1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam

119 17 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Hoạt Động Chuyển Đổi Số Ở Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
Tác giả Tống Hữu Lượng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Hoàng Anh
Trường học Trường Đại học Ngoại thương
Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 2,84 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN ĐỔI SỐ Ở CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7 (16)
    • 1.1 Tổng quan về chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng (16)
      • 1.1.1 Khái niệm chuyển đổi số 7 (16)
      • 1.1.2 Đặc điểm của chuyển đổi số 8 (17)
      • 1.1.3 Vai trò của chuyển đổi số 9 (18)
    • 1.2 Sự cần thiết của chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng (19)
      • 1.2.1 Bối cảnh chuyển đổi số 10 (19)
      • 1.2.2 Sự cần thiết phải chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng (21)
      • 1.2.3 Cơ hội và thách thức đối với chuyển đổi số (24)
    • 1.3 Các yếu tố tác động đến chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng (26)
      • 1.3.1 Hạ tầng kỹ thuật, công nghệ cho chuyển đổi số (27)
      • 1.3.2 Chi phí đầu tư chuyển đổi số 19 (28)
      • 1.3.3 Nguồn nhân lực cho chuyển đổi số (28)
      • 1.3.4 Hành lang pháp lý cho chuyển đổi số (29)
    • 1.4 Xu hướng chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại (29)
      • 1.4.1 Ứng dụng và tích hợp công nghệ vào hoạt động ngân hàng (29)
      • 1.4.2 Các mô hình chuyển đổi số trong ngân hàng (34)
    • 1.5 Chính sách thúc đẩy chuyển đổi số ngân hàng trên thế giới (37)
    • 1.6 Kinh nghiệm phát triển ngân hàng số trên thế giới (40)
      • 1.6.1 Kinh nghiệm phát triển ngân hàng số ở một số quốc gia trên thế giới (40)
      • 1.6.2 Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (45)
    • 2.1 Tổng quan về hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam (48)
    • 2.2 Sự cần thiết phải chuyển đổi số ngân hàng tại Việt Nam (50)
    • 2.3. Chính sách thúc đẩy chuyển đổi số ngân hàng tại Việt Nam (52)
    • 2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt (56)
      • 2.4.1 Hạ tầng kỹ thuật, công nghệ 47 (56)
      • 2.4.2 Chi phí đầu tư cho chuyển đổi số (59)
      • 2.4.3 Nguồn nhân lực 50 (59)
      • 2.4.4 Hành lang pháp lý 51 (60)
    • 2.5 Thực trạng chuyển đổi số tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam (61)
      • 2.5.1 Thực trạng chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam (61)
      • 2.5.2 Phân tích hoạt động chuyển đổi số ở một số ngân hàng điển hình (71)
    • 2.6 Đánh giá hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam - 70 (80)
      • 2.6.1 Những kết quả đạt được 70 (80)
      • 2.6.2 Những tồn tại, hạn chế 73 (83)
  • CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG CHUYỂN ĐỔI SỐ Ở CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM (87)
    • 3.1 Tiềm năng phát triển chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam 77 (87)
      • 3.1.1 Tiềm năng về dân số 77 (87)
      • 3.1.2 Tiềm tăng về Internet 77 (87)
      • 3.1.3 Tiềm năng về phương tiện kết nối Internet (88)
      • 3.1.4 Tiềm năng về thanh toán điện tử (89)
    • 3.2 Định hướng, chủ trương chuyển đổi số ngân hàng tại Việt Nam (90)
      • 3.2.1 Định hướng thúc đẩy chuyển đổi số ngân hàng tại Việt Nam (90)
      • 3.2.2 Chủ trương trong chuyển đổi số ngân hàng tại Việt Nam (91)
    • 3.4 Kiến nghị 84 (94)
      • 3.4.1 Đối với Ngân hàng Nhà nước 84 (94)
      • 3.4.2 Đối với các cơ quan quản lý 85 (95)

Nội dung

Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam.Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam.Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam.Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam.Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam.Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam.Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam.Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN ĐỔI SỐ Ở CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7

Tổng quan về chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng

1.1.1 Khái niệm chuyển đổi số

Trên thế giới, chuyển đổi số bắt đầu được nhắc đến nhiều vào khoảng năm

Từ năm 2017 đến nay, vẫn chưa có định nghĩa rõ ràng về chuyển đổi số do sự không đồng nhất trong quá trình áp dụng và sự khác biệt giữa các lĩnh vực Tuy nhiên, các khái niệm về chuyển đổi số đều chung một điểm: chúng mô tả tác động của công nghệ kỹ thuật số đến hoạt động kinh doanh của tổ chức Một số khái niệm điển hình về chuyển đổi số có thể được nhắc đến.

Chuyển đổi số là quá trình mà các công ty tổ chức lại hoạt động kinh doanh một cách toàn diện, nhằm thay đổi mô hình kinh doanh cốt lõi thông qua việc áp dụng công nghệ kỹ thuật số.

Chuyển đổi số là quá trình mà công nghệ kỹ thuật số ảnh hưởng đến chiến lược hoạt động của tổ chức, thay đổi cách thức quản trị nhằm tạo ra giá trị mới và cải thiện kết quả kinh doanh.

Chuyển đổi số đang trở thành xu hướng phổ biến trong các công ty, thể hiện sự thay đổi toàn diện trong tổ chức và góp phần phát triển các mô hình kinh doanh mới (Kane et al., 2015; Pagani & Pardo, 2017).

Chuyển đổi số là quá trình thay đổi toàn diện cách sống, làm việc và sản xuất của cá nhân và tổ chức, dựa trên việc ứng dụng các công nghệ số.

Thông tin và Truyền thông, 2021).

Chuyển đổi số (Digital transformation) là quá trình áp dụng công nghệ kỹ thuật số để cải thiện quy trình kinh doanh, văn hóa và trải nghiệm khách hàng, nhằm thích ứng với sự thay đổi trong môi trường kinh doanh và nhu cầu thị trường Hiện nay, chuyển đổi số đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của các bộ phận trong nền kinh tế và các tổ chức kinh doanh.

1.1.2 Đặc điểm của chuyển đổi số

Chuyển đổi số bao gồm hai thành tố chính: chuyển đổi và kỹ thuật số "Chuyển đổi" đề cập đến sự thay đổi từ trạng thái ban đầu sang trạng thái tốt hơn và tiên tiến hơn Trong khi đó, "kỹ thuật số" phản ánh sự thay đổi được thúc đẩy bởi công nghệ thông tin, cho phép xử lý dữ liệu trong thời gian thực và sử dụng thông minh để cung cấp thông tin cho các bên liên quan.

Chuyển đổi số bao gồm bốn giai đoạn chính: đầu tiên là giới thiệu công nghệ kỹ thuật số, tiếp theo là thực hiện chiến lược kỹ thuật số, sau đó là trở thành một công ty kỹ thuật số, và cuối cùng là đối mặt với những thách thức trong tương lai (Matt, Hess & Benlian, 2015).

Chiến lược chuyển đổi số của tổ chức bao gồm bốn thành phần chính: ứng dụng công nghệ, cải tiến quy trình tạo ra giá trị, điều chỉnh cấu trúc tổ chức và thay đổi các yếu tố tài chính.

Cần phân biệt giữa số hóa và chuyển đổi số, trong đó số hóa là quá trình chuyển đổi thông tin từ bản cứng sang dạng kỹ thuật số và lưu trữ trên máy tính Ngược lại, chuyển đổi số liên quan đến việc thay đổi mô hình hoạt động dựa trên công nghệ và dữ liệu số Sự phát triển công nghệ là nền tảng cho chuyển đổi số, đồng thời nó cũng đòi hỏi sự thay đổi văn hóa trong doanh nghiệp, khuyến khích thử nghiệm, chấp nhận thất bại và đáp ứng linh hoạt với yêu cầu thị trường.

Four key digital technologies driving digital transformation are Artificial Intelligence (AI), the Internet of Things (IoT), Big Data, and Cloud Computing.

Chuyển đổi số đang trở thành xu hướng quan trọng trong doanh nghiệp, với việc áp dụng các công nghệ mới như chuỗi khối (Blockchain) Những công nghệ này không chỉ thay đổi phương thức điều hành và lãnh đạo mà còn cải thiện quy trình làm việc và văn hóa doanh nghiệp.

Hình 1.1 - Một số công nghệ tiêu biểu trong chuyển đổi số (Nguồn: Tổng hợp)

1.1.3 Vai trò của chuyển đổi số Để tăng tính tương tác và thu hút khách hàng nhiều hơn, các tổ chức cần tập trung vào hai hoạt động chính là định hình lại giá trị của khách hàng và chuyển đổi hoạt động bằng cách sử dụng các công nghệ kỹ thuật số (Berman, 2012) Chuyển đổi số là rất quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp Chuyển đổi số tạo ra các sản phẩm của công nghệ giúp mở ra nhiều tiềm năng hơn cho doanh nghiệp bằng cách cho phép họ mở rộng quy mô, phát triển thị trường, cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh, tiếp cận khách hàng dễ dàng hơn với chi phí tối ưu hơn.

Chuyển đổi số là quá trình áp dụng công nghệ kỹ thuật số vào mọi khía cạnh của doanh nghiệp, nhằm thay đổi toàn diện cách thức hoạt động, nâng cao hiệu quả hợp tác và tối ưu hóa hiệu suất vận hành Qua đó, chuyển đổi số mang lại giá trị cho khách hàng và giúp tổ chức cạnh tranh hiệu quả hơn trong môi trường ngày càng số hóa.

Chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, không phân biệt lĩnh vực, với công nghệ kỹ thuật số đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các tổ chức kinh doanh tìm kiếm phương thức mới để cạnh tranh và tối ưu hóa giá trị cho khách hàng Trong gần ba thập kỷ qua, cuộc cách mạng kỹ thuật số đã làm thay đổi căn bản các phương thức truyền thống và thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của nhiều xu hướng mới.

Sự cần thiết của chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng

1.2.1 Bối cảnh chuyển đổi số

CMCN 4.0 bùng nổ mang đến nhiều xu hướng phát triển mới Với CMCN 4.0 thì công nghệ là công nghệ số và chuyển đổi chủ yếu là chuyển đổi số, chuyển đổi mô hình hoạt động, vận hành của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp dựa trên công nghệ số CMCN 4.0 đã tác động một cách toàn diện đến hệ thống tài chính - ngân hàng trên thế giới, không chỉ làm thay đổi phương diện giao dịch, các kênh cung cấp, phân phối sản phẩm, dịch vụ của các ngân hàng mà còn có tác động sâu rộng đến hoạt động quản trị ngân hàng, mối quan hệ tương tác giữa ngân hàng với khách hàng và với các đối thủ cạnh tranh Hoạt động chuyển đổi số ở các ngân hàng trên thế giới đã diễn ra vô cùng sôi động, nhiều xu hướng dịch chuyển của ngành Ngân hàng tại một số thị trường như Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan,… đã diễn ra rất mạnh mẽ và tạo ra nhiều sự thay đổi tích cực trong hoạt động ngân hàng.

Sự phát triển mạnh mẽ của các công ty Bigtech và Fintech đã tạo ra những thay đổi đáng kể trong ngành Ngân hàng nhờ vào ứng dụng chuyển đổi số Các Bigtech như Amazon, Google và Apple đã cải tiến thanh toán di động thông qua các nền tảng thanh toán riêng với công nghệ sinh trắc học, mang lại trải nghiệm thanh toán tức thì và miễn phí, từ đó làm mới hình thức thanh toán của các ngân hàng Đồng thời, sự xuất hiện của Blockchain và tiền điện tử từ các Fintech đã thúc đẩy các ngân hàng chuyển đổi thành ngân hàng số Hệ sinh thái ngành Ngân hàng ngày càng phát triển với việc áp dụng nhiều giải pháp công nghệ tài chính, đồng thời xu hướng cạnh tranh và hợp tác giữa ngân hàng với các công ty Fintech và Bigtech ngày càng gia tăng, dẫn đến việc tạo ra các sản phẩm và dịch vụ cải tiến mới.

Hình 1.2 - Một số Bigtech lớn trên thế giới (Nguồn: Tổng hợp)

Sự bùng nổ của thương mại điện tử và sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội toàn cầu như Google, Facebook, Instagram, và TikTok đã làm thay đổi đáng kể xu hướng tiêu dùng của khách hàng, đồng thời tạo ra những xu hướng tiêu dùng mới Trong hai năm qua, đại dịch Covid-19 cũng đã ảnh hưởng sâu sắc đến hành vi mua sắm của người tiêu dùng.

Đại dịch Covid-19 đã tác động sâu rộng đến cuộc sống của người dân và doanh nghiệp toàn cầu, thay đổi thói quen và hành vi mua sắm của người tiêu dùng, với nhu cầu sử dụng sản phẩm và dịch vụ trên kênh số ngày càng tăng Theo khảo sát của PwC, mua sắm qua điện thoại thông minh đang đạt mức cao kỷ lục và trở thành hình thức mua sắm trực tuyến phổ biến nhất Điều này cũng đã thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyển đổi số trong nhiều ngành, đặc biệt là ngành Ngân hàng.

1.2.2 Sự cần thiết phải chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng

Sự cần thiết của chuyển đổi số ngày càng trở nên cấp bách do những thay đổi nhanh chóng từ các yếu tố bên ngoài Theo Verhoef et al (2021), có ba yếu tố chính đã thúc đẩy nhu cầu chuyển đổi số ở các công ty, khiến quá trình này diễn ra mạnh mẽ và nhanh chóng hơn bao giờ hết.

Sự phát triển của Internet và các công nghệ mới như web 2.0, điện toán đám mây, nhận dạng giọng nói, thanh toán trực tuyến và tiền điện tử đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của thương mại điện tử.

Sự bùng nổ của dữ liệu lớn cùng với sự xuất hiện của các công nghệ kỹ thuật số mới như trí tuệ nhân tạo (AI), chuỗi khối (Blockchain) và Internet cho vạn vật (IoT) đang tạo ra những ảnh hưởng mạnh mẽ đến lĩnh vực kinh doanh Mặc dù không phải tất cả các công nghệ này đều đạt được hiệu quả cao như kỳ vọng, nhưng sự lan tỏa của chúng cho thấy rằng các doanh nghiệp cần thiết phải chuyển đổi sang hoạt động kinh doanh kỹ thuật số để thích ứng với xu hướng mới.

Công nghệ đã làm thay đổi bối cảnh cạnh tranh, dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ của các công ty kỹ thuật số, khiến doanh số bán hàng dần thuộc về họ Sự cạnh tranh không chỉ trở nên toàn cầu hơn mà còn gia tăng cường độ, khi các gã khổng lồ như Amazon, Alphabet, Apple, Facebook từ Hoa Kỳ và Alibaba, JD từ Trung Quốc bắt đầu thống trị nhiều ngành công nghiệp.

Sự thay đổi hành vi của người tiêu dùng đang diễn ra mạnh mẽ trong bối cảnh cuộc cách mạng kỹ thuật số, khi mà họ ngày càng tin tưởng vào các ứng dụng và công nghệ mới, dẫn đến xu hướng giao dịch trực tuyến gia tăng Những công nghệ kỹ thuật số này không chỉ thay đổi cách thức tiêu dùng mà còn định hình lại cấu trúc hành vi của người tiêu dùng Nếu các công ty không kịp thích ứng với những thay đổi này, họ sẽ trở nên kém hấp dẫn hơn trong mắt khách hàng và có nguy cơ bị thay thế bởi những doanh nghiệp biết tận dụng công nghệ hiện đại.

Chuyển đổi số là yếu tố cần thiết cho mọi doanh nghiệp, từ nhỏ đến lớn, nhằm duy trì tính cạnh tranh và thích ứng với môi trường kinh doanh hiện đại, nơi mà các đối thủ xung quanh đã có kế hoạch hoặc đang tiến hành chuyển đổi số Do đó, chuyển đổi số trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển dài hạn của doanh nghiệp.

Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, hoạt động trong lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro liên quan đến tiền tệ và phục vụ hàng triệu khách hàng cá nhân và tổ chức Do đó, quá trình chuyển đổi số trong ngân hàng cần được thực hiện chặt chẽ và hiệu quả, nhằm mang lại trải nghiệm tốt nhất cho khách hàng đồng thời đảm bảo an toàn và bảo mật ở mức cao nhất.

Chuyển đổi số trong ngân hàng là quá trình số hóa từ các sản phẩm và dịch vụ tương tác trực tiếp với khách hàng (front-end) đến việc tự động hóa hệ thống xử lý nội bộ (back-end) Quá trình này bao gồm các yếu tố như tiếp thị số, thanh toán và phân tích dữ liệu, nhằm thay đổi mô hình kinh doanh và cải thiện mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng Kết quả là tạo ra cơ hội kinh doanh mới, gia tăng doanh thu và giá trị cho ngân hàng.

Hình 1.3 - Mô hình kiến trúc tổng quan của một ngân hàng số cơ bản

Ngân hàng chuyển đổi số thể hiện qua việc phát triển các kênh tương tác mới với khách hàng thông qua dịch vụ tự phục vụ như ATM, Mobile, Internet, Call Center và API, nhằm tạo ra trải nghiệm tốt hơn Hoạt động kinh doanh tập trung vào các sản phẩm giá trị cao, dẫn đến việc tăng số lượng khách hàng mới và cải thiện tỷ lệ khách hàng trung thành Quy trình quản lý của ngân hàng cũng trở nên chặt chẽ và hiệu quả hơn nhờ vào khả năng thu thập và phân tích dữ liệu nhanh chóng.

Kỹ thuật số hóa trong ngành ngân hàng yêu cầu chuyển đổi từ quy trình thủ công sang dịch vụ trực tuyến, nhằm nâng cao trải nghiệm và xây dựng lòng trung thành của khách hàng Hiện nay, hàng triệu người tiêu dùng đang tận dụng ngân hàng kỹ thuật số qua điện thoại thông minh, máy tính bảng và thiết bị đeo, cho phép họ thực hiện các giao dịch như thanh toán, mở tài khoản mới và đăng ký khoản vay một cách dễ dàng.

Các ngân hàng hiện nay đang đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ kỹ thuật số để thích ứng với sự thay đổi trong hành vi của khách hàng Theo Tập đoàn Dữ liệu Quốc tế (IDC), chi tiêu cho công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trong ngành tài chính và ngân hàng tại các thị trường đang phát triển như Trung Đông và châu Phi dự kiến sẽ đạt 15,24 tỷ USD vào năm 2023 Báo cáo của IDC cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của công nghệ trong việc nâng cao hiệu quả và cải thiện trải nghiệm khách hàng trong ngành tài chính.

Các yếu tố tác động đến chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng

Chuyển đổi số cần được xây dựng thành một chiến lược toàn diện, liên quan đến tất cả các hoạt động của tổ chức và yêu cầu sự phối hợp đồng bộ từ cấp trên xuống cấp dưới trong ngân hàng Điều này giúp ngân hàng tận dụng hiệu quả sự phát triển của các công nghệ mới như Big Data, trí tuệ nhân tạo (AI) và Blockchain Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược chuyển đổi số của ngân hàng, trong đó các yếu tố chính đóng vai trò quan trọng nhất.

1.3.1 Hạ tầng kỹ thuật, công nghệ cho chuyển đổi số

Hạ tầng kỹ thuật và công nghệ đóng vai trò quan trọng trong kế hoạch chuyển đổi số của các ngân hàng Ngày nay, các ngân hàng hiện đại áp dụng công nghệ thông tin (CNTT) đa dạng để nâng cao sự hài lòng của khách hàng Một trong những ứng dụng nổi bật trong ngành ngân hàng là hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking Systems), giúp tối ưu hóa quy trình và dịch vụ khách hàng.

Hệ thống CBS (Core Banking System) là một phần mềm tích hợp, bao gồm nhiều ứng dụng công nghệ thông tin, phục vụ cho các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng như quản lý tiền gửi, cho vay, tài trợ thương mại, thanh toán quốc tế, và chuyển tiền Với CBS, các ngân hàng có khả năng phát triển đa dạng dịch vụ và sản phẩm, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nội bộ.

CBS được coi là trung tâm của ngân hàng, giải quyết các vấn đề về tiền tệ, tài sản thế chấp, giao dịch và quản lý dữ liệu Các hệ thống CBS hiện đại hoạt động liên tục 24/7, đảm bảo dịch vụ Internet Banking và giao dịch toàn cầu qua ATM, điện thoại và thẻ ngân hàng Điều này tạo nền tảng cho các dự án quan trọng như kinh doanh thẻ, phát triển kênh ngân hàng điện tử, quản lý quan hệ khách hàng và xây dựng kho dữ liệu tập trung.

Dựa trên nền tảng CBS hiện đại, ngân hàng đang phát triển các tiện ích công nghệ nhằm nâng cao sự thuận tiện cho khách hàng, đặc biệt qua ứng dụng trên smartphone và các thiết bị cầm tay khác CBS không chỉ cho phép tích hợp ứng dụng bên thứ ba để hỗ trợ quy trình kinh doanh mà còn giúp phát triển sản phẩm mới, thể hiện xu hướng hiện đại hóa công nghệ trong ngành ngân hàng và hội nhập quốc tế Nền tảng công nghệ của CBS phản ánh sức mạnh công nghệ của ngân hàng, quyết định tính đa dạng sản phẩm, khả năng mở rộng mạng lưới kinh doanh, đa dạng hóa kênh dịch vụ và quan trọng nhất là trong việc phát triển các hệ sinh thái số.

1.3.2 Chi phí đầu tư chuyển đổi số

Chuyển đổi số là một khoản đầu tư lớn, đặc biệt đối với các ngân hàng cần hệ thống công nghệ thông tin hiện đại và bảo mật Mặc dù đầu tư ban đầu có thể mang lại nhiều lợi ích cho hoạt động kinh doanh, nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro thất bại Công nghệ liên tục thay đổi với chu kỳ ngày càng ngắn, do đó, ngân hàng cần chuẩn bị cho chi phí chuyển đổi số có thể giảm trong tương lai Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số không thể dừng lại và đòi hỏi nguồn tài chính ổn định để đảm bảo hoạt động diễn ra liên tục và hiệu quả.

1.3.3 Nguồn nhân lực cho chuyển đổi số

Để thành công trong chuyển đổi số, các ngân hàng không chỉ cần đầu tư vào cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật mà còn phải chú trọng phát triển nguồn nhân lực Yêu cầu về trình độ chuyên môn và kỹ năng số ngày càng cao, buộc các ngân hàng phải sắp xếp lại nhân sự cho phù hợp Các quy trình thủ công sẽ được thay thế bởi công nghệ số, bao gồm trợ lý ảo và robot Đồng thời, các sản phẩm và dịch vụ cũng cần được thiết kế lại để đáp ứng nhu cầu khách hàng Điều này đòi hỏi ngân hàng phải có đội ngũ nhân sự thành thạo về kỹ năng số để nghiên cứu và phát triển sản phẩm ứng dụng công nghệ mới Hơn nữa, việc tạo ra môi trường khuyến khích đổi mới sáng tạo là cần thiết để phát hiện và đào tạo nhân tài, từ đó xây dựng chiến lược chuyển đổi số bền vững trong tương lai.

1.3.4 Hành lang pháp lý cho chuyển đổi số

Chính sách pháp lý là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến sự phát triển của ngân hàng số, với ba cách tiếp cận chính: đầu tiên, phát triển ngân hàng số dựa trên các quy định hiện hành; thứ hai, điều chỉnh và bổ sung khung pháp lý để phù hợp với sự phát triển của ngân hàng số; và thứ ba, hoàn thiện các chính sách mới nhằm mở rộng hoạt động của ngân hàng số Các quy định pháp lý liên quan thường bao gồm giao dịch điện tử, chữ ký điện tử, bảo mật thông tin, phát triển hạ tầng công nghệ, và chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Xu hướng chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại

1.4.1 Ứng dụng và tích hợp công nghệ vào hoạt động ngân hàng

Hình 1.4 - Lịch sử phát triển công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng (Nguồn: Đỗ

Thị Kim Hảo và Nguyễn Thị Việt Hà, 2021)

Trước năm 1960, khách hàng phải đến ngân hàng để thực hiện giao dịch tài chính Tuy nhiên, sự ra đời của máy giao dịch tự động (ATM) vào năm 1967 đã cách mạng hóa cách thức tương tác giữa ngân hàng và khách hàng, giúp giảm chi phí vận hành cho ngân hàng Sự phát triển của Internet sau đó đã thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng, tạo ra nhiều kênh giao dịch mới cho khách hàng.

Ngành ngân hàng đang nhanh chóng chuyển đổi số bằng cách áp dụng các công nghệ tiên tiến như điện toán đám mây, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và chuỗi khối Các ngân hàng truyền thống đang tích cực thích ứng và chuẩn bị kế hoạch để tích hợp những công nghệ số mới này vào hoạt động của mình.

Ngân hàng đang ngày càng áp dụng công nghệ vào các sản phẩm, dịch vụ và nghiệp vụ nội bộ của mình Một trong những xu hướng nổi bật là giải pháp thanh toán điện tử, giúp nâng cao hiệu quả giao dịch và mang lại tiện ích cho khách hàng.

Thanh toán điện tử là hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, cho phép người dùng thực hiện giao dịch qua Internet trên các thiết bị thông minh Các phương thức thanh toán điện tử phổ biến hiện nay bao gồm thanh toán bằng thẻ, cổng thanh toán, ví điện tử (E-Money) và Mobile Money Dịch vụ E-Money yêu cầu liên kết với tài khoản ngân hàng và định danh khách hàng thông qua ngân hàng, trong khi Mobile Money là tài khoản điện tử gắn với số điện thoại di động, cho phép người dùng nạp, rút, thanh toán và chuyển tiền mà không cần tài khoản ngân hàng.

P2P Lending là mô hình kinh doanh sử dụng công nghệ số để kết nối trực tiếp người vay và người cho vay mà không cần trung gian tài chính Mô hình này cung cấp dịch vụ cho vay trực tuyến với chi phí thấp hơn so với hình thức truyền thống, giúp nhà đầu tư thu được lợi nhuận cao hơn so với gửi tiết kiệm, trong khi người vay được hưởng lãi suất thấp hơn Lãi suất được xác định dựa trên hệ thống đánh giá của công ty P2P, phân tích thông tin tín dụng, mạng xã hội và nhiều nguồn dữ liệu liên quan khác Công nghệ chuỗi khối (Blockchain) và sổ cái phân tán (DLT) cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao tính minh bạch và bảo mật của giao dịch.

Công nghệ chuỗi khối (Blockchain) đang được áp dụng mạnh mẽ trong lĩnh vực ngân hàng, cho phép lưu trữ giao dịch và thông tin hợp đồng trong các khối (Block) liên kết với nhau thành chuỗi (chain) Điều này tạo ra sự liền mạch trong việc theo dõi và truy xuất thông tin một cách nhanh chóng Hơn nữa, khi một thành phần trong chuỗi khối bị thay đổi, các thành phần khác vẫn giữ nguyên thông tin toàn vẹn, đảm bảo tính chính xác Ứng dụng của Blockchain trong tài trợ thương mại quốc tế giúp các ngân hàng kết nối dễ dàng và rút ngắn thời gian xử lý giao dịch một cách đáng kể.

Công nghệ sổ cái phân tán (DLT) sử dụng các nút độc lập để ghi chép, chia sẻ và đồng bộ hóa giao dịch trong sổ cái điện tử Khác với sổ cái tập trung, trong mạng DLT, mỗi ngân hàng hoạt động như một nút và lưu trữ thông tin giao dịch của riêng mình Khi giao dịch diễn ra, thông tin sẽ được lưu trữ trên chuỗi khối (Blockchain) và phân phối đến sổ cái của tất cả các thành viên, đảm bảo rằng thông tin đã được ghi lại không thể bị xóa hoặc làm sai lệch.

Tiền kỹ thuật số là loại tiền tệ được tạo ra từ các thuật toán mã hóa phức tạp và chỉ tồn tại dưới dạng kỹ thuật số, không có hình thức vật lý Nó được lưu trữ và giao dịch hoàn toàn qua các phương thức điện tử, cho phép người dùng thực hiện các giao dịch nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm chi phí Tiền kỹ thuật số không thể bị làm giả và đảm bảo tính minh bạch cao nhờ công nghệ Blockchain Mặc dù việc ứng dụng tiền kỹ thuật số trong ngành tài chính và ngân hàng vẫn đang ở giai đoạn đầu, nhưng nhiều tổ chức tài chính đã nhận thấy tiềm năng to lớn của công nghệ này và dự kiến sẽ triển khai rộng rãi trong tương lai.

AI đang ngày càng thay đổi lĩnh vực tài chính – ngân hàng, với ứng dụng nổi bật là Chatbot, giúp giảm tải công việc cho nhân viên dịch vụ khách hàng và hỗ trợ khách hàng 24/7 Công nghệ AI tự động hóa các nhiệm vụ, mang lại sự tiện lợi cho khách hàng trong việc giải quyết truy vấn mà không cần đến ngân hàng Việc thu thập và phân tích dữ liệu bằng AI giúp tối ưu hóa hiệu quả, học hỏi hành vi người dùng để tạo ra trải nghiệm cá nhân hóa AI còn giúp phát hiện giao dịch bất thường, ngăn chặn rửa tiền và gian lận, đồng thời cho phép các ngân hàng phân tích dòng tiền và phát hiện giao dịch gian lận trong thời gian thực Các trợ lý AI thông minh ghi nhận hành vi khách hàng để đưa ra gợi ý phù hợp, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng.

Dữ liệu ngày càng trở thành tài sản vô giá cho các công ty, đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng, giúp họ cạnh tranh và phát triển Ứng dụng dữ liệu lớn và khoa học dữ liệu cho phép ngân hàng thu thập và phân tích thông tin khách hàng, từ đó hiểu rõ và dự đoán nhu cầu của từng cá nhân và tổ chức Việc phân tích dữ liệu thị trường trong quá khứ giúp ngân hàng đưa ra quyết định nhanh chóng và thông minh hơn Ngoài ra, ứng dụng dữ liệu lớn còn giúp ngân hàng phân tích tâm lý và hành vi khách hàng, từ đó cá nhân hóa trải nghiệm dựa trên hồ sơ cá nhân và thói quen tiêu dùng.

IoT đóng vai trò then chốt trong kỷ nguyên CMVN 4.0, cho phép các thiết bị giao tiếp qua Internet để thu thập và trao đổi thông tin Ngành ngân hàng đã chủ động đầu tư vào IoT để phát triển hạ tầng thông minh, cải thiện cách thức khách hàng tương tác và thúc đẩy dịch vụ trực tuyến như Internet Banking và Mobile Banking Sự cạnh tranh hiện nay không chỉ dựa vào số lượng chi nhánh mà còn vào sự hiện diện trên các kênh số, với IoT là cầu nối thiết yếu Hơn nữa, IoT mở ra cơ hội hợp tác với các đối tác Fintech và Bigtech, tạo ra các mô hình thanh toán mới như ví điện tử và thanh toán không tiếp xúc Đồng thời, IoT cũng là nền tảng cho ngân hàng ứng dụng các công nghệ tiên tiến như API, Blockchain và Big Data, nhằm phát triển sản phẩm công nghệ cao đáp ứng nhu cầu thời đại Điện toán đám mây (Cloud computing) cung cấp mô hình dịch vụ cho phép người dùng truy cập tài nguyên điện toán chung mọi lúc, mọi nơi, mà không cần đầu tư vào hệ thống máy chủ riêng, nhờ vào hạ tầng do nhà cung cấp dịch vụ sở hữu.

Các nhà cung cấp dịch vụ điện toán đám mây không chỉ cung cấp hạ tầng mà còn các dịch vụ gia tăng như phân tích dữ liệu và kiểm thử phần mềm, giúp người dùng phát triển ứng dụng phục vụ nhu cầu kinh doanh Mô hình này đặc biệt phù hợp với các doanh nghiệp lớn như ngân hàng, hỗ trợ trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng số Việc sử dụng hạ tầng của nhà cung cấp dịch vụ giúp ngân hàng tiết kiệm chi phí cho hệ thống kết nối, truyền tải và lưu trữ thông tin, từ đó giảm bớt gánh nặng tài chính và tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi sang ngân hàng số.

1.4.2 Các mô hình chuyển đổi số trong ngân hàng

Trên toàn cầu, chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ và đa dạng, với mỗi ngân hàng áp dụng chiến lược và phương pháp riêng nhằm xây dựng một hệ sinh thái số toàn diện Mục tiêu là phát triển ngân hàng số đa năng, bao gồm 04 hình thái chủ yếu mà các ngân hàng đang hướng tới.

Ngân hàng số truyền thống phát triển thương hiệu và kênh phân phối qua việc thiết kế, quảng bá sản phẩm và dịch vụ ngân hàng trực tuyến, di động mới trên nền tảng Internet Họ tập trung vào trải nghiệm người dùng, nâng cao và tạo sự khác biệt cho các sản phẩm, dịch vụ hiện có Hình thức này tận dụng tối đa nguồn lực của ngân hàng truyền thống và sử dụng chung giấy phép hoạt động với ngân hàng truyền thống.

Ngân hàng số mới độc lập được phát triển từ ngân hàng truyền thống, hoạt động hoàn toàn tách biệt với ngân hàng mẹ Điều này bao gồm việc xây dựng hệ thống Back-end và Front-end độc lập, hoặc tạo ra một ngân hàng số mới dựa trên nền tảng công nghệ số với giấy phép hoạt động riêng biệt.

Chính sách thúc đẩy chuyển đổi số ngân hàng trên thế giới

Hoạt động chuyển đổi số trên toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ, yêu cầu các quốc gia xây dựng chính sách phù hợp với sự phát triển của ngân hàng số Các chính sách chủ yếu tập trung vào việc cải cách quy định hiện hành và phát triển khung pháp lý mới, được chia thành ba nhóm chính: chính sách về giao dịch điện tử và định danh điện tử, chính sách về dữ liệu và an toàn thông tin, và chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Giao dịch điện tử và định danh điện tử đang ngày càng phổ biến trên toàn cầu, dẫn đến việc các quốc gia cập nhật quy định về giá trị của giao dịch và chữ ký điện tử Sự phát triển công nghệ mới đã tạo ra hành lang pháp lý cho các tổ chức kinh doanh, đặc biệt là ngân hàng, để khai thác và ứng dụng hiệu quả Để thúc đẩy chuyển đổi số trong ngân hàng, nhiều quốc gia đã cho phép kết nối và khai thác dữ liệu từ cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia, giúp định danh và xác minh danh tính khách hàng nhanh chóng, rút ngắn thời gian giao dịch và giảm thiểu rủi ro giả mạo.

Trên toàn cầu, 82% quốc gia và vùng lãnh thổ đã thiết lập quy định về giao dịch điện tử, tương ứng với 158 nước (UNCTAD, 2020) Ví dụ, Mỹ đã thông qua Đạo luật về chữ ký điện tử (E-SIGN) từ năm 2000, công nhận chữ ký điện tử có giá trị pháp lý tương đương chữ ký tay Tại Anh, Luật về chữ ký điện tử được ban hành năm 2002 yêu cầu các giao dịch trực tuyến phải có chữ ký điện tử Ở Châu Âu, Luật về các dịch vụ định danh và xác thực điện tử (eIDAS) cũng đã được thực hiện nhằm quản lý các giao dịch điện tử.

Năm 2016, Liên minh Châu Âu đã ban hành quy định về chữ ký điện tử, trong khi tại Singapore, từ năm 2003, các ngân hàng đã được phép sử dụng dữ liệu để xác thực và định danh khách hàng hoàn toàn bằng phương thức điện tử thông qua hệ thống SingPass Chính sách về dữ liệu tại Singapore cũng chú trọng đến việc bảo đảm an ninh và an toàn thông tin.

Trong thời kỳ chuyển đổi số, bảo vệ quyền riêng tư của khách hàng là vấn đề quan trọng và thách thức lớn cho các ngân hàng Dữ liệu có thể được thu thập từ nhiều nguồn, dẫn đến rủi ro cao và khó kiểm soát Chính sách dữ liệu người dùng là yếu tố then chốt trong chiến lược ngân hàng số, giúp ngân hàng xây dựng quy định triển khai công nghệ điện toán đám mây Đồng thời, phát triển hạ tầng công nghệ và chính sách an toàn thông tin là nhiệm vụ liên tục của ngân hàng để đảm bảo an ninh mạng và bảo vệ người tiêu dùng.

Chính sách về công nghệ điện toán đám mây đang trở thành một yếu tố quan trọng trong việc lưu trữ và chia sẻ dữ liệu, được nhiều tổ chức lựa chọn Các cơ quan quản lý trên thế giới đã ban hành nhiều quy định nhằm khuyến khích các ngân hàng áp dụng công nghệ này Hàn Quốc và Nhật Bản là những quốc gia có dịch vụ điện toán đám mây phát triển mạnh Tại Đông Nam Á, chính phủ các nước như Thái Lan và Singapore cũng đã tích cực đưa ra quy định để hướng dẫn và khuyến khích việc khai thác dịch vụ đám mây trong hoạt động kinh doanh Cụ thể, Thái Lan cho phép các tổ chức tài chính thuê dịch vụ điện toán đám mây từ cả nhà cung cấp trong nước và quốc tế theo quy định số 19-2559 của Ngân hàng Trung ương Trong khi đó, Singapore không yêu cầu dữ liệu phải được lưu trữ trong lãnh thổ của mình đối với các dịch vụ thuê ngoài như điện toán đám mây.

Chính sách về quyền riêng tư đang trở thành một yếu tố quan trọng tại nhiều quốc gia, với quy định cho phép người dùng quyết định việc chia sẻ dữ liệu cá nhân của mình Ví dụ, Quy định bảo vệ dữ liệu chung (GDPR) của Liên minh Châu Âu và Đạo luật bảo vệ dữ liệu cá nhân (PDPA) của Singapore đều nhằm bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân Tại Malaysia, Đạo luật bảo vệ dữ liệu cá nhân quy định về việc thu thập và lưu giữ dữ liệu trong giao dịch thương mại, trong khi Đạo luật Dodd – Frank tại Mỹ tập trung vào bảo vệ người tiêu dùng trong hệ thống tài chính Đồng thời, các quốc gia cũng đang chú trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng số và Fintech Nhiều quốc gia đã triển khai khung quản lý thử nghiệm có kiểm soát (Fintech Regulatory Sandbox) để quản lý hoạt động Fintech, như Thái Lan, Malaysia và Singapore Ngoài ra, các tổ chức không phải ngân hàng cũng được khuyến khích tham gia vào các dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là thanh toán điện tử, trong khi quy trình cấp phép cho ngân hàng số ngày càng trở nên thuận tiện hơn tại các quốc gia như Singapore, Hàn Quốc, Malaysia và Philippines.

Kinh nghiệm phát triển ngân hàng số trên thế giới

1.6.1 Kinh nghiệm phát triển ngân hàng số ở một số quốc gia trên thế giới

Theo khảo sát của Boston Consulting Group, hiện có khoảng 250 ngân hàng số trên thế giới, trong đó khu vực Châu Á – Thái Bình Dương chiếm 20% với 50 ngân hàng đang hoạt động Nhiều ngân hàng thành công như BBVA (Mỹ), WeBank (Trung Quốc), DBS và UOB (Singapore) đã áp dụng mô hình kinh doanh trên nền tảng số, chủ yếu theo định hướng ngân hàng bán lẻ Sự thống trị của ngân hàng bán lẻ trong cuộc cách mạng ngân hàng số đến từ việc gia tăng triển khai các nền tảng ngân hàng trực tuyến và ngân hàng di động, cùng với các giải pháp thanh toán trực tuyến qua smartphone kết nối Internet.

Mỹ là thị trường tài chính hàng đầu với hệ thống ngân hàng và Fintech phát triển mạnh mẽ Trong thời kỳ chuyển đổi số, Mỹ đã thành công trong việc xây dựng cơ chế hợp tác giữa ngân hàng và Fintech, coi đây là chiến lược quan trọng Mối quan hệ này được quy định chặt chẽ nhằm tạo ra môi trường kinh doanh an toàn và hiệu quả Ngân hàng cung cấp sản phẩm, dịch vụ, trong khi Fintech triển khai giải pháp công nghệ Sự hợp tác này yêu cầu ngân hàng phải đảm bảo tuân thủ và đáng tin cậy, đồng thời cải thiện năng suất và mở rộng thị phần Ngược lại, Fintech yêu cầu ngân hàng có nguồn lực tài chính ổn định và cung cấp dữ liệu chính xác, kịp thời trong quá trình hợp tác.

Cuối năm 2012, BBVA đã đầu tư hơn 360 triệu USD để nâng cấp hệ thống ngân hàng lõi, nhằm cung cấp nhiều dịch vụ trực tuyến cho khách hàng Dự án này giúp ngân hàng trở thành một trong những tổ chức tài chính đầu tiên tại Hoa Kỳ triển khai xử lý thời gian thực và mở nền tảng cho bên thứ ba như Simple, một công ty kỹ thuật số cung cấp giải pháp chi tiêu thông minh Bước đi này không chỉ phát triển các doanh nghiệp mới với phương thức làm việc sáng tạo mà còn tạo nền tảng cho việc chia sẻ và thiết lập mối quan hệ giữa ngân hàng và các đối tác kỹ thuật số.

BBVA xác định hợp tác với các Fintech mới nổi là yếu tố quan trọng để thúc đẩy chuyển đổi số của ngân hàng Ngân hàng này đã tích cực hỗ trợ các hệ sinh thái Fintech nhằm tạo ra những trải nghiệm tốt hơn cho khách hàng Đặc biệt, vào năm 2014, BBVA đã mua lại Neobank Simple, thể hiện chiến lược của ngân hàng trong việc dẫn đầu sự thay đổi công nghệ nhanh chóng trong ngành tài chính.

BBVA Thụy Sĩ đã ra mắt tài khoản cá nhân thế hệ mới (New Gen) nhằm phục vụ nhu cầu của các nhà đầu tư trẻ tuổi, với khoản tiền gửi tối thiểu là 10.000 USD hoặc tương đương Tài khoản này hoàn toàn kỹ thuật số, giúp các nhà đầu tư mới dễ dàng tiếp cận và thực hiện giao dịch trong vòng chưa đầy 15 phút sau khi hoàn tất quy trình đăng ký và xác thực qua video BBVA đáp ứng nhu cầu của những khách hàng ưa thích sự độc lập và công nghệ, đồng thời quan tâm đến các lĩnh vực đầu tư sáng tạo, bền vững và tiền điện tử.

Tài khoản New Gen mang đến cho khách hàng quyền truy cập vào danh mục đa dạng các công ty và quỹ đầu tư, bao gồm cả các tài sản truyền thống như cổ phiếu và quỹ đầu tư Đặc biệt, New Gen cho phép khách hàng thiết lập ví tiền điện tử để lưu trữ, mua và bán bitcoin, tất cả được tích hợp hoàn toàn với ứng dụng ngân hàng di động Điều này giúp khách hàng dễ dàng theo dõi việc nắm giữ bitcoin cùng với các tài sản và khoản đầu tư khác của mình.

BBVA Thụy Sĩ đã chứng minh rằng việc tái cấu trúc hành trình khách hàng là rất quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ cá nhân hóa, đáp ứng đúng nhu cầu của khách hàng Họ cũng liên tục cải thiện và mở rộng các tiện ích liên quan, nhằm mang lại trải nghiệm liền mạch và xuyên suốt cho người dùng.

Commerzbank (Đức) đã khởi động chiến lược Commerzbank 4.0 vào năm 2016 với mục tiêu số hoá 80% quy trình kinh doanh, nhằm giảm chi phí hoạt động và tăng khả năng sinh lời Để thực hiện chiến lược này, ngân hàng đã đầu tư vào các Fintech và công ty khởi nghiệp công nghệ Vào tháng 01/2020, Commerzbank hoàn tất thỏa thuận với Petrus Advisers để tăng cổ phần trong công ty Fintech cho vay trực tuyến Comdirect và có kế hoạch tiếp quản hoạt động kinh doanh của Comdirect trong tương lai gần.

Gần đây, Commerzbank đã đầu tư 1,7 tỷ Euro vào chiến lược số hóa hoạt động ngân hàng, đồng thời có kế hoạch giảm số lượng chi nhánh giao dịch truyền thống Toàn bộ số vốn này sẽ được sử dụng để nâng cấp dịch vụ công nghệ thông tin và cơ sở hạ tầng, nhằm số hóa các quy trình chính và tự động hóa các hoạt động kinh doanh cốt lõi Mục tiêu của ngân hàng là giảm chi phí hoạt động khoảng 1,4 tỷ Euro, tương đương 20%, vào năm 2024.

Trong bối cảnh hậu Covid-19, nhiều ngân hàng trên toàn cầu đã đóng cửa vĩnh viễn các chi nhánh do người tiêu dùng ngày càng ưa chuộng dịch vụ ngân hàng kỹ thuật số Điều này dẫn đến việc một số ngân hàng vẫn duy trì 200 chi nhánh cùng với đội ngũ nhân viên đông đảo, nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong thời đại số hóa và đảm bảo an toàn hơn so với việc đến các địa điểm kinh doanh truyền thống.

N26 là một ngân hàng số thành công của Đức, hoạt động theo mô hình Neobanks và cung cấp đa dạng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng từ năm 2016 Ngân hàng này hoạt động hoàn toàn trên nền tảng số và chủ yếu cung cấp dịch vụ qua ứng dụng di động Ban đầu, N26 tập trung vào thấu chi và cấp tín dụng vi mô, nhưng đã mở rộng sang nhiều dịch vụ khác thông qua hợp tác với các công ty Fintech Một số dịch vụ nổi bật trên N26 bao gồm nộp, rút tiền mặt qua Barzahlen, chuyển tiền trong nước và quốc tế qua Mastercard và TransferWise, đầu tư tự động qua Vaamo, và cho vay sinh viên qua Auximoney Sự thành công của N26 chứng tỏ hiệu quả tích cực trong mối quan hệ hợp tác bền vững giữa ngân hàng và Fintech trong việc phát triển hệ sinh thái số.

Trung Quốc là quốc gia tiên phong trong phát triển ngân hàng số tại Châu Á, nhờ vào hệ thống hạ tầng kỹ thuật tiên tiến cùng sự hỗ trợ mạnh mẽ từ Chính phủ và Ngân hàng Trung ương WeBank, một trong những ngân hàng số đầu tiên và hàng đầu thế giới, hiện phục vụ khoảng 200 triệu khách hàng Ngay từ khi ra mắt, WeBank đã tích hợp các công nghệ Fintech thế hệ mới như AI, Blockchain, điện toán đám mây và Big Data, tạo ra một mô hình kinh doanh đột phá Phương pháp tiếp cận Fintech của WeBank có thể trở thành nguồn cảm hứng cho ngành Ngân hàng trong việc phát triển ngân hàng số.

Thành công của ngân hàng số WeBank tại Trung Quốc được hỗ trợ mạnh mẽ từ Chính phủ, với việc xây dựng khung pháp lý và chính sách phát triển ngân hàng số trên toàn quốc Ngân hàng Trung ương đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và ban hành các quy định liên quan đến ngân hàng điện tử, nhấn mạnh tầm quan trọng của bảo mật và quản trị rủi ro theo nguyên tắc Basel Chính phủ Trung Quốc cũng đặc biệt chú trọng đến việc bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực tài chính số Để thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của ngân hàng số, Chính phủ đã xác định cần xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ cho chuyển đổi kỹ thuật số, tập trung vào các công nghệ như AI, IoT, điện toán đám mây và Blockchain Hơn nữa, yếu tố con người cũng được đầu tư mạnh mẽ, với sự tham gia của các chuyên gia trong và ngoài nước từ những quốc gia có ngân hàng số phát triển như Mỹ và Anh.

Theo Cơ quan Quản lý Tiền tệ Singapore (MAS), trong những năm gần đây, cuộc đua thành lập ngân hàng số tại Singapore đã diễn ra sôi nổi Chính sách mở cửa trong lĩnh vực ngân hàng đã thu hút nhiều doanh nghiệp và tổ chức lớn tham gia vào thị trường tài chính, dẫn đến sự ra đời của nhiều ngân hàng mới, bao gồm cả ngân hàng số Sự xuất hiện của các ngân hàng mới, cả nội địa và quốc tế, đang tạo ra một môi trường cạnh tranh khốc liệt với các ngân hàng truyền thống như DBS và UOB.

DBS là ngân hàng tiên phong tại Singapore trong việc áp dụng mô hình ngân hàng số, với thương hiệu Digibank by DBS tại Indonesia và Ấn Độ Ngân hàng này đã nhanh chóng nắm bắt xu hướng công nghệ bằng cách ra mắt dịch vụ Wealth Chat, cho phép khách hàng thực hiện giao dịch qua tin nhắn trên Whatsapp và WeChat Đồng thời, DBS cũng đã tái định hình mô hình hoạt động để thích ứng với bối cảnh mới, giúp họ trở thành nền tảng thanh toán điện tử lớn thứ hai tại Singapore.

Tổng quan về hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam

Hệ thống Ngân hàng Việt Nam, với hơn 70 năm hình thành và phát triển, đã trải qua nhiều giai đoạn với nhiều dấu ấn nổi bật Trong thời gian này, ngân hàng đã phát triển nhanh chóng và đa dạng về sở hữu cũng như mô hình quản trị, bao gồm công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và ngân hàng hợp tác xã Hệ thống các tổ chức tài chính vi mô cũng đã được thiết lập và phủ sóng rộng rãi trên toàn quốc Quá trình đổi mới và phát triển trong khu vực ngân hàng tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính của nền kinh tế, trở thành kênh dẫn vốn chủ lực cho sự phát triển kinh tế.

Hình 2.1: Nhận diện thương hiệu một số NHTM Việt Nam (Nguồn: Tổng hợp)

Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đã trải qua sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng Vào đầu những năm 1990, 4 NHTM Nhà nước chiếm ưu thế hoàn toàn trong thị trường tiền gửi và cho vay Tuy nhiên, đến cuối năm 2021, theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Việt Nam đã có 46 ngân hàng hoạt động, bao gồm 4 NHTM Nhà nước (sở hữu 100% vốn nhà nước), 31 NHTM cổ phần (trong đó nhà nước nắm giữ cổ phần kiểm soát trên 50%) và 9 NHTM 100% vốn nước ngoài.

Tại Việt Nam, hiện có 2 ngân hàng thương mại liên doanh và 52 chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động Mạng lưới của các ngân hàng thương mại đang ngày càng mở rộng, tăng cường sự hiện diện ở từng địa phương, từ đó giúp phổ biến các dịch vụ ngân hàng đến tay người dân.

Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đang ngày càng mở rộng quy mô hoạt động và tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế, với sự cải thiện đáng kể về tài chính và quản lý rủi ro Đến 30/9/2021, tổng tài sản của toàn hệ thống đạt gần 14.381.639 tỷ đồng, với vốn điều lệ đạt 652.930 tỷ đồng, tương ứng với tốc độ tăng trưởng trung bình tổng tài sản và vốn điều lệ lần lượt là 7,53% và 8,32% Ngành ngân hàng đã phát huy vai trò xương sống của nền kinh tế, với tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi đạt trên 70%, đáp ứng kịp thời nhu cầu tín dụng trong bối cảnh kinh tế đầy thách thức.

Bảng 2.1 - Các chỉ tiêu cơ bản của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam

(Đơn vị tính: tỷ đồng, %)

Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi

NHTM nước ngoài, liên doanh 1.569.828 3,1 134.759 2,65 41,49

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, số liệu đến 30/9/2021)

Đến nay, 86% ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã đạt tỷ lệ an toàn vốn theo Basel II, với một số ngân hàng hoàn tất cả 3 trụ cột quan trọng và hướng tới áp dụng tiêu chuẩn cao hơn theo Basel III Việc hoàn thành sớm các tiêu chuẩn Basel II không chỉ giúp ngân hàng có thêm nguồn lực phát triển kinh doanh mà còn tạo điều kiện cho việc chuyển đổi số, một trong những mục tiêu hàng đầu của các ngân hàng thương mại Việt Nam để bắt kịp xu hướng thị trường và công nghệ.

Bảng 2.2 - Tỷ lệ an toàn vốn của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam

Loại hình NHTM Vốn tự có

Tỷ lệ an toàn vốn (%)

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, số liệu đến 30/9/2021)

Tính đến 30/9/2021, hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại (NHTM) đã có sự cải thiện đáng kể, với tổng lợi nhuận trước thuế ước đạt 139.294 tỷ đồng, tăng 45,2% so với cùng kỳ năm 2020 Theo khảo sát của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), có tới 78,8% tổ chức tín dụng (TCTD) dự báo lợi nhuận cả năm 2021 sẽ tăng trưởng dương, và 95% TCTD kỳ vọng lợi nhuận sẽ tiếp tục tăng trong năm 2022.

Sự cần thiết phải chuyển đổi số ngân hàng tại Việt Nam

Ở Việt Nam, chuyển đổi số bắt đầu được nhắc đến nhiều vào khoảng năm

Vào ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 749/QĐ-TTg Trong quá trình này, lĩnh vực tài chính - ngân hàng được xác định là một trong những ngành kinh tế ưu tiên hàng đầu cần thực hiện chuyển đổi số Chuyển đổi số trong tài chính - ngân hàng tại Việt Nam bao gồm việc phát triển tài chính điện tử và xây dựng nền tảng tài chính số hiện đại, bền vững, đồng thời triển khai công nghệ số trong các lĩnh vực thuế, hải quan, kho bạc, ngân hàng và chứng khoán.

Ngày 11/5/2021, Thống đốc NHNN phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, hướng tới hiện đại hóa hoạt động quản lý của NHNN và các TCTD Theo kế hoạch, đến năm 2025, 100% dịch vụ công của NHNN sẽ được nâng cấp lên mức độ 4 và tích hợp trên Cổng dịch vụ công quốc gia Đồng thời, 90% hồ sơ công việc tại NHNN sẽ được xử lý và lưu trữ trên môi trường mạng, trừ hồ sơ thuộc phạm vi bí mật nhà nước Ít nhất 50% hoạt động kiểm tra, giám sát của NHNN sẽ được thực hiện qua môi trường số và hệ thống thông tin của NHNN.

Trong hoạt động của tổ chức tín dụng (TCTD), ít nhất 50% các nghiệp vụ được thực hiện hoàn toàn trên môi trường số Hơn 50% người dân trưởng thành sử dụng dịch vụ thanh toán điện tử, và tối thiểu 70% số lượng giao dịch của khách hàng diễn ra trên các kênh số Tỷ lệ quyết định giải ngân và cho vay của ngân hàng thương mại (NHTM) và công ty tài chính đối với các khoản vay nhỏ lẻ, vay tiêu dùng của khách hàng cá nhân đạt tối thiểu 50% theo hướng số hóa và tự động hóa Ngoài ra, ít nhất 70% hồ sơ công việc tại TCTD được xử lý và lưu trữ trên môi trường số, ngoại trừ các hồ sơ thuộc phạm vi bí mật nhà nước Cuối cùng, ít nhất 60% TCTD có tỷ trọng doanh thu từ kênh số đạt trên 30%.

Đến năm 2030, mục tiêu đặt ra là tối thiểu 70% hoạt động kiểm tra và giám sát của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ được thực hiện qua môi trường số và hệ thống thông tin của NHNN Đồng thời, đối với các tổ chức tín dụng (TCTD), ít nhất 70% nghiệp vụ ngân hàng sẽ cho phép khách hàng thực hiện hoàn toàn trên nền tảng số.

Xu hướng dịch chuyển đầu tư và thương mại, cùng với sự chuyển đổi số mạnh mẽ dưới tác động của cuộc CMCN 4.0, đang ảnh hưởng sâu rộng đến ngành ngân hàng Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về dịch vụ ngân hàng trực tuyến và thanh toán không dùng tiền mặt, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần phát triển các sản phẩm thanh toán hiện đại và thân thiện với người dùng Đại dịch Covid-19 đã làm thay đổi thói quen tiêu dùng, tạo cơ hội cho việc phát triển ứng dụng ngân hàng số đa nền tảng như Internet Banking, Mobile Banking và ví điện tử Chuyển đổi số không chỉ giúp các ngân hàng mở rộng hệ khách hàng mới và tăng doanh số, mà còn mang lại lợi thế cạnh tranh trong cuộc đua phát triển ngân hàng số.

Chính sách thúc đẩy chuyển đổi số ngân hàng tại Việt Nam

Tại Việt Nam, Đảng và Chính phủ luôn chú trọng đến chuyển đổi số, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng Chính sách này đã được triển khai một cách rõ ràng và cụ thể thông qua nhiều văn bản chỉ đạo.

Ngày 27/9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52/NQ-TW, chỉ đạo các chính sách nhằm tham gia tích cực vào cuộc CMCN 4.0 Mục tiêu là tận dụng hiệu quả cơ hội từ CMCN 4.0 để đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện các đột phá chiến lược và hiện đại hóa đất nước Nghị quyết nhấn mạnh phát triển kinh tế số bền vững dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống và phúc lợi cho người dân, bảo đảm an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường sinh thái.

Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 14/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ nhằm thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam, tập trung vào việc tăng cường ứng dụng các nền tảng công nghệ mới như điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo (AI), máy học, Big Data, Internet vạn vật (IoT) và Blockchain trong quản lý và phát triển doanh nghiệp.

Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” tại Quyết định số

Theo Quyết định 749/QĐ-TTg, nhận thức là yếu tố then chốt trong chiến lược chuyển đổi số Đối với ngành Ngân hàng, các Ngân hàng Thương mại cần chú trọng vào việc mở rộng và đa dạng hóa kênh phân phối, tự động hóa quy trình làm việc, đồng thời hợp tác để xây dựng hệ sinh thái số hiệu quả.

Quyết định số 2289/QĐ-TTg ngày 31/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về CMCN 4.0 đến năm 2030, nhằm tạo điều kiện cho các ngân hàng thực hiện chuyển đổi số Chiến lược này ưu tiên áp dụng các công nghệ mới như Big Data, AI và Blockchain, đồng thời khuyến khích việc kết nối và chia sẻ dữ liệu qua giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) Mục tiêu là phát triển sản phẩm, dịch vụ mới và nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng.

Vào ngày 26/01/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 127/QĐ-TTg về "Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030" Chiến lược này nhấn mạnh vai trò của AI trong ngành ngân hàng, bao gồm việc hỗ trợ cấp tín dụng, phát hiện gian lận, và cá nhân hóa dịch vụ thông qua trợ lý ảo và chatbot.

Vào ngày 26/5/2016, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 41/NQ-CP nhằm khuyến khích và thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) tại Việt Nam Nghị quyết này đặc biệt tập trung vào các công ty Fintech, xác định rằng họ sẽ được hưởng ưu đãi thuế cho một số dịch vụ tài chính nhất định.

Các cơ quan quản lý tại Việt Nam đã thiết lập quy định rõ ràng về hành lang pháp lý liên quan đến chuyển đổi số, nhằm hỗ trợ và tạo nền tảng cho sự phát triển của ngân hàng số Điều này bao gồm các quy định pháp lý về giao dịch trên kênh số, cũng như việc định danh và xác thực điện tử.

Luật Giao dịch điện tử số 51/2005/QH11, được Quốc hội khoá XI thông qua vào ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ 01/3/2006, gồm 8 chương và 54 điều, quy định về các yếu tố liên quan đến giao dịch điện tử như chữ ký điện tử, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực, và giá trị pháp lý của hợp đồng ký bằng chữ ký điện tử Luật cũng xác định trách nhiệm bảo mật thông tin và giải quyết tranh chấp trong giao dịch điện tử, áp dụng cho các lĩnh vực như hành chính, dân sự, và thương mại Sự ra đời của Luật Giao dịch điện tử đã tạo ra hành lang pháp lý cho giao dịch điện tử, giúp giảm thiểu hoạt động thủ công trong ngành ngân hàng và thúc đẩy dịch vụ ngân hàng số Theo Điều 6 và Điều 7, Nhà nước đã thiết lập các chính sách quản lý đối với hoạt động điện tử.

Nghị định số 35/2007/NĐ-CP về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng, ban hành ngày 08/3/2007, quy định rằng các giao dịch điện tử phải tuân thủ Luật Giao dịch điện tử và các quy định pháp luật liên quan Nghị định này cũng nêu rõ các hoạt động ngân hàng có thể thực hiện giao dịch điện tử, điều kiện thực hiện giao dịch này, cũng như quy định về chứng từ điện tử trong lĩnh vực ngân hàng.

Ngoài các quy định chính, có nhiều văn bản pháp lý liên quan như Nghị định số 130/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số, Thông tư số 16/2020/TT-NHNN về mở tài khoản thanh toán cá nhân qua phương thức điện tử (e-KYC), và Thông tư số 17/2021/TT-NHNN quy định phát hành thẻ ngân hàng bằng e-KYC Những quy định này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo pháp lý về lưu trữ, bảo vệ và chia sẻ dữ liệu khách hàng.

Luật An ninh mạng 24/2018/QH14, ban hành ngày 12/6/2018, quy định chi tiết về việc bảo đảm an toàn trong không gian mạng, nhằm ngăn chặn các hành vi gây hại đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội và quyền lợi hợp pháp của cá nhân, tổ chức Luật cũng đề cập đến việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi xâm phạm an ninh mạng Bên cạnh đó, các quy định liên quan đến lưu trữ, bảo vệ và chia sẻ dữ liệu khách hàng được quy định trong các văn bản pháp luật như Luật Công nghệ thông tin 67/2006/QH11, Luật An toàn thông tin 86/2015/QH13, và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 59/2010/QH12.

NHNN đã ban hành nhiều văn bản quan trọng liên quan đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng, bao gồm Thông tư số 01/2011/TT-NHNN về an toàn và bảo mật hệ thống công nghệ thông tin, và Thông tư số 29/2011/TT-NHNN quy định an toàn cho dịch vụ ngân hàng trực tuyến và qua di động Ngày 16/3/2017, Quyết định số 328/QĐ-NHNN được ban hành nhằm thành lập Ban Chỉ đạo và Tổ giúp việc về Fintech, với mục tiêu xây dựng cơ chế quản lý phù hợp và hoàn thiện khung pháp lý để hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp Fintech tại Việt Nam, đồng thời xây dựng chiến lược phát triển Fintech phù hợp với định hướng của Chính phủ.

Nghị định 101/2012/NĐ-CP quy định trách nhiệm quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước về hoạt động thanh toán điện tử, bao gồm thông tin báo cáo, bảo mật thông tin, và giám sát hệ thống thanh toán Năm 2017, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển thanh toán điện tử tại Việt Nam giai đoạn 2016-2020 Tiếp theo, vào ngày 28/10/2021, Quyết định số 1813/QĐ-TTg đã phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025.

NHNN có trách nhiệm ban hành kế hoạch triển khai đồng bộ và hiệu quả các giải pháp trong phạm vi thẩm quyền của mình, theo Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025.

Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt

2.4.1 Hạ tầng kỹ thuật, công nghệ

Sự phát triển của công nghệ thông tin và hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là mạng Internet, đã thúc đẩy sự thay đổi nhanh chóng trong nhiều lĩnh vực trên toàn cầu Tại Việt Nam, sau hơn 70 năm phát triển, cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngành Ngân hàng đã liên tục được hoàn thiện và nâng cấp, trong đó hệ thống ngân hàng lõi (CBS) đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động và dịch vụ ngân hàng.

Hầu hết các hệ thống Core Banking System (CBS) tại Việt Nam đều được các ngân hàng mua lại từ các đối tác nước ngoài, vì việc xây dựng một CBS từ đầu rất phức tạp và tốn thời gian, đồng thời chi phí xây dựng còn cao hơn chi phí bản quyền mua lại Do đó, các ngân hàng lựa chọn phương án mua lại các hệ thống đã được phát triển và sẵn sàng sử dụng, giúp giảm thiểu rủi ro và tiết kiệm thời gian Hơn nữa, các CBS thường sử dụng ngôn ngữ lập trình cũ, khiến việc tìm kiếm nhân lực có khả năng phát triển hệ thống trở nên khó khăn Việc mua lại bản quyền và xây dựng đội ngũ kỹ thuật chuyên môn cao để duy trì và phát triển ứng dụng trên nền tảng sẵn có sẽ đơn giản hơn nhiều.

Mặc dù nhiều hệ thống CBS tại Việt Nam đã có tuổi đời lâu, nhưng chúng vẫn được nâng cấp và hiện đại hóa thường xuyên để theo kịp sự phát triển công nghệ toàn cầu và hội nhập kinh tế quốc tế Các ngân hàng Việt Nam lựa chọn những hệ thống đã được các ngân hàng lớn trên thế giới tin dùng, đảm bảo tính ổn định, bảo mật và tuân thủ các tiêu chuẩn khắt khe Chẳng hạn, MBBank, Techcombank, Sacombank và VPBank đang sử dụng hệ thống Temenos hàng đầu thế giới từ Thụy Sĩ, trong khi VCB, VietinBank và BIDV sử dụng hệ thống Silverlake Axis lâu đời từ Malaysia.

Hiện nay, hoạt động thanh toán qua ngân hàng tại Việt Nam chủ yếu diễn ra qua các hệ thống do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tổ chức và quản lý, bao gồm hệ thống thanh toán bù trừ điện tử và thanh toán điện tử liên ngân hàng Bên cạnh đó, còn có các hệ thống chuyển mạch và thanh toán bù trừ thẻ, cũng như các hệ thống thanh toán nội bộ và thanh toán song phương do một số tổ chức tín dụng (TCTD) điều hành Đối với giao dịch thanh toán quốc tế, các dịch vụ chuyển tiền chủ yếu được thực hiện qua hệ thống SWIFT và Western Union, với sự tham gia của các TCTD trong nước thông qua các thỏa thuận hợp tác với tổ chức quốc tế.

Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (IBPS) là hệ thống thanh toán lâu đời nhất tại Việt Nam, được phát triển bởi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới IBPS là một hệ thống thanh toán trực tuyến hiện đại, tuân theo tiêu chuẩn quốc tế và hiện đang là một trong những kênh thanh toán nhanh nhất tại Việt Nam.

Hệ thống IBPS đáp ứng tiêu chuẩn cao về tốc độ xử lý và tính bảo mật, đồng thời được nâng cấp hiện đại và tập trung, giữ vai trò là hệ thống thanh toán xương sống quốc gia Nó kết nối với các hệ thống khác trong nền kinh tế, tạo nền tảng quan trọng cho các ngân hàng thương mại phát triển các phương tiện và dịch vụ thanh toán điện tử cho khách hàng.

Hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử NAPAS là dịch vụ duy nhất tại Việt Nam cung cấp chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử NAPAS quản lý hơn 19.600 máy ATM và gần 360.000 máy POS, phục vụ hơn 120 triệu chủ thẻ Dịch vụ của NAPAS bao phủ hơn 100 tổ chức tài chính, trung gian thanh toán, và nhiều đối tác trong các lĩnh vực như hàng không, viễn thông, khách sạn, và thương mại điện tử Với vai trò là Trung tâm chuyển mạch tài chính quốc gia, NAPAS phối hợp với ngân hàng và đối tác để phát triển dịch vụ thanh toán qua thẻ và tài khoản ngân hàng, đóng góp vào sự đa dạng hóa hệ sinh thái thanh toán điện tử tại Việt Nam.

Hệ thống thanh toán bù trừ tự động các giao dịch bán lẻ (ACH) được NHNN xây dựng và chính thức hoạt động từ năm 2020, cung cấp dịch vụ thanh toán theo thời gian thực và xử lý giao dịch đa kênh 24/7 Tiêu chuẩn kỹ thuật của ACH dựa trên ISO 20022, cho phép mở rộng nhanh chóng và tích hợp dễ dàng giữa các hệ thống.

CIC, tổ chức thuộc NHNN, có nhiệm vụ thu thập, lưu trữ và phân tích thông tin tín dụng của khách hàng để hỗ trợ các ngân hàng Là trụ cột của hạ tầng tài chính quốc gia, CIC không ngừng tìm kiếm công nghệ mới nhằm xây dựng kho dữ liệu tín dụng chất lượng cao và đồng bộ Nỗ lực mở rộng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu tín dụng quốc gia về độ bao phủ và chiều sâu thông tin đã giúp CIC cải thiện liên tục chất lượng sản phẩm và dịch vụ Hầu hết các hoạt động của CIC đã được số hóa và tự động hóa, đảm bảo an toàn thông tin, đồng thời hình thành mạng lưới đa kênh kết nối với tất cả tổ chức tín dụng, bao gồm cả tổ chức tài chính tiêu dùng và quỹ tín dụng nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho việc báo cáo thông tin và tiếp cận dịch vụ CIC cũng đang kết nối liên thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Chính phủ Việt Nam đang triển khai số hóa toàn diện, cho phép kết nối và chia sẻ dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các ngành, bao gồm ngân hàng Nhờ vào thẻ căn cước công dân gắn chip mới (CCCD), các ngân hàng có thể xác thực thông tin khách hàng một cách điện tử, giảm thời gian xử lý và loại bỏ rủi ro giả mạo Trong chiến lược chuyển đổi số, ngân hàng cũng đang phát triển các sản phẩm và ứng dụng sử dụng CCCD chip mới cho giao dịch, đồng thời nâng cấp hệ thống để cung cấp dịch vụ nộp tiền, rút tiền và thanh toán qua thẻ CCCD tại máy ATM.

2.4.2 Chi phí đầu tư cho chuyển đổi số

Chi phí đầu tư cho công nghệ trong xây dựng ngân hàng số là rất lớn và thường xuyên cần cập nhật do sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ Điều này dẫn đến việc ngân hàng phải đầu tư nhiều lần và liên tục để nâng cấp hệ thống Hiện nay, tỷ lệ chi đầu tư công nghệ chiếm 8,7% tổng ngân sách của ngân hàng, con số này cao hơn so với các ngành khác và dự đoán sẽ tiếp tục tăng Mặc dù chuyển đổi số mang lại lợi ích dài hạn, ngân hàng cần phải chi một khoản lớn cho đầu tư ban đầu và chi phí thường niên để duy trì công nghệ mới.

Nguồn nhân lực cho chuyển đổi số là thách thức lớn đối với các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam Khảo sát của Navigos Search cho thấy nhu cầu tuyển dụng nhân sự chất lượng cao, như chuyên gia phát triển sản phẩm số và lập trình viên ứng dụng ngân hàng, đang gia tăng mạnh mẽ Tuy nhiên, đội ngũ kỹ thuật trong ngành ngân hàng cần có kiến thức về nghiệp vụ, quy định pháp lý và quản trị rủi ro Ngoài ra, họ cũng cần trang bị kỹ năng số và kiến thức về công nghệ mới như AI, Blockchain và Big Data Công tác đào tạo hiện tại ở Việt Nam chưa theo kịp sự phát triển công nghệ, dẫn đến việc nhiều NHTM phải tìm kiếm nhân sự kỹ thuật từ nước ngoài hoặc các kỹ sư CNTT Việt Nam đã du học để phát triển ngân hàng số.

Sự phát triển của Fintech đã làm gia tăng áp lực về nhân sự cho các ngân hàng, khi mà các Fintech sẵn sàng trả lương cao cho nhân sự kỹ thuật chất lượng, trong khi ngân hàng phải đối mặt với chi phí nhân sự lớn do quy mô nhân lực khổng lồ Các ngân hàng lớn tại Việt Nam có thể có từ 20.000 đến 30.000 nhân viên, điều này khiến họ phải cân nhắc kỹ lưỡng về ngân sách Dù ở các nước phát triển như Mỹ, Anh, Đức, công nghệ đã giúp giải quyết vấn đề nhân sự trong ngành tài chính, nhưng tại Việt Nam, các ngân hàng vẫn đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nhân sự chất lượng cao cho chiến lược chuyển đổi số.

Hiện tại, quản lý dịch vụ ngân hàng số chưa có văn bản quy định riêng, nhưng đã được tích hợp vào các văn bản liên quan Để phát triển dịch vụ ngân hàng số một cách hiệu quả, không chỉ cần nỗ lực từ các ngân hàng thương mại mà còn cần sự hỗ trợ từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong việc hoàn thiện khung pháp lý và chính sách NHNN cần nhanh chóng cải thiện môi trường chính sách, thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong ngân hàng, đồng thời đổi mới và hoàn thiện các văn bản pháp lý, quy trình nghiệp vụ phù hợp với Luật Giao dịch điện tử và các quy định liên quan.

Thực trạng chuyển đổi số tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam

2.5.1 Thực trạng chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam

Nhiều ngân hàng thương mại Việt Nam đang tái định hình mô hình kinh doanh, tập trung vào việc gia tăng dịch vụ ngân hàng bán lẻ, đặc biệt là cho khách hàng cá nhân Gần đây, một số ngân hàng đã tiên phong chuyển đổi sang kênh giao dịch số cho khách hàng tổ chức, nhằm nâng cao trải nghiệm và mở rộng độ bao phủ, tiến tới việc phát triển một ngân hàng số hóa toàn diện.

So với các quốc gia phát triển, số lượng ngân hàng số tại Việt Nam vẫn còn hạn chế Hiện tại, các ngân hàng đang trong giai đoạn đầu của quá trình số hóa, điều này tạo ra cơ hội lớn để áp dụng công nghệ số nhằm phát triển các sản phẩm và dịch vụ mới, mang lại tiện ích cho khách hàng.

Xu hướng chuyển sang sử dụng các kênh số trong dịch vụ ngân hàng đang gia tăng mạnh mẽ, với 58% ngân hàng dự đoán rằng trong 3 đến 5 năm tới, tỷ lệ khách hàng sử dụng kênh số sẽ vượt 60% Các ngân hàng đang hợp tác với các công ty Fintech và kết nối với các hệ sinh thái số từ các ngành khác nhau, nhằm mang đến cho khách hàng trải nghiệm dịch vụ đầy đủ và thuận tiện, tạo ra sự gắn kết bền vững.

Trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế số và CMCN 4.0, Việt Nam không thể đứng ngoài xu hướng số hóa, đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng Với cơ cấu dân số trẻ, hơn 72% dân số sở hữu điện thoại thông minh và 67% sử dụng Internet, Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển ngân hàng số Số hóa ngân hàng không chỉ giúp đáp ứng kỳ vọng cao của khách hàng mà còn đơn giản hóa quy trình, nâng cao tính cạnh tranh và cắt giảm chi phí.

Nhằm thích ứng với xu hướng số hóa dịch vụ ngân hàng, NHNN đã hoàn thiện cơ chế chính sách và xây dựng hành lang pháp lý cho các hoạt động ngân hàng, bao gồm mô hình ngân hàng đại lý, nhận biết khách hàng điện tử (e-KYC) và tiền điện tử Hiện tại, 94% ngân hàng tại Việt Nam đã triển khai chiến lược chuyển đổi số, với nhiều ngân hàng thành lập trung tâm ngân hàng số và chuyển đổi mô hình hoạt động theo hướng kỹ thuật số, nhờ vào việc ứng dụng công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây và tự động hóa quy trình Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa có ngân hàng số đúng nghĩa nào.

Theo Báo cáo ứng dụng ngân hàng số tại Việt Nam (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2021), quá trình chuyển đổi số của các ngân hàng được chia thành ba giai đoạn chính.

Giai đoạn số hóa trong ngân hàng là quá trình cải thiện hiệu quả hoạt động thông qua việc áp dụng công nghệ vào dữ liệu, tài nguyên và quy trình cụ thể Việc này giúp tối ưu hóa các hoạt động, nâng cao năng suất và tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng.

Giai đoạn chuyển đổi kỹ thuật số trong ngành ngân hàng đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ khi các ngân hàng tiến hành số hóa toàn bộ hoạt động của mình Việc tích hợp và kết nối các quy trình số không chỉ giúp tối ưu hóa hiệu suất mà còn tạo ra hành trình trải nghiệm khách hàng mang tính cá nhân hóa, nâng cao sự hài lòng và gắn kết với khách hàng.

Giai đoạn Tái tạo số đang chứng kiến sự kết hợp chưa từng có giữa công nghệ và nền tảng kỹ thuật số trong ngành ngân hàng, nhằm tạo ra doanh thu và kết quả thông qua các chiến lược sản phẩm và trải nghiệm sáng tạo.

Trên toàn cầu, quá trình chuyển đổi số trong ngành ngân hàng diễn ra qua ba giai đoạn chính: đầu tiên là phản ứng kỹ thuật số, tiếp theo là thích ứng công nghệ, và cuối cùng là xây dựng vị thế chiến lược.

Tiến trình chuyển đổi số tại các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đang diễn ra phù hợp với xu hướng toàn cầu Tuy nhiên, hiện nay, phần lớn các NHTM chỉ mới ở giai đoạn đầu của quá trình này, chủ yếu tập trung vào việc cải thiện kênh giao tiếp và quy trình Một số ngân hàng tiên phong đã bắt đầu chuyển sang giai đoạn tiếp theo, liên quan đến nền tảng dữ liệu, nhưng vẫn còn trong quá trình hoàn thiện.

Hình 2.2: Tiến trình chuyển đổi số ngân hàng trên thế giới (Nguồn: BBVA, 2015)

Sự đổi mới và cởi mở trong chính sách đã thúc đẩy hoạt động Fintech, giúp các doanh nghiệp tài chính và ngân hàng vượt qua khó khăn Các ngân hàng thương mại (NHTM) đã chủ động hợp tác với các đối tác Fintech để phát triển sản phẩm và dịch vụ mới, đồng thời mở rộng hệ sinh thái số tương tác với khách hàng qua kênh Mobile Banking Theo thống kê đến quý II/2021, Mobile Banking đã ghi nhận mức tăng trưởng 200%, với khoảng 30 triệu người sử dụng hệ thống thanh toán ngân hàng mỗi ngày.

Tại Việt Nam, công nghệ tài chính đã phát triển mạnh mẽ với sự áp dụng của các ngân hàng thương mại, bao gồm thanh toán qua di động, mã QR chuẩn hóa, ví điện tử và thẻ chip Những cải tiến này không chỉ nâng cao khả năng cạnh tranh của hệ thống ngân hàng mà còn mở rộng dịch vụ đến người dân, đặc biệt là ở nông thôn và vùng sâu vùng xa Tuy nhiên, hầu hết các ngân hàng vẫn chỉ mới thực hiện chuyển đổi số ở mức cơ bản, chủ yếu tập trung vào quy trình và kênh giao tiếp, trong khi việc nâng cấp nền tảng dữ liệu chỉ đang được triển khai tại một số ngân hàng tiên phong.

Hình 2.3: Các mức độ phát triển ngân hàng số ở Việt Nam (Nguồn: Tổng hợp)

Hiện nay, các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đang tích cực số hóa hoạt động của mình với hai phương pháp chính: nâng cao trải nghiệm khách hàng thông qua các tiện ích ngân hàng số và tương tác trên mạng xã hội, đồng thời tập trung vào việc số hóa quy trình vận hành nội bộ Theo khảo sát của Ernst & Young, 42% ngân hàng Việt Nam đã sẵn sàng cho chuyển đổi số, trong khi 28% ngân hàng đã triển khai chiến lược số hóa trong hoạt động kinh doanh.

Theo khảo sát của NHNN vào tháng 08/2020, 95% ngân hàng tại Việt Nam đã có hoặc đang xây dựng chiến lược chuyển đổi số Trong số đó, 38% ngân hàng đã phê duyệt chiến lược này, 42% đang trong quá trình xây dựng, và 15% có kế hoạch triển khai Điều này cho thấy các ngân hàng thương mại Việt Nam đang rất sẵn sàng cho việc nghiên cứu và triển khai chiến lược chuyển đổi số.

Về kỳ vọng chuyển đổi số trong giai đoạn 2-5 năm tới: 82,5% kỳ vọng tăng trưởng doanh thu ít

Đánh giá hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam - 70

2.6.1 Những kết quả đạt được a Tối ưu hóa hoạt động ngân hàng nhờ chuyển đổi số:

Đại dịch Covid-19, mặc dù gây ra nhiều khó khăn cho kinh tế và đời sống người dân, đã trở thành động lực thúc đẩy chuyển đổi số trong nền kinh tế và hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam Việc áp dụng số hóa trong bối cảnh kinh tế biến động đã giúp các ngân hàng giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động và cải thiện khả năng sinh lời đáng kể.

Trong năm 2021, sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng tài khoản cá nhân, đặc biệt là tài khoản mở trực tuyến qua e-KYC, đã đạt hơn 1,8 triệu tài khoản thanh toán chỉ trong 10 tháng Kết quả này phản ánh sự tăng trưởng của tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) tại các ngân hàng thương mại, với Techcombank đạt 50,4%, MBBank 48,7% và VCB 35,7% Việc gia tăng tỷ lệ CASA là mục tiêu quan trọng của nhiều ngân hàng nhằm giảm chi phí huy động vốn, nâng cao sức cạnh tranh và cải thiện khả năng sinh lời.

Chuyển đổi số trong ngành ngân hàng không chỉ giúp giảm tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) mà còn cải thiện lợi nhuận Theo thống kê, nhiều ngân hàng thương mại tại Việt Nam đã ghi nhận CIR giảm, với mức trung bình khoảng 40% Cụ thể, VPBank đã đạt tổng thu nhập hoạt động tăng 13,5% lên 44,3 nghìn tỷ đồng trong năm 2021, trong khi chi phí hoạt động giảm 6%, dẫn đến CIR giảm còn 24,2%, mức thấp nhất trong hệ thống ngân hàng Việt Nam năm 2021 VPBank nổi bật với những kết quả ấn tượng trong hoạt động ngân hàng số trong năm này.

Nhờ vào quá trình chuyển đổi số tích cực, các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đã nhanh chóng thích ứng với tình hình dịch bệnh Covid-19 Dù trải qua thời gian giãn cách xã hội kéo dài, các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng vẫn phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là nhu cầu giao dịch trực tuyến Điều này giúp ngân hàng tiết kiệm đáng kể chi phí quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Các nền tảng giao dịch số của ngân hàng đã đạt được kết quả ấn tượng, với MBBank có 92% khách hàng giao dịch qua kênh số, TPBank đạt 90%, và VPBank gần 98% Chuyển đổi số không chỉ giúp ngân hàng tồn tại trong bối cảnh khó khăn mà còn góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế.

Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi cho chuyển đổi số, bao gồm dân số trẻ, hạ tầng viễn thông 3G, 4G rộng khắp và tỷ lệ sử dụng điện thoại di động cao Trước đây, tỷ lệ chấp nhận số hóa còn thấp do người dân chưa thấy lý do để sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến Tuy nhiên, đại dịch Covid-19 đã làm thay đổi nhận thức của người dân về tầm quan trọng của ngân hàng trực tuyến, đồng thời thúc đẩy các ngân hàng áp dụng công nghệ như Big Data, trí tuệ nhân tạo (AI), chuỗi khối (Blockchain) và API Như vậy, Covid-19 đã trở thành yếu tố quan trọng giúp Việt Nam tăng tốc trong việc số hóa nền kinh tế, đặc biệt là ngành Ngân hàng.

Các ngân hàng cần tiếp tục đầu tư để đáp ứng nhu cầu thay đổi của khách hàng, đồng thời hỗ trợ những người còn e ngại về an toàn trên không gian mạng Chuyển đổi số sẽ là động lực quan trọng cho sự phục hồi và phát triển kinh tế, trong đó ngân hàng sẽ đóng vai trò lớn trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam.

Xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt đã gia tăng mạnh mẽ trong đại dịch Covid-19, khiến các ngân hàng thương mại nhanh chóng nâng cấp và phát triển các tiện ích trên nền tảng ngân hàng số Sự phát triển của công nghệ trong thời đại CMCN 4.0 đã tạo ra nhu cầu cao hơn từ người dùng đối với các dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ số, nhằm đáp ứng mọi yêu cầu trong thời đại mới.

Một nghiên cứu của Visa (2021) cho thấy rằng tại Việt Nam, nhu cầu thanh toán bằng tiền mặt đã giảm kể từ khi dịch Covid-19 bùng phát và dự kiến sẽ tiếp tục giảm mạnh trong tương lai Sự thay đổi này chủ yếu do sự phát triển nhanh chóng của các phương thức thanh toán điện tử, giúp người dùng thực hiện giao dịch nhanh chóng và tiện lợi hơn, đồng thời giảm nguy cơ tiếp xúc trong bối cảnh dịch bệnh Theo khảo sát, ít nhất 65% người tiêu dùng đã chọn giảm lượng tiền mặt mang theo và chuyển sang sử dụng thẻ cũng như các phương thức thanh toán không tiếp xúc.

Theo thống kê của NHNN, tốc độ tăng trưởng thanh toán qua thiết bị di động gần đây đã tăng mạnh, với mức tăng trung bình đạt 90% về số lượng và 150% về giá trị Nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) ghi nhận hơn 90% giao dịch qua kênh số Các NHTM cũng liên tục nâng cấp và mở rộng hệ sinh thái số, kết nối dịch vụ ngân hàng với các dịch vụ số khác như công, bảo hiểm xã hội, và nộp thuế điện tử, mang lại cho người tiêu dùng trải nghiệm giao dịch tiện lợi Sự thay đổi trong hành vi người tiêu dùng chính là "chất xúc tác" thúc đẩy các ngân hàng đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số.

2.6.2 Những tồn tại, hạn chế

Trong quá trình chuyển đổi số của các ngân hàng truyền thống, việc xây dựng ngân hàng số đang đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm hạn chế về nhân lực, tài lực và khung pháp lý.

Thứ nhất, hạn chế về nguồn nhân lực để triển khai chuyển đổi số:

Ngành ngân hàng đang đối mặt với sự phát triển không ngừng của công nghệ, vì vậy để không bị lạc hậu, các ngân hàng cần nhanh chóng áp dụng những công nghệ tiên tiến như Big Data, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và Blockchain.

Trong quá trình xây dựng và phát triển ngân hàng số, các ngân hàng cần một đội ngũ nhân lực có khả năng nắm bắt công nghệ mới Đội ngũ này không chỉ cần am hiểu nghiệp vụ ngân hàng mà còn phải có kỹ năng CNTT cao để theo kịp tiến bộ công nghệ Tuy nhiên, nguồn nhân lực cho chuyển đổi số tại các ngân hàng Việt Nam hiện đang khan hiếm, đặc biệt là kỹ sư và lập trình viên có chuyên môn cao.

Tỷ lệ nguồn nhân lực có chuyên môn kỹ thuật tại Việt Nam hiện còn thấp, chỉ đạt hơn 1%, so với Mỹ (4%), Hàn Quốc (2,5%) và Ấn Độ (1,78%) Đặc biệt, nhân lực cho chuyển đổi số ngân hàng càng khan hiếm, tạo ra thách thức lớn cho ngành này Hơn nữa, chất lượng nhân sự cũng đáng lo ngại do các chương trình đào tạo chưa theo kịp với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ mới.

Nhiều ngân hàng hiện nay vẫn chưa xác định rõ tầm nhìn về chuyển đổi số và mối liên hệ với chiến lược kinh doanh của mình Điều này dẫn đến việc họ chưa xây dựng kế hoạch và lộ trình cụ thể, đặc biệt là trong việc phân bổ nguồn lực hợp lý để đầu tư vào công nghệ mới và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với quá trình chuyển đổi số.

Hành lang pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Việt Nam hiện chưa hoàn thiện, ảnh hưởng đến sự ứng dụng công nghệ cao trong các ngân hàng Chính phủ cần xây dựng các quy định pháp lý rõ ràng nhằm tăng tính minh bạch và hợp pháp cho ngân hàng số Hiện tại, các quy định chủ yếu tập trung vào thanh toán không dùng tiền mặt, trong khi các vấn đề như bảo mật thông tin khách hàng và quản lý giao dịch tài khoản vẫn còn nhiều hạn chế Thêm vào đó, sự thiếu hụt quy định cho các công ty công nghệ tài chính (Fintech) đang tạo áp lực cho sự phát triển ngân hàng số, dẫn đến sự mất công bằng trong cạnh tranh giữa Fintech và các ngân hàng thương mại truyền thống.

Thứ ba, cơ sở hạ tầng công nghệ kết nối chưa đồng bộ, chuẩn hóa:

CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG CHUYỂN ĐỔI SỐ Ở CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Ngày đăng: 21/09/2022, 16:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. 1- Một số công nghệ tiêu biểu trong chuyển đổi số (Nguồn: Tổng hợp) - Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 1. 1- Một số công nghệ tiêu biểu trong chuyển đổi số (Nguồn: Tổng hợp) (Trang 18)
thì và hồn tồn miễn phí, điều này đã có tác động làm đổi mới các hình thức thanh tốn của các ngân hàng (Wewege et al., 2020) - Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam
th ì và hồn tồn miễn phí, điều này đã có tác động làm đổi mới các hình thức thanh tốn của các ngân hàng (Wewege et al., 2020) (Trang 20)
Hình 1. 3- Mô hình kiến trúc tổng quan của một ngân hàng số cơ bản - Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 1. 3- Mô hình kiến trúc tổng quan của một ngân hàng số cơ bản (Trang 22)
Hình 1.4 - Lịch sử phát triển công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng (Nguồn: Đỗ - Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 1.4 Lịch sử phát triển công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng (Nguồn: Đỗ (Trang 29)
Hệ thống Ngân hàngViệt Nam với lịch sử hơn 70 năm hình thành và phát triển đã trải qua nhiều chặng đường với rất nhiều dấu ấn nổi bật - Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam
th ống Ngân hàngViệt Nam với lịch sử hơn 70 năm hình thành và phát triển đã trải qua nhiều chặng đường với rất nhiều dấu ấn nổi bật (Trang 48)
Bảng 2. 1- Các chỉ tiêu cơ bản của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam (Đơn - Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Bảng 2. 1- Các chỉ tiêu cơ bản của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam (Đơn (Trang 49)
Bảng 2. 2- Tỷ lệ an toàn vốn của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam - Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Bảng 2. 2- Tỷ lệ an toàn vốn của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam (Trang 50)
Hình 2.2: Tiến trình chuyển đổi số ngân hàng trên thế giới (Nguồn: BBVA, 2015) - Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 2.2 Tiến trình chuyển đổi số ngân hàng trên thế giới (Nguồn: BBVA, 2015) (Trang 63)
Hình 2.3: Các mức độ phát triển ngân hàng số ở Việt Nam (Nguồn: Tổng hợp) - Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 2.3 Các mức độ phát triển ngân hàng số ở Việt Nam (Nguồn: Tổng hợp) (Trang 64)
Hình 2. 5- Mơ hình chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam - Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 2. 5- Mơ hình chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam (Trang 65)
Hình 2.4 - Mức độ nghiên cứu, triển khai chuyển đổi số ở các Ngân hàng - Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 2.4 Mức độ nghiên cứu, triển khai chuyển đổi số ở các Ngân hàng (Trang 65)
Hình 2. 6- Tăng trưởng tài khoản cá nhân ở các Ngân hàng thương mại Việt - Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 2. 6- Tăng trưởng tài khoản cá nhân ở các Ngân hàng thương mại Việt (Trang 67)
Hình 2. 7- Tăng trưởng thẻ cá nhân ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam - Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 2. 7- Tăng trưởng thẻ cá nhân ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam (Trang 67)
Hình 2. 8- Tăng trưởng hoạt động thanh toán qua Mobile Banking, Internet - Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 2. 8- Tăng trưởng hoạt động thanh toán qua Mobile Banking, Internet (Trang 68)
Hình 2.9: Tỷ lệ khách hàng cá nhân sử dụng các dịch vụ ngân hàng số tại thị - Nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 2.9 Tỷ lệ khách hàng cá nhân sử dụng các dịch vụ ngân hàng số tại thị (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w