp có, không:
Con đường là sự chuẩn bị tâm linh
Xa lìa tăng và giảm:
Quả là Hai Lợi Lạc, tự giác giác tha Siêu vượt khỏi sanh tử và Niết bàn
Nguyện con luôn luôn gặp được những giáo pháp
Chân chánh này suốt những đời vị lai
(7) Tinh túy Tâm rỗng rang và sáng chói –
Cội nguồn đích thực của Hai trong Một Đại Ấn kim cương cắt đứt thường tịnh hóa
Vô minh và nhiễm ô, những mê lầm thoáng chốc
Nguyện con đạt đến Pháp thân vô cấu Quả của tịnh hóa, thường hiển lộ
(8) Cái Thấy của Đại Ấn là không thêm chút gì
Vào bản tánh của Tâm
Chánh niệm với cái Thấy này, không xao lãng là Thiền Định
Thường trực ở trong đó là Hạnh tối thượng
Nguyện con xác quyết an trụ trong cái Thấy, Thiền Định và
(9) Mọi hình tướng chỉ là những biểu hiện của tự tâm Tâm vốn vô tâm và trống không trong bản chất
Dù trống không nhưng không đoạn diệt,
Mà biểu lộ tất cả mọi sự
Nguyện con luôn luôn quán sát Chân lý này
Và đạt được cái Thấy xác quyết
Vì mê, những tự-biểu lộ vốn trống không
Chúng ta lầm cho là những đối tượng có thực và ở bên ngoài:
Chúng ta chấp lấy tánh tự giác
Do hai cái chấp (ngã và pháp) này, Con người lang thang trong sanh tử Ôi, nguyện con cắt đứt
Sự mù tối căn bản này
“Không có gì thực sự có!”, vì ngay cả
Phật cũng không thấy có gì
“Tất cả chẳng phải là không!“, vì niết bàn
Và sanh tử vẫn hiện hữu
Trung đạo kỳ diệu này của Hai trong Một
Thì không thuận cũng không nghịch Ôi nguyện con chứng ngộ tự tâm
Thoát khỏi mọi phân biệt
(12) Không ai có thể diễn tả Nó bằng cách nói “Nó là cái này”
Không ai có thể bác bỏ Nó bằng cách nói
“Nó không phải là cái này”
Cái Không này của thật pháp Siêu vượt khỏi lãnh vực của thức –
Nguyện con hiểu ngộ nó Với sự xác tín sâu xa
Mê mờ Cái Này, người ta lang thang trong sanh tử: Thấy được Cái Này, không có giác ngộ nào khác
Trong chân lý rốt ráo không có đây và kia
Nguyện con chứng ngộ pháp tánh –
Nghĩa và nguồn của tất cả hiện hữu
(14) Hình tướng biểu lộ là tâm:
Tánh không cũng là tâm
Mê mờ cũng là tâm Khởi diệt của các pháp Cũng chỉ có trong tâm
Nguyện con hiểu rằng mọi sự
(15) Không nhiễm ô bởi ý định thực hành hay nỗ lực,
Xa lìa khỏi ảnh hưởng thế gian và những phóng dật, Nguyện con an trụ thong dong trong trạng thái tự nhiên của tâm
Và khéo học điểm vi diệu của tu tâm
(16) Mạnh và yếu, tỏ và mờ Những sóng tư tưởng chìm lặng mất:
Dòng tâm nhẹ nhàng chảy không hề bị quấy động,
Xa lìa cấu nhiễm của hôn trầm phóng dật
Nguyện con đi vào đại dương chánh định thường trụ bất động
(17) Thường quán sát cái Tâm không thể quán
Thấy rõ ràng Chân lý không thể thấy
Nguyện đoạn trừ những nghi ngờ thấy có thấy không Nguyện con nhìn thấy xác quyết Bản lai diện mục
(18) Khi quán sát ngoại vật, con chỉ tìm thấy tâm mình:
Khi quán sát tâm, con chỉ tìm thấy tánh không:
Khi quán sát cả tâm và vật, Con thoát khỏi hai chấp ngã-pháp
Nguyện con chứng ngộ tự tánh của tâm tỏa sáng
Vì Cái Ấy siêu việt tâm thức,
Nó được gọi là Đại Ấn:
Vì Cái Ấy thoát khỏi những cực đoan,
Nó được gọi là Trung Đạo vĩ đại:
Vì Cái Ấy bao trùm tất cả,
Nó được gọi là Đại Toàn Thiện:
Nguyện con luôn hiểu rằng Biết cái một là biết tất cả
Vì không tham luyến, Đại Lạc tương tục sanh khởi Thoát khỏi bám chấp, Ánh Sáng thành rạng rỡ
Thấu thoát những ngăn ngại và bóng mờ
Nguyện con hành không ngừng sự thực hành-không-cố gắng này,
Nó là tự do mà tự duy trì, không dính dáng gì đến tư tưởng
Tham cầu kinh nghiệm thiền định sẽ dẫn đến sự tự tan biến của bản thân Vọng niệm và ác niệm sẽ tự tịnh hóa trong Pháp Giới Tâm bình thường ở đây không còn sự lấy, bỏ, được mất.
Nguyện con chứng ngộ Pháp tánh –
Vốn xa lìa mọi hý luận, tạo dựng
(22) Không biết tự tánh của mình
Là một với tánh của Phật, Chúng sanh không ngừng lang thang trong sanh tử Đối với tất cả chúng sanh trói buộc trong khổ đau phiền não,
Nguyện con luôn luôn xót thương chân thật
Bằng lòng đại bi không thể chịu đựng
(23) Khi lòng bi này sanh khởi, Tánh không vĩ đại cũng sáng rỡ hiện bày
Con Đường tối thượng sáng tỏ Hai trong Một này,
Nguyện con ngày đêm không lìa bỏ
(24) Nguyện con sử dụng nhãn và những thông
Có được từ thiền định, Để thành tựu những chúng sanh,
Và phụng sự tất cả chư Phật và cõi của các ngài Nguyện con làm tròn đại nguyện của các bậc Giác Ngộ,
Và nhanh chóng đạt đến Phật quả tối thượng và toàn hảo
Vĩ đại thay năng lực của mọi công đức trong vũ trụ,
Vĩ đại thay năng lực của lòng bi của chư Phật,
Với sự nâng đỡ của thần lực vĩ đại này,
Và được ánh sáng của Pháp hướng dẫn
Nguyện mọi nguyện lành của con và của chúng sanh Được dễ dàng thành tựu.
Những Cơ Bản của Thực Hành Đại Ấn như được ban bởi Lama Kong Ka
như được ban bởi Lama Kong Ka
Để thực hành thiền định Đại Ấn, trước tiên, người học cần được quán đảnh bởi một vị Thầy có phẩm chất Mục tiêu của việc nhập môn là giúp học trò nhận biết tánh Giác minh-không của tự tâm mình Khi nhận thức được tánh giác vốn có và không có hình tướng, học trò mới có thể thực hành Đại Ấn đúng cách Nếu không đạt được điều này, họ sẽ gặp khó khăn trong việc thoát khỏi vướng mắc nhị nguyên chủ thể-đối tượng và không thể nâng cao tâm thức đến trạng thái không phân biệt và không bám luyến Để thâm nhập vào tánh giác minh-không, cần thường xuyên thực hành những giáo huấn cơ bản.
Người có thể đạt được sự nghỉ ngơi trong tánh Tỉnh Giác thuần tịnh sẽ có khả năng làm bất cứ điều gì Thực hành Đại Ấn yêu cầu chấm dứt sự phân biệt và từ bỏ những tư tưởng thói quen Để đạt được trạng thái Samadhi, cần kết hợp chánh định với các hoạt động hàng ngày Trước tiên, cần tập trung vào thiền định tĩnh lặng, sau đó áp dụng tỉnh giác Đại Ấn như một thực hành phụ trợ trong cuộc sống.
Có ba cơ bản trong thực hành Đại Ấn: quân bình, thư giãn và tự nhiên.
Quân bình là sự hài hòa giữa thân, khẩu và tâm Để đạt được quân bình thân, cần buông lỏng cơ thể; quân bình khẩu yêu cầu làm chậm nhịp thở; còn quân bình tâm là không bám víu hay nương dựa vào bất kỳ điều gì Đây là phương pháp tối thượng để điều phục thân, hơi thở (khí) và tâm trí.
Thư giãn và buông lỏng tâm trí giúp mọi thứ tự nhiên diễn ra, loại bỏ những ý niệm và tư tưởng không cần thiết Khi cơ thể và tâm hồn hoàn toàn thả lỏng, chúng ta có thể an trú trong trạng thái tự nhiên mà không cần nỗ lực Trạng thái tự nhiên này không phân biệt và không có sự phóng dật, mang lại cảm giác bình yên và tự do.
Tự nhiên trong thiền nghĩa là không can thiệp hay điều chỉnh bất cứ điều gì, cho phép giác quan và tâm trí tự do hoạt động mà không bị áp lực hay ngăn cản Việc thực hành sự tự nhiên đòi hỏi không nỗ lực, mà là để mọi thứ diễn ra theo cách tự nhiên nhất.
Những điều trên có thể tóm tắt như vầy:
Tinh túy của quân bình là không bám níu.
Tinh túy của thư giãn là không nắm giữ.
Tinh túy của tự nhiên là không nỗ lực.
NĂM THÍ DỤ VỀ KINH NGHIỆM ĐẠI ẤN
Có năm thí dụ tương tự diễn tả kinh nghiệm đúng đắn về Đại Ấn: Một thực tại bao la như hư không vô tận.
Tỉnh giác toàn khắp như đại địa.
Một tâm kiên cố vững vàng như ngọn núi.
Tánh Giác tự thấu suốt trong trẻo và sáng chiếu như một ngọn đèn.
Thức thuần tịnh, trong vắt như pha lê và không có tư tưởng phân biệt.
Kinh nghiệm Đại Ấn cũng có thể diễn tả như thế này:
Như một bầu trời không mây, thực tại thì khoáng đạt vô ngại.
Như một đại dương không sóng, tâm thì vững chắc không có tư tưởng phân biệt.
Như một ngọn đèn sáng trong đêm không gió, thức thì trong trẻo, sáng chiếu và vững chắc.
* * * Để thực hành Đại Ấn, hãy giữ tâm và thân thư giãn nhẹ nhàng không gắng sức: chấm dứt nghi ngờ lo toan và ở yên quân bình.
Khi thực hành Đại Ấn, hãy đồng hóa mọi cái gì bạn gặp với tánh không vô sanh và ở yên tự nhiên và thư giãn.
Giữ cho cơ thể được thư giãn và nhẹ nhàng không có nghĩa là từ bỏ mọi hoạt động, mà là thực hiện các hoạt động một cách êm ái, tự nhiên và thoải mái.
Giữ cho cơ thể thả lỏng và nhẹ nhàng không có nghĩa là làm cho nó trở nên trì độn hay thiếu nhạy cảm, mà thực chất là cần làm cho sự tỉnh giác và sự sáng suốt của nó trở nên sắc bén hơn.
Đồng hóa mọi sự với tánh không vô sanh là quá trình mà người đã chứng ngộ tánh tỉnh giác của chính mình có khả năng duy trì Khi đạt được trạng thái này, mọi trải nghiệm và sự vật mà họ gặp gỡ sẽ tự giải thoát vào trong tánh không.
NĂM CÁCH LẠC KHỎI ĐẠI ẤN
Tánh không không đồng nghĩa với việc không có thiện ác; nó thể hiện sự đồng nhất giữa hiện hữu và tánh không, bao gồm mọi sự thật và quy luật đạo đức Việc hiểu lầm này dẫn đến sự lạc lối trong cái Thấy của Đại Ấn Hơn nữa, nếu một người chỉ nắm bắt được một khía cạnh nào đó về chân lý mà không thể trải nghiệm nó một cách sâu sắc, thì người đó cũng sẽ bị coi là thiếu thấu hiểu về Đại Ấn.
Nếu không nhận thức được rằng thực hành Đại Ấn (Con Đường) và thành tựu Đại Ấn (Quả) có bản chất giống nhau, người ta có thể nhầm lẫn rằng thực hành là bước đầu và chứng ngộ là kết quả Mặc dù điều này có thể đúng trong cuộc sống hàng ngày, nhưng khi đạt được cái Thấy, quan niệm này trở thành một sự lầm lạc.
Nếu một người thực sự nỗ lực trong việc thực hành Đại Ấn nhưng thiếu niềm tin vững chắc vào giáo lý, họ có thể nuôi hy vọng rằng sẽ đạt được một giáo lý cao hơn Điều này thể hiện sự lạc lối khỏi con đường Đại Ấn.
Trong bản chất, sự chữa trị và cái được chữa trị là một, do đó, những ai không nhận thức được điều này có thể dễ dàng rơi vào quan niệm sai lầm rằng thực hành Pháp (sự chữa trị) và phiền não (cái được chữa trị) là hai khái niệm tách biệt.
Giáo Lý Đại Ấn 31 là hai cái tuyệt đối khác nhau Đây cũng là sự lạc khỏi cái Thấy của Đại Ấn.
Trong thực hành Đại Ấn, thiền giả thường có xu hướng quá chú trọng vào việc chỉnh sửa và sửa sai Khi người hành thiền liên tục cố gắng khắc phục những lỗi lầm của mình, họ có thể đã lạc lối khỏi Con Đường chân chính.
BA KINH NGHIỆM CHÁNH CỦA ĐẠI ẤN
Trong tiến trình thực hành thiền định, thiền giả sẽ gặp ba kinh nghiệm: Lạc, Sáng Tỏ và Không phân biệt.
Trong kinh nghiệm Lạc, nhiều người trải qua cảm giác say sưa bao trùm, không bị ảnh hưởng bởi những điều kiện khắc nghiệt như thời tiết lạnh hay nóng Họ có thể cảm thấy cả thân và tâm biến mất, dẫn đến niềm vui tột độ và những tràng cười sảng khoái Một số khác lại cảm nhận được sự tràn đầy cảm hứng, hạnh phúc và bình an Sự xuất thần trong trạng thái này có thể mạnh mẽ đến mức khiến họ mất ý thức về thời gian, không còn phân biệt ngày và đêm.
Trong kinh nghiệm về tánh không, có người cảm nhận mọi thứ như trống rỗng, trong khi những người khác nhận ra rằng mọi sự đều không có tự tánh, và cả thân lẫn tâm đều không hiện hữu Đồng thời, cũng có những người thực sự hiểu sâu sắc chân lý về tánh không.
Sáu Yoga của Naropa
Trước khi thực hành Sáu Yoga, cần có những thiền định căn bản về sự vô thường, khổ đau trong sanh tử, và lòng từ bi với chúng sanh Những thực hành này xây dựng nền tảng cho Pháp Để chuẩn bị cho việc thực hành cao cấp, người đệ tử cần thực hiện bốn Quán Đảnh về Demchog và Yoga Phát Sanh cho đến khi đạt được sự vững chắc Để vượt qua trì trệ, cần thiền về cái chết, cầu nguyện chư Phật, phát Bồ đề tâm, bố thí và dâng cúng Mạn đà la, sám hối và trì tụng Thần Chú Vajrasattva, cùng thực hành Guru Yoga để nhận ân phước Mỗi thực hành sơ bộ này nên được tiến hành liên tục trong năm đến bảy ngày.
Sự thực hành chính về Sáu Yoga được nêu ra như sau:
1 Chỉ dạy về Nội Nhiệt, hay Tumo Yoga – Nền Tảng của Con Đường.
2 Chỉ dạy về Yoga Thân Huyễn – sự Nương Dựa của Con Đường.
3 Chỉ dạy về Yoga Giấc Mộng – Tiêu Chuẩn So Sánh của Con Đường.
4 Chỉ dạy về Yoga Ánh Sáng* – Tinh Túy của Con Đường.
5 Chỉ dạy về Yoga Trung Ấm – cái được gặp trên Con Đường.
6 Chỉ dạy về Yoga Chuyển Di – Cốt Lõi của Con Đường.
(* Ánh Sáng trong sách này là chữ Tịnh Quang (Clear Light) được dịch trong các cuốn sách khác của Thiện Tri Thức.)
YOGA THỨ NHẤT: NHỮNG GIÁO HUẤN VỀ NỘI NHIỆT
HAY TUMO YOGA a Thực hành cơ bản
Thực hành cơ bản của Yoga Nội Nhiệt có năm bước liên tiếp:
(1) Quán tánh Không, hay sự Trống Rỗng của Thân.
(2) Quán những Kinh Mạch Chính, hay Nadi.
(3) Những thực tập Thở (Cái Bình).
(4) Vận dụng những Hạt (Bindu).
(5) Những thực tập về thân.
Tóm Lược Một Dẫn Nhập Vào Sáu Yoga Của Naropa 43
(1) Quán tánh Không, hay sự Trống Rỗng của Thân
Bắt đầu, thiền giả cần cầu nguyện Bổn Sư để được một tiến bộ vững chắc về Nội Nhiệt Tumo Nó ngồi trong tư thế “Phật
Tỳ Lô Giá Na với bảy điểm yêu cầu người thiền giả ngồi trong tư thế hoa sen, đặt hai bàn tay lên nhau dưới rốn, giữ xương sống thẳng và nghiêng nhẹ cổ để ép vào yết hầu Lưỡi được đặt ép vào nóc họng, hai mắt tập trung vào đầu mũi Thiền giả quán tưởng cơ thể mình trở thành thân thể của Phật Bổn Tôn, nhưng trống rỗng như một trái banh Nếu không thể thấy toàn bộ cơ thể trống không, cần quán tưởng từng phần như đầu, cổ, cánh tay, và ngực cho đến khi cảm nhận sự trống không rõ ràng Quá trình này bao gồm việc hình dung cơ thể với kích cỡ khác nhau, từ nhỏ như hạt cải đến lớn như vũ trụ, nhưng tất cả đều trống không ở bên trong Sự thực hành này cần sự chuyên cần cho đến khi nhận thức về sự trống không trở nên rõ ràng.
(2) Quán những Kinh Mạch Chính, hay những nadi
Khi thiền giả nhận thức rõ sự trống không của thân, họ bắt đầu quán tưởng Kinh Mạch Trung Ương nằm giữa thân thể Kinh Mạch này kéo dài từ đỉnh đầu xuống giữa hai lông mày và tiếp tục đến khoảng bốn ngón tay dưới rốn, có bề rộng như sợi dây bện thừng với màu trắng bên ngoài và đỏ bên trong Ngoài ra, thiền giả cũng quán tưởng hai Kinh Mạch bên phải và bên trái, có bề rộng như thân mũi tên; Kinh Mạch bên phải có màu đỏ pha trắng.
Mạch Trái và Mạch Phải chạy song song với Kinh Mạch Chính, cách nhau khoảng một phân Đầu mạch cong xuống hai lỗ mũi và cả ba mạch đều có đặc điểm trống rỗng, thẳng, sáng và trong suốt Một số chỉ dạy mô tả Kinh Mạch Trung Ương dày như thân mũi tên, trong khi Kinh Mạch Phải và Trái dày như thân cây lúa Kinh Mạch Phải được quán tưởng màu đỏ, Kinh Mạch Trái màu trắng, và Kinh Mạch Trung Ương màu xanh Mặc dù có nhiều cách chỉ dạy khác nhau, người thực hành có thể lựa chọn một phương pháp phù hợp để áp dụng.
Theo những chỉ dạy, điểm chót phía trên của Kinh Mạch Trung Ương kết thúc tại Cổng của sự Thanh Tịnh, trong khi điểm chót phía dưới kéo dài đến vị trí mở của bộ phận kín Tuy nhiên, tôi cho rằng nên tuân theo các chỉ dẫn đã nêu trên.
Khi ba Kinh Mạch được nhận diện rõ ràng, thiền giả sẽ quán tưởng Bốn Luân Xa trong các vị trí như đầu, cổ họng, ngực và rốn Luân Xa Rốn, hay Trung Tâm Chuyển Hóa, có 64 kinh mạch mở lên phía trên giống như gọng của một cái dù lật ngược Trong khi đó, Luân Xa Trái Tim, được biết đến như Trung Tâm Pháp, có 8 kinh mạch mở xuống phía dưới như gọng của một chiếc dù.
Xa Cổ Họng, hay còn gọi là Trung Tâm Vui Thích, có 16 kinh mạch mở lên phía trên, trong khi Luân xa Đầu và Trung Tâm Đại Lạc có 32 kinh mạch mở xuống phía dưới Bốn Luân Xa này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên sự cân bằng và hài hòa trong cơ thể.
"Kinh Mạch Trung Ương" giống như những nan gọng của cây dù, từ đó phát sinh các kinh mạch nhỏ tỏa ra khắp cơ thể, tạo thành một mạng lưới thần kinh phức tạp Mạng lưới này bao phủ toàn thân và đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối và điều phối các chức năng sinh lý.
Bài viết giới thiệu về sáu yoga của Naropa, nhấn mạnh rằng 45 kinh mạch trong cơ thể có màu đỏ bên trong và trắng bên ngoài, với một số quan điểm cho rằng màu sắc của các trung tâm như Trung Tâm Cổ Họng, Rốn, Trái Tim và Đầu có thể khác nhau Người thực hành có thể chọn cách quán tưởng khác nhau, và nếu không thể hình dung rõ ràng tất cả trong một lần, họ nên tập trung vào từng phần trong một khoảng thời gian Điều quan trọng là làm cho cái thấy trở nên rõ ràng, đặc biệt là ba kinh mạch chính và bốn luân xa Một số chỉ dạy bổ sung rằng cần tính cả Luân Xa Đỉnh Đầu và Luân Xa Chỗ Kín, tạo thành sáu cái, trong khi cũng có quan điểm cho rằng người ta có thể quán tưởng tất cả 72.000 kinh mạch trong cơ thể, tùy thuộc vào sự lựa chọn cá nhân của mỗi người.
(3) Những tập thở Cái Bình
Thời gian lý tưởng để thực hành Thở Cái Bình là khi hơi thở lưu thông qua cả hai lỗ mũi một cách đồng đều Nếu nhận thấy có sự chênh lệch về lượng không khí giữa hai lỗ mũi, hãy dùng ngón tay cái bịt lỗ mũi có ít không khí hơn, buộc không khí phải thoát ra qua lỗ mũi còn lại Sau vài lần hít thở như vậy, bạn sẽ cảm nhận được không khí lưu thông đều đặn qua cả hai lỗ mũi.
Ngồi dậy, dùng một ngón tay bịt lỗ mũi trái và thở ra một hơi dài qua lỗ mũi phải Sau đó, hít vào và thở ra một hơi ngắn, tiếp theo là một hơi dài và êm Lặp lại quy trình này ba lần, rồi chuyển sang lỗ mũi kia, và cuối cùng thở ra cả hai lỗ mũi.
Khi thực hành thiền, người thiền cần hình dung rằng mọi chướng ngại, tội lỗi và bệnh tật đang được thải ra khi thở ra Đối với những ai chưa quen với phương pháp này, hãy sử dụng ngón trỏ của tay cùng phía để bịt lỗ mũi.
Trong 46 SÁU YOGA CỦA NARPA, thiền giả nên đặt hai bàn tay lên hai đùi và thực hiện hơi thở đều qua cả hai lỗ mũi Sau mỗi lần thở ra, hãy thở vào sâu với cổ hơi cong trước khi thở ra trở lại Phương pháp này được gọi là “Hơi thở Chín Lần” và chỉ nên thực hiện một hoặc hai lần trước khi thiền định Nếu lạm dụng, nó có thể gây đau đầu và rối loạn hơi thở Tuy nhiên, trong quá trình thiền định, phương pháp này có thể được áp dụng một cách nhẹ nhàng khi cần thiết.
Bây giờ là thực hành chính của thực tập Thở Cái Bình:
Ngồi thẳng lưng như đã hướng dẫn, đặt một chiếc gối hoặc mền dày khoảng 3-4 cm dưới mông Hít vào thật sâu, tinh tế, đẩy không khí xuống dưới rốn và nuốt nước bọt cùng với không khí Tiếp theo, nhẹ nhàng thắt cơ vòng hậu môn và giữ không khí ở Luân Xa Rốn.
Khi thiền giả thành thạo trong việc kiểm soát hơi thở, họ có thể thắt chặt cơ vòng hậu môn mà không cần cử động bụng Thực hành này bao gồm việc ép không khí từ trên xuống dưới, đẩy không khí từ dưới lên, và hòa trộn chúng tại Trung Tâm Rốn, tạo ra sự phình ra của bụng dưới giống như hình dạng của một cái bình Chính vì lý do này, phương pháp được gọi là “thực tập Thở Cái Bình”.