Ý NGHĨA CỦA LỤC HÀO ĐOÁN BỆNH
Dù y học hiện đại có tiến bộ đến đâu, bệnh tật vẫn luôn thay đổi và xuất hiện những dạng mới, khiến cho việc tìm kiếm phương pháp điều trị trở nên khó khăn Các nhà y học không ngừng nỗ lực để hiểu và tiêu diệt những căn bệnh này, nhưng thực tế, việc khám phá ra một phương pháp điều trị hiệu quả không phải là điều dễ dàng Một căn bệnh có thể khiến cho các bác sĩ cống hiến cả đời mà chỉ giải mã được một phần nhỏ, điều này cho thấy sự phức tạp và thách thức trong lĩnh vực y học.
Dự đoán học và Trung y từ lâu đã có mối liên hệ chặt chẽ, cả hai đều dựa trên lý luận âm dương ngũ hành Trong việc hình thành toa thuốc trị bệnh, sự phối hợp và tỷ lệ các vị thuốc không chỉ dựa vào kinh nghiệm mà còn được hỗ trợ bởi lý luận âm dương ngũ hành Các thầy thuốc Trung y qua các thời kỳ thường là những người tinh thông Dịch học và dự đoán học Tôn Tư Mạc, hay còn gọi là Dược Vương, là một trong những nhà y học nổi tiếng thời Đường, ông nhấn mạnh rằng "bất tri dịch, bất túc dĩ ngôn thái y", câu nói này được coi là nguyên tắc vàng cho các thầy thuốc chân chính trong Trung y.
Trong Y Môn Bổng Hát, có câu nói nổi bật rằng: "Thị dĩ Dịch chi thư, nhất ngôn nhất tự giai tàng y học chi chỉ nam." Điều này nhấn mạnh rằng mỗi từ, mỗi chữ trong sách Dịch đều mang ý nghĩa quan trọng, là kim chỉ nam cho y học.
Chu Dịch đóng vai trò quan trọng trong y học, được thể hiện rõ trong tác phẩm Thiên Kim Yếu Phương của Tôn Tư Mạc Ông đã nêu rõ các điều kiện cần thiết mà người học y phải có để phát triển kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực này.
Để trở thành thầy thuốc vĩ đại, cần phải am hiểu sâu sắc các tác phẩm như Tố Vấn, Giáp Ất, Hoàng Đế Châm Kinh và nhiều tài liệu khác như Diệu Giải Âm Dương Lộc Mệnh, Chư Gia Tương Pháp, Chước Quy Ngũ Triệu, Chu Dịch, Lục Nhâm Sự tinh thục trong những lĩnh vực này là điều kiện tiên quyết để đạt được thành công trong y học Tôn Tư Mạc, với kiến thức vững vàng về dự đoán học, đã trở thành một trong những nhà y học nổi bật nhất lịch sử Đột phá trong y học và bệnh tật học chỉ có thể đạt được khi người thầy thuốc trở thành cao thủ trong việc dự đoán bệnh tật.
Khi bắt đầu nghiên cứu, dự đoán bệnh tật được xem là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực dự đoán học Qua việc tìm hiểu các hệ thống dự đoán cổ đại, tôi nhận thấy rằng tất cả đều đề cập đến việc dự đoán bệnh tật và có những đóng góp nhất định cho sự phát triển của lĩnh vực này Tuy nhiên, khả năng phán đoán chính xác vẫn còn hạn chế, và phương pháp dự đoán cụ thể nhất hiện nay vẫn là lục hào dự đoán học.
Dự đoán lục hào không chỉ giúp hiểu rõ xu hướng phát triển của bệnh tật mà còn xác định sự phù hợp giữa thầy thuốc và bệnh nhân, cũng như hiệu quả của thuốc Hơn nữa, phương pháp này có thể tìm ra liệu pháp điều trị kết hợp với y học hiện đại, từ đó tăng tốc độ hồi phục Dự đoán lục hào còn được xem như một phương pháp điều trị độc lập, có khả năng giải quyết những bệnh nan y mà y học hiện đại chưa tìm ra cách chữa trị.
Dưới đây xin nêu ra một vài ví dụ
Vào tháng 5 năm 2007, bạn học của tôi ở quê đã nhắn tin thông báo rằng em trai anh ta bị đau chân và không thể cử động, nhờ tôi xem xét tình hình Ngày đó thuộc vào tháng Giáp Thìn, tháng Tị, và theo quẻ Thiên Địa Bĩ, có sự biến đổi thành Sơn Địa Bác.
Sau khi phân tích quái tượng, tôi đã dự đoán một số chi tiết để đối chiếu thông tin Em trai của anh ta chắc chắn đã nhiều lần đi ra ngoài vào ban đêm, đặc biệt là ở phía Nam nơi cư trú Vào đêm khuya, không khí âm u nặng nề khiến em bị đau chân Thực tế, vào buổi tối, em trai thường chơi mạt chược đến khuya rồi mới trở về từ phía Nam.
Theo y học, đi đường ban đêm không liên quan đến đau chân Do đó, cần thực hiện chụp CT để xác định nguyên nhân, có thể là vấn đề thần kinh hoặc xương khớp Tuy nhiên, ngay cả khi có kết quả kiểm tra, bác sĩ cũng không thể xác định liệu có phải là do đi đường ban đêm ở phía Nam hay không.
Sau khi phán đoán được khẳng định, tôi đã yêu cầu anh ta mang năm tờ giấy hoàng chỉ đến ngã tư đường ở phía Nam vào giờ Tý để đốt Kết quả là em trai anh ta đã ra rất nhiều mồ hôi vào buổi tối, làm ướt đẫm chăn mền, điều này là lần đầu tiên trong đời anh ấy trải qua Sáng hôm sau, chân anh ta không còn đau và có thể đi du ngoạn Mặc dù nhiều người có thể coi đây là mê tín, nhưng thực tế, nguyên lý ngũ hành sinh khắc có thể lý giải hiện tượng và phương pháp trị liệu này Trong Đông y, các yếu tố phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa giúp làm rõ nguyên nhân phát bệnh, bệnh lý và cơ chế trị liệu.
Vào tháng 3 năm 2005, một học sinh Nhật Bản đã trải qua cơn cảm mạo kéo dài hơn một tháng kèm theo ho, và dù đã truyền dịch nhưng không thấy cải thiện Sau đó, anh bắt đầu cảm thấy đau nhức xương sườn Khi đến bệnh viện, bác sĩ chẩn đoán gãy xương và yêu cầu phẫu thuật, nhưng anh lo sợ về ca mổ Vào ngày Bính Thân tháng Mão, anh đã gieo quẻ Sơn Phong Cổ với sự giúp đỡ của một đồng nghiệp Khuôn mặt anh sưng phù, và khi gặp tôi, anh như tìm thấy hy vọng Anh cho biết mình bị liệt cơ mặt và bác sĩ đã hẹn phẫu thuật vào thứ hai Anh nhờ tôi đoán xem tình hình có tốt hay xấu Đến ngày Mậu Tuất tháng Dần, anh nhận được quẻ Thiên Lôi Vô Vọng.
Tôi đã phân tích tình trạng của anh và khẳng định: "Bạn không bị liệt cơ mặt, mà chỉ do hỏa vượng gây ra tình trạng viêm dẫn đến sưng phù Chẩn đoán của bác sĩ là sai."
Anh ta có vẻ hoài nghi, vì vậy tôi đã hỏi: "Khuôn mặt của anh chỉ sưng và tê, không đau đúng không?" Anh ta gật đầu đồng ý Tôi tiếp tục: "Khi anh sờ vào gốc cánh mũi, chắc chắn sẽ rất đau." Anh ta thử sờ và thật sự cảm thấy đau.
Anh ta đã tin vào phán đoán của tôi và hỏi tôi cách xử lý tình huống Tôi khuyên anh ta nên uống thuốc kháng sinh và thông báo rằng đến thứ hai, tình trạng sưng phù trên mặt sẽ được cải thiện.
QUY LUẬT CỦA LỤC HÀO ĐOÁN BỆNH
Người xưa thường dùng ngũ hành của Quan Quỷ để phán đoán chứng bệnh,
Hỏa thuộc tâm kinh gây ra triệu chứng như phát nhiệt, khô cổ họng, và khô miệng; thủy liên quan đến thận với các dấu hiệu ớn lạnh, đổ mồ hôi trộm, và di tinh; kim gắn liền với phổi, mộc với gan, còn thổ là bệnh xâm nhập vào tỳ vị Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tế, tỷ lệ ứng nghiệm khá thấp và không thể dùng làm khuôn mẫu để chẩn đoán bệnh Thực tiễn cho thấy rằng việc dự đoán chứng bệnh nên dựa vào Dụng thần hỉ kỵ, sinh khắc xung hợp để có phân tích và phán đoán chính xác hơn.
Qua kinh nghiệm tổng kết, tôi đã quy nạp các quy luật thường gặp biểu thị thông tin bệnh tật như sau
1 Dụng thần bị thương, lấy Dụng thần làm bệnh
Ví dụ: Ngày Canh Ngọ tháng Dần, một phụ nữ lớn tuổi đoán niên vận, được Thiên Phong Cấu
Phụ Mẫu Tuất thổ Đằng Xà Huynh Đệ Thân kim Câu Trần Ư Quan Quỷ Ngọ hỏa Chu Tước
Huynh Đệ Dậu kim Thanh Long
Tử Tôn Hợi thủy Tài-Dần Huyền Vũ
T Phụ Mẫu Sửu thổ Bạch Hổ KIM Không Vong: Tuất, Hợi
Trong quẻ niên vận, thông tin về sức khỏe được thể hiện rõ ràng Hào Thế tại hào sơ cho thấy Bạch Hổ bị Nguyệt khắc thương, biểu thị cho bệnh tật Cụ thể, hào sơ tượng trưng cho bàn chân, cho thấy có vấn đề về sức khỏe liên quan đến khu vực này.
Trên thực tế: Bàn chân tê dại không có sức lực
2 Kỵ thần động đến khắc Dụng, lấy Kỵ thần làm bệnh
Thê Tài Tý thủy Quan Quỷ Mão mộc Bạch Hổ
Huynh Đệ Tuất thổ Phụ Mẫu Tị hỏa Đằng Xà
T Tử Tôn Thân kim Huynh Đệ Mùi thổ Câu Trần
Huynh Đệ Thìn thuộc Thổ, Tôn Dậu thuộc Kim, trong khi Chu Tước đại diện cho Quan Quỷ Dần thuộc Mộc Phụ-Tị Thê Tài Hợi thuộc Thủy, còn Thanh Long Ư Thê Tài Tý cũng thuộc Thủy Cuối cùng, Huynh Đệ Sửu thuộc Thổ và Huyền Vũ đại diện cho các yếu tố trong ngũ hành.
THỔ Không Vong: Ngọ, Mùi
Lấy Phụ Mẫu làm Dụng thần, khi Phụ Mẫu Tị hỏa phục tại hào 2 lâm Thanh Long, hào 2 liên quan đến bộ phận sinh dục và Thanh Long biểu thị sắc, chủ yếu liên quan đến bệnh tật ở khu vực này Kỵ thần lâm Nguyệt khắc chế, trong quẻ Kỵ thần lưỡng động lại gây khắc, dẫn đến tình trạng thủy chủ nước tiểu bị hợp mà khắc Dụng thần, có thể gây ra bệnh tiểu không ra, liên quan đến tiền liệt tuyến Nếu Kỵ thần vượng tướng và Dụng thần hưu tù, có thể chỉ ra nguy cơ ung thư.
Trên thực tế: Bị ung thư tuyến tiền liệt
3 Cừu thần động đến khắc Nguyên thần, lấy Cừu thần làm bệnh
Ví dụ: Ngày Giáp Tuất tháng Hợi, nữ đoán bệnh của chồng, được Hỏa Lôi Phệ Hạp biến Sơn Trạch Tổn
Tử Tôn Tị hỏa Huynh Đệ Dần mộc Huyền Vũ
T Thê Tài Mùi thổ Phụ Mẫu Tý thủy Bạch Hổ
Quan Quỷ Dậu kim, Thê Tài Tuất thổ, Đằng Xà, Thê Tài Thìn thổ, Thê Tài Sửu thổ, Câu Trần, Ư Huynh Đệ Dần mộc, Huynh Đệ Mão mộc, và Chu Tước là những yếu tố quan trọng trong phong thủy và chiêm tinh học, thể hiện sự tương tác giữa các yếu tố tự nhiên và ảnh hưởng đến vận mệnh con người.
Phụ Mẫu Tý thủy Tử Tôn Tị hỏa Thanh Long
MỘC Không Vong: Thân, Dậu
Lấy Quan Quỷ làm Dụng thần, quẻ tại cung Tốn tượng trưng cho đùi Hào 2 Huynh Đệ Dần thuộc mộc, đại diện cho Cừu thần, phát động hóa Tiến thần khắc Nguyên thần Hào 2 được xem như chân, mộc chủ đau nhức, do đó có thể suy luận rằng chân đang gặp vấn đề về sức khỏe.
Trên thực tế: Là đau chân
4 Nguyên thần bị thương, lấy Nguyên thần làm bệnh
Ví dụ: Ngày Canh Dần tháng Tuất, nữ đoán bệnh con trai, được Thủy Lôi Truân
Huynh Đệ Tý thủy Đằng Xà Ư Quan Quỷ Tuất thổ Câu Trần
Phụ Mẫu Thân kim Chu Tước Quan Quỷ Thìn thổ Tài-Ngọ Thanh Long
T Tử Tôn Dần mộc Huyền Vũ
Huynh Đệ Tý thủy Bạch Hổ THỦY Không Vong: Ngọ, Mùi
Lấy Tử Tôn làm Dụng thần, với Dụng thần Dần mộc được Nhật tỉ phù là vượng tướng Nguyệt không sinh không khắc, nhưng Nguyên thần lại bị Nguyệt khắc thương Trong quẻ Nguyên thần lưỡng hiện, một tại hào 6 và một tại hào sơ, Nguyên thần là thủy chủ trí tuệ, trong khi hào sơ và hào 6 đều chủ tư duy, dẫn đến việc gặp trở ngại về trí lực Phụ Mẫu Thân kim lâm Chu Tước ám động khắc Dụng thần, trong đó kim đại diện cho âm thanh, còn Chu Tước chủ năng lực nói, cho thấy khả năng giao tiếp cũng gặp vấn đề.
Trên thực tế: Năng lực thấp kém, không nói được
5 Dụng thần Không mà không được Nguyên thần đến sinh, lấy Dụng thần làm bệnh
Ví dụ: Ngày Quý Mùi tháng Dần, nữ đoán bệnh con trai, được Địa Lôi Phục
Tử Tôn Dậu kim Bạch Hổ Thê Tài Hợi thủy Đằng Xà Ư Huynh Đệ Sửu thổ Câu Trần
Huynh Đệ Thìn thổ Chu Tước
Ví dụ: Ngày Giáp Thân tháng Tuất, nữ đoán bệnh bản thân, được Trạch Thiên Quải biến Hỏa Thiên Đại Hữu
Huynh Đệ Mùi thổ Phụ Mẫu Tị hỏa Huyền Vũ
T Tử Tôn Dậu kim Huynh Đệ Mùi thổ Bạch Hổ
Thê Tài Hợi thủy, Tử Tôn Dậu kim, Đằng Xà, Huynh Đệ Thìn thổ, Câu Trần, Ư Quan Quỷ Dần mộc, Phụ-Tị, và Chu Tước là những yếu tố quan trọng trong phong thủy và chiêm tinh học, thể hiện sự tương tác giữa các nguyên tố và mối quan hệ giữa các con giáp.
Thê Tài Tý thủy Thê Tài Tý thủy Thanh Long
THỔ Không Vong: Ngọ, Mùi
Lấy hào Thế làm Dụng thần, hào Thế được Nguyệt sinh Nhật phù là vượng tướng, nhưng không nên hóa ra Nguyên thần Không Vong Hào 6 Nguyên thần cũng Không không thể sinh Dụng thần Thổ tại hào 5, hào 6 là mũi, trong khi hào Thế kim liên quan đến hệ hô hấp, cho thấy rằng có vấn đề với mũi.
Trên thực tế: Là mũi không ngửi thấy mùi, rất phiền não
7 Nguyên thần bị hợp trú, bởi vì tham hợp quên sinh mà không thể sinh Dụng, lấy Nguyên thần làm bệnh
Ví dụ 1: Ngày Đinh Mùi tháng Tị, nữ đoán bệnh bản thân, được Lôi Trạch Quy Muội biến Lôi Thiên Đại Tráng
Quy Muội Đại Tráng Ư Phụ Mẫu Tuất thổ Phụ Mẫu Tuất thổ Thanh Long
Huynh Đệ Thân kim Huynh Đệ Thân kim Huyền Vũ Quan Quỷ Ngọ hỏa Tử-Hợi Quan Quỷ Ngọ hỏa Bạch Hổ
T Phụ Mẫu Sửu thổ Phụ Mẫu Thìn thổ Đằng Xà
Thê Tài Mão mộc Thê Tài Dần mộc Câu Trần Quan Quỷ Tị hỏa Tử Tôn Tý thủy Chu Tước
KIM Không Vong: Dần, Mão
Lấy Thế làm Dụng thần, Hào Thế được Nguyệt sinh Nhật phù, tạo ra động hóa Tiến thần Cả Dụng thần và Nguyên thần đều không bị khắc, cho thấy tình trạng sức khỏe dường như không có bệnh tật.
Trong quẻ hai thổ, có sự kết hợp của một thổ với Nhật thần, tổng cộng tạo thành bốn thổ Nguyên thần hào hỏa trong quẻ lưỡng hiện và Nguyệt cũng thuộc hỏa, dẫn đến tình trạng quá vượng Nhật xung Dụng thần làm cho hóa Tiến thần diễn ra nhanh hơn, nhưng vật cực tất phản, khi hỏa nhiều sẽ sinh thổ và gây ra bệnh Thế lâm Xà biểu thị cho sự phiền muộn.
Lại hào 4 Ngọ hỏa hợp Nhật, lấy hào này phán đoán bệnh tật Hào 4 là hào vị tim, hỏa lại là tim, vì vậy là bệnh tim
Quá vượng thì xem ngược lại, là nhịp tim quá chậm, Nguyên thần bị hợp vướng chân cũng biểu thị tim đập chậm
Trên thực tế: Đúng là nhịp tim quá chậm
Ví dụ 2: Ngày Bính Thân tháng Thìn, một người đàn ông ở Sơn Đông gửi thư đoán bệnh, tôi gieo được Lôi Địa Dự biến Chấn Vi Lôi
Thê Tài Tuất thổ và Quan Quỷ Thân kim là hai yếu tố quan trọng trong phong thủy, cùng với Huyền Vũ, Ư Tử Tôn Ngọ hỏa và Bạch Hổ, tạo nên sự cân bằng trong cuộc sống Sự kết hợp giữa các yếu tố này mang lại may mắn và tài lộc cho gia chủ.
Huynh Đệ Mão mộc Thê Tài Thìn thổ Đằng Xà
Tử Tôn Tị hỏa Huynh Đệ Dần mộc Câu Trần
T Thê Tài Mùi thổ Phụ-Tý Phụ Mẫu Tý thủy Chu Tước
MỘC Không Vong: Thìn, Tị
Lấy hào Thế làm Dụng thần, hào Thế được Nguyệt phù là vượng Tuy nhiên, Nguyên thần Tị hỏa tại hào 2 bị Nhật hợp vướng chân, không thể sinh Thế, nên Nguyên thần được coi là bệnh Nguyên thần là Tử Tôn, chủ bộ phận sinh dục, trong khi hào 2 cũng nằm ở vị trí bộ phận sinh dục Lâm Câu Trần biểu hiện sự sưng to, với trái là dương và phải là âm, cho thấy phía bên phải không tốt.
Trên thực tế: Là sa tinh hoàn, tinh hoàn bên phải lớn, viêm tinh hoàn mãn tính
8 Dụng thần Nguyệt phá, lấy Dụng thần làm bệnh, hoặc lấy Nguyệt kiến làm bệnh
Ví dụ: Ngày Tân Dậu tháng Tuất, nam đoán bệnh của vợ, được Sơn Lôi Di
Huynh Đệ Dần mộc Đằng Xà Phụ Mẫu Tý thủy Tử-Tị Câu Trần
T Thê Tài Tuất thổ Chu Tước
Thê Tài Thìn thổ Quan-Dậu Thanh Long Huynh Đệ Dần mộc Huyền Vũ Ư Phụ Mẫu Tý thủy Bạch Hổ MỘC Không Vong: Tý, Sửu
Lấy hào Thê Tài làm Dụng thần, trong đó Thê Tài lưỡng hiện và hào Nguyệt phá cũng được sử dụng làm Dụng Thê Tài Thìn thổ bị Nguyệt xung phá, đặc biệt khi Nguyệt là Mộ khố của Tử Tôn và nằm tại hào 3, nơi cũng được xem là tử cung Điều này cho thấy Thìn thổ là Mộ khố của hào thai Tử Tôn, do đó vấn đề tử cung trở nên quan trọng trong bối cảnh này.
Nguyên thần lâm Câu Trần là ung thư, trong khi dụng thần Nguyệt phá thể hiện nỗi lo về Thực Phá Dù Nhật có thể hợp nhưng lại giải phá, tuy nhiên, Nhật là Quan Quỷ, biểu thị cho bệnh tật kéo dài không thể tách rời.
Trên thực tế: Đã bị ung thư tử cung, tháng Thìn qua đời
9 Nguyên thần Nguyệt phá, lấy Nguyên thần làm bệnh, hoặc lấy Nguyệt kiến làm bệnh
Ví dụ: Ngày Ất Mão tháng Hợi, nữ đoán bệnh bản thân, được Hỏa Thiên Đại Hữu Đại Hữu Ư Quan Quỷ Tị hỏa Huyền Vũ
Phụ Mẫu Mùi thổ Bạch Hổ Huynh Đệ Dậu kim Đằng Xà
T Phụ Mẫu Thìn thổ Câu Trần
Thê Tài Dần mộc Chu Tước
Tử Tôn Tý thủy Thanh Long KIM Không Vong: Tý, Sửu
QUAN HỆ ĐỐI ỨNG GIỮA BÁT QUÁI VÀ BỆNH TẬT
Tượng bát quái phản ánh sự tồn tại của vạn vật, trong đó bệnh tật chỉ là một phần nhỏ Do đó, bát quái đã chứa đựng thông tin về bệnh tật Khi dự đoán lục hào, thông tin về chứng bệnh thường được thể hiện qua quái cung, nhưng cũng có trường hợp chỉ sử dụng nội quái hoặc ngoại quái Để phán đoán bệnh tật qua tượng, cần xem xét mối quan hệ giữa quái cung và bệnh tật, sau đó mới phân tích hào vị và ngũ hành Mối quan hệ giữa bát quái và bệnh tật chủ yếu tập trung vào một số khía cạnh nhất định.
Quẻ Càn thuộc hành Kim, liên quan đến các vấn đề sức khỏe như bệnh phổi, đại tràng, các bệnh lý vùng đầu, bệnh nam khoa, cũng như các vấn đề về gân cốt, xương, ngực, thượng tiêu, đoạn ruột, táo bón, thương hàn và các bệnh lý thường gặp ở người cao tuổi.
Quẻ Khôn thuộc thổ liên quan đến tỳ vị và các vấn đề sức khỏe vùng bụng, thường gặp rối loạn tiêu hóa và khó khăn trong ăn uống Ngoài ra, nó cũng có thể biểu hiện qua các bệnh lý như u bướu, sưng phù, các vấn đề phụ khoa, bệnh tật ở giai đoạn mãn kinh, rối loạn sinh dục, bệnh ngoài da, và triệu chứng chóng mặt.
Quẻ Chấn thuộc mộc liên quan đến nhiều vấn đề sức khỏe như bệnh gan mật, bệnh ở chân, rối loạn tâm thần, chứng cuồng táo, ho, động kinh, viêm họng, khí trệ, gãy xương, hoảng sợ, suy nhược thần kinh, và tình trạng thần kinh quá nhạy cảm Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến các vấn đề phụ khoa, can hỏa vượng, bệnh chân, chứng tăng động, và ung thư.
Quẻ Tốn thuộc mộc liên quan đến nhiều bộ phận và bệnh lý như gan mật, đùi, hậu môn, và các bệnh về mạch máu Nó cũng liên quan đến các vấn đề như trúng gió, bệnh phong, ung thư, liệt nửa người, bệnh ruột, phong hàn, cảm lạnh, bệnh truyền nhiễm, thần kinh tọa, bệnh máu trắng, thở gấp, bệnh hen suyễn và các triệu chứng về mắt trắng.
Quẻ Khảm thuộc hành Thủy, liên quan đến các bộ phận như thận, bàng quang và hệ thống tiết niệu Nó cũng gắn liền với các vấn đề sức khỏe như bệnh máu, nước tiểu, đau lưng, đau tai, và các triệu chứng như chứng hàn, tiêu chảy, tiêu khát, bệnh tiểu đường Ngoài ra, quẻ này còn phản ánh sự mất cân bằng nội tiết, các bệnh lây qua đường sinh dục, di tinh, trúng độc và các bệnh lý liên quan đến bộ phận sinh dục.
Quẻ Ly thuộc hỏa, liên quan đến các vấn đề sức khỏe như tim, ruột non, bệnh mắt, bệnh về máu, huyết áp thấp, kinh nguyệt không đều, phì đại, thượng tiêu mất cân đối, sốt rét, bệnh ảo giác ảo thị, bỏng, say nắng, bệnh tật ở vú, phát sốt và các bệnh phụ khoa.
Quẻ Cấn thuộc thổ liên quan đến các cơ quan như tỳ (lá lách), vị (dạ dày), lưng, mũi, cũng như các vấn đề sức khỏe như u bướu, đau cánh tay, vú, khớp, và da Nó còn có liên quan đến các bệnh như thủy đậu, chứng kết sỏi, và tình trạng khí huyết không thông qua mạch máu.
Quẻ Đoài thuộc hành Kim, liên quan đến các bộ phận như phổi, đại tràng, miệng, lưỡi và cổ họng Nó có thể gây ra các vấn đề sức khỏe như khí trệ, khó thở, ăn uống kém, nhiều đờm, cùng với các bệnh lý ở khoang miệng như ho, đau răng Ngoài ra, quẻ này còn ảnh hưởng đến phần ngực, bàng quang, hệ tiết niệu, hậu môn, huyết áp thấp, thiếu máu, khuyết tật, ngoại thương, phẫu thuật, bệnh ngoài da, khí quản và thực quản.
Ví dụ 1: Ngày Quý Mão tháng Sửu, nam đoán bệnh con trai, được Tốn Vi Phong biến Phong Sơn Tiệm
T Huynh Đệ Mão mộc Huynh Đệ Mão mộc Bạch Hổ
Tử Tôn Tị hỏa Tử Tôn Tị hỏa Đằng Xà
Thê Tài Mùi thổ Thê Tài Mùi thổ Câu Trần Ư Quan Quỷ Dậu kim Quan Quỷ Thân kim Chu Tước
Phụ Mẫu Hợi thủy Tử Tôn Ngọ hỏa Thanh Long Thê Tài Sửu thổ Thê Tài Thìn thổ Huyền Vũ
Mộc Không Vong cho thấy rằng Thìn và Tị có thể đoán bệnh tật của con cái bằng cách lấy hào Tử Tôn làm Dụng thần Tử Tôn Tị hỏa được Nhật sinh và không bị Nguyệt khắc, nên không coi là hưu tù, có bệnh cũng không đáng ngại Tuy nhiên, tại hào 5, Không Vong không được mộc sinh mà lại bị Phụ Mẫu Hợi thủy khắc Thủy tượng trưng cho sự hàn (lạnh), trong khi cung Tốn biểu thị cho phong hàn, cho thấy đây là dấu hiệu của cảm mạo.
Lại Quan Quỷ Chu Tước tại hào 3 liên quan đến sinh trợ Kỵ thần, cho thấy hào 3 và kim đều là ruột, có thể gây viêm ruột kèm theo cảm mạo Ngoài ra, Chu Tước cũng chủ về sốt, điều này chứng tỏ có hiện tượng sốt cao xuất hiện.
Trên thực tế: Cảm mạo, sốt cao, hơn nữa còn có viêm ruột
Ví dụ 2: Ngày Kỷ Sửu tháng Ngọ, một lão tiên sinh đoán bệnh, được Trạch Hỏa Cách biến Thiên Hỏa Đồng Nhân
Quan Quỷ Mùi thổ Quan Quỷ Tuất thổ Câu Trần Phụ Mẫu Dậu kim Phụ Mẫu Thân kim Chu Tước
T Huynh Đệ Hợi thủy Thê Tài Ngọ hỏa Thanh Long
Huynh Đệ Hợi thủy Tài-Ngọ Huynh Đệ Hợi thủy Huyền Vũ Quan Quỷ Sửu thổ Quan Quỷ Sửu thổ Bạch Hổ
Trên thực tế: Có bệnh kiết lị, ngoài ra còn có cao huyết áp, mỡ trong máu cao
Ví dụ 3: Ngày Canh Tý tháng Mão, một người nam gọi điện thoại đoán bệnh, được Phong Thủy Hoán biến Phong Trạch Trung Phu
Phụ Mẫu Mão mộc Phụ Mẫu Mão mộc Đằng Xà
T Huynh Đệ Tị hỏa Huynh Đệ Tị hỏa Câu Trần
Tử Tôn Mùi thuộc thổ, kết hợp với Tài-Dậu và Chu Tước, tạo nên sự cân bằng trong mối quan hệ Huynh Đệ Ngọ thuộc hỏa, trong khi Quan-Hợi và Tử Tôn Sửu cũng thuộc thổ, mang lại sự ổn định Tử Tôn Thìn thổ kết nối với Phụ Mẫu Mão mộc, tạo nên sự hài hòa với Huyền Vũ.
Phụ Mẫu Dần mộc Huynh Đệ Tị hỏa Bạch Hổ
HỎA Không Vong: Thìn, Tị
Lấy hào Thế làm Dụng thần, nhưng Thế bị Nhật khắc, dẫn đến khắc thần trong quẻ phục dưới hào 3 Cung Ly quẻ là ruột, Nguyên thần Dần mộc độc phát hợp Kỵ thần hào Quỷ Lâm Bạch Hổ biểu thị bệnh tật, trong khi giờ Dần hóa Không không sinh hào Thế, cho thấy giờ Dần không thuận lợi cho sức khỏe.
Trên thực tế: Bị ngũ canh tả đã hơn 20 ngày
Ví dụ 4: Ngày Ất Mùi tháng Thân, một học trò của tôi đoán bệnh bà nội, được Càn Vi Thiên biến Hỏa Trạch Khuê
T Phụ Mẫu Tuất thổ Quan Quỷ Tị hỏa Huyền Vũ
Huynh Đệ Thân kim Phụ Mẫu Mùi thổ Bạch Hổ
Quan Quỷ Ngọ hỏa Huynh Đệ Dậu kim Đằng Xà Ư Phụ Mẫu Thìn thổ Phụ Mẫu Sửu thổ Câu Trần
Thê Tài Dần mộc Thê Tài Mão mộc Chu Tước
Tử Tôn Tý thủy Quan Quỷ Tị hỏa Thanh Long
KIM Không Vong: Thìn, Tị
Trong quẻ Phụ Mẫu lưỡng hiện, Dụng thần được xác định qua hào Phụ Mẫu Thìn thổ phát động Mặc dù Dụng thần Nguyệt không sinh, nhưng sự hỗ trợ từ Nhật tỉ không được xem là hưu tù, và Dụng thần lâm hào 3 động lại hóa thoái Hào 3 tượng trưng cho giường, cho thấy Câu Trần chủ bất động và hành động chậm chạp, dẫn đến tình trạng bại liệt tại giường, khiến cơ thể dần dần không thể di chuyển.
Trong tình huống Dụng thần lưỡng hiện và Dụng thần ở ngoại quái, việc phán đoán chứng bệnh có thể dựa vào các yếu tố như Phụ Mẫu Tuất thổ tại hào 6, biểu thị vấn đề trên đầu do Càn Vi Thiên Hào 5 cho thấy Bệnh địa của Nguyên thần phát động, liên quan đến Bạch Hổ, chủ về máu và gãy xương Mùi thổ có thể chỉ ra năm tháng tương ứng với Thân và Mùi, cho thấy chứng bệnh liên quan đến thời gian này Kết hợp với thông tin Dụng thần lâm Câu Trần, tình trạng tắc nghẽn có thể chỉ ra tắc máu não.
Trên thực tế: Năm Giáp Thân bị tắc máu não liệt giường, tháng Mùi năm nay (Bính Tuất) gãy xương
Ví dụ 5: Ngày Đinh Sửu tháng Tuất, nam đoán bệnh bản thân, được Hỏa Trạch Khuê biến Phong Trạch Trung Phu
Phụ Mẫu Tị hỏa Quan Quỷ Mão mộc Thanh Long Huynh Đệ Mùi thổ Tài-Tý Phụ Mẫu Tị hỏa Huyền Vũ
T Tử Tôn Dậu kim Huynh Đệ Mùi thổ Bạch Hổ
Huynh Đệ Sửu thổ Huynh Đệ Sửu thổ Đằng Xà
Quan Quỷ Mão mộc Quan Quỷ Mão mộc Câu Trần Ư Phụ Mẫu Tị hỏa Phụ Mẫu Tị hỏa Chu Tước
THỔ Không Vong: Thân, Dậu
QUAN HỆ ĐỐI ỨNG GIỮA NGŨ HÀNH VÀ BỆNH TẬT
Ngũ hành, bao gồm kim, mộc, thủy, hỏa và thổ, là cơ sở quan trọng để chẩn đoán và phân tích bệnh tật Việc kết hợp ngũ hành với lục thân, hào vị và lục thần sẽ gia tăng hiệu quả trong việc nhận diện và điều trị bệnh.
Kim liên quan đến phổi, đại tràng và xương cốt; Mộc chi phối gan, túi mật, trực tràng, bệnh phong và thần kinh; Thủy đảm nhiệm thận, bàng quang, nước tiểu và bệnh máu; Hỏa quản lý tim, bệnh về mắt, ruột non và các vấn đề liên quan đến máu; Thổ liên quan đến tỳ, vị và da.
Ngũ hành tương ứng với ngũ vị, ngũ sắc, ngũ chí, ngũ cốc trong đoán bệnh đôi khi cũng được sử dụng
Ngũ hành Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy
Ngũ vị Chua Đắng Ngọt Cay Mặn
Ngũ chí Tức giận Vui vẻ Tư lự Ưu sầu Sợ hãi
Ngũ cốc Lúa mạch Kê Ngô Lúa nước Đậu
Ngũ sắc Xanh Đỏ Vàng Trắng Đen
Ví dụ 1: Ngày Mậu Dần tháng Tý, nữ đoán nguyên nhân đau đầu, được Thiên Lôi Vô Vọng biến Phong Địa Quan
Thê Tài Tuất thổ Huynh Đệ Mão mộc Chu Tước Quan Quỷ Thân kim Tử Tôn Tị hỏa Thanh Long
T Tử Tôn Ngọ hỏa Thê Tài Mùi thổ Huyền Vũ
Thê Tài Thìn thổ, Huynh Đệ Mão mộc, Bạch Hổ, Huynh Đệ Dần mộc, Tử Tôn Tị hỏa, Đằng Xà, Ư Phụ Mẫu Tý thủy, Thê Tài Mùi thổ, Câu Trần.
MỘC Không Vong: Thân, Dậu
Hào Thế đại diện cho bản thân, trong khi Kỵ thần là nguyên nhân gây ra bệnh tật Khi Hào Thế tương tác với Thê Tài, điều này thể hiện sự ham mê, đặc biệt là trong lĩnh vực ẩm thực Do đó, có thể khẳng định rằng cô ấy rất yêu thích đồ ngọt.
Kỵ thần Phụ Mẫu Tý thủy động hóa Thê Tài Mùi thổ, lâm Câu Trần khắc hào, đây là nguyên nhân gây bệnh Hào sơ biểu thị thời kỳ nhỏ, với thủy tượng trưng cho đồ lạnh Hóa Thê Tài liên quan đến ẩm thực, trong khi thủy kết hợp với Câu Trần tạo ra băng (nước đá) Thổ đại diện cho vị ngọt, do đó, tôi đoán nguyên nhân bệnh tật của cô ấy có thể xuất phát từ việc ăn kem quá nhiều khi còn nhỏ.
Cô ấy chia sẻ rằng hồi nhỏ rất thích ăn kem, thường ăn từ bốn đến năm cây mỗi ngày Tuy nhiên, sau khi ăn xong, cô cảm thấy khó chịu và dần dần đã giảm lượng kem tiêu thụ.
Ví dụ 2: Ngày Giáp Ngọ tháng Thìn, nữ đoán phẫu thuật sẽ ra sao? Được Khảm Vi Thủy
T Huynh Đệ Tý thủy Huyền Vũ
Quan Quỷ Tuất thổ Bạch Hổ Phụ Mẫu Thân kim Đằng Xà Ư Thê Tài Ngọ hỏa Câu Trần
Quan Quỷ Thìn thổ Chu Tước
Tử Tôn Dần mộc Thanh Long THỦY Không Vong: Thìn, Tị
Hào Thế được coi là Dụng thần, mang ý nghĩa của quẻ lục xung và tượng bất an Hào Thế biểu thị cho sự sợ hãi, đặc biệt là nỗi lo lắng về phẫu thuật, khi lâm vào tình trạng Huyền Vũ, nơi thể hiện sự u uất và tâm trạng phát sầu.
Kỵ thần Quan Quỷ là một bệnh lý liên quan đến hiện tượng lâm Bạch Hổ Nguyệt phá Trong đó, Bạch Hổ biểu thị cho phẫu thuật, còn Nguyệt phá thể hiện sự cắt bỏ Khi một Quan Quỷ khác, Không Vong, mất đi, điều này giúp phẫu thuật trở nên an toàn hơn Do đó, việc thực hiện phẫu thuật sẽ dẫn đến sự cải thiện về sức khỏe và bệnh tật sẽ được chữa lành.
Hào 5 Tuất thổ Nguyệt phá không khắc hào Thế, trong khi Thìn thổ là Nguyệt kiến tại hào 2, nơi được coi là Mộ khố của Nguyên thần Tử Tôn Hào 2 đại diện cho tử cung, do đó có thể liên quan đến tình trạng u xơ tử cung.
Sau khi phát hiện u xơ tử cung cách đây vài tháng, bệnh nhân đã trì hoãn phẫu thuật do lo sợ Tuy nhiên, sau khi nhận được sự khích lệ, cô đã quyết định tiến hành phẫu thuật và kết quả rất thành công.
Ví dụ 3: Ngày Kỷ Tị tháng Hợi, nữ đoán thân thể, được Thiên Thủy Tụng biến Lôi Sơn Tiểu Quá
Tử Tôn Tuất thổ Tử Tôn Tuất thổ Câu Trần Thê Tài Thân kim Thê Tài Thân kim Chu Tước
Ngoại quái phục ngâm tại hào 6 cho thấy tình trạng tắc nghẽn trong cuộc sống, với lâm Câu Trần biểu thị sự bế tắc Phục ngâm phản ánh gánh nặng tâm lý, trong khi bệnh địa liên quan đến Thê Tài Thân kim, với Tài biểu thị cho máu Tổng hợp lại, điều này chỉ ra rằng người gặp phải tình trạng này có thể đang đối mặt với vấn đề mỡ trong máu cao và tâm trạng nặng nề.
Trên thực tế: Quả nhiên là như vậy
Ví dụ 4: Ngày Canh Dần tháng Hợi, một người đoán con gái (3 tuổi), được Sơn Phong Cổ biến Hỏa Thiên Đại Hữu
Cổ Đại Hữu Ư Huynh Đệ Dần mộc Tử Tôn Tị hỏa Đằng Xà
Phụ Mẫu Tý thủy Tử-Tị Thê Tài Mùi thổ Câu Trần Thê Tài Tuất thổ Quan Quỷ Dậu kim Chu Tước
T Quan Quỷ Dậu kim Thê Tài Thìn thổ Thanh Long
Phụ Mẫu Hợi thủy Huynh Đệ Dần mộc Huyền Vũ Thê Tài Sửu thổ Phụ Mẫu Tý thủy Bạch Hổ
MỘC Không Vong: Ngọ, Mùi
Lấy Tử Tôn làm Dụng thần Tử Tôn Tị hỏa không hiện trên quẻ, phục dưới hào
Người có Phụ Mẫu Tý Thủy, bị Nguyệt xung phá và nhập Mộ ở hào động Tuất Thổ thường gặp vấn đề về mắt Hào 5 tượng trưng cho ngũ quan, trong đó hỏa liên quan đến mắt, và việc nhập Mộ biểu hiện cho sự che đậy Do đó, tình trạng này có thể dẫn đến nhược thị bẩm sinh.
Ví dụ 5: Ngày Bính Thìn tháng Hợi, một lão tiên sinh đoán bệnh bản thân, được Sơn Phong Cổ biến Cấn Vi Sơn
Cổ Cấn Ư Huynh Đệ Dần mộc Huynh Đệ Dần mộc Thanh Long
Phụ Mẫu Tý thủy Tử-Tị Phụ Mẫu Tý thủy Huyền Vũ Thê Tài Tuất thổ Thê Tài Tuất thổ Bạch Hổ
T Quan Quỷ Dậu kim Quan Quỷ Thân kim Đằng Xà
Phụ Mẫu Hợi thủy Tử Tôn Ngọ hỏa Câu Trần
Thê Tài Sửu thổ Thê Tài Thìn thổ Chu Tước
MỘC Không Vong: Tý, Sửu
Lấy hào Thế làm Dụng thần, hào Thế Quan Quỷ Dậu kim được Nhật sinh phù là vượng tướng Trong quẻ không có hào động đến khắc, nhưng khi gặp Nguyệt Hợi thủy thì trở thành Bệnh địa, với Bệnh địa Hợi thủy tại hào 2 phát động Kim lâm Đằng Xà biểu thị hen suyễn, bị nhật hợp vướng chân, thể hiện tình trạng khó thở.
Hợi thủy độc phát biểu thị tính chất bệnh địa, liên quan đến thận và bàng quang, có thể dẫn đến kết sỏi Quẻ Cung Tốn chỉ ra rằng hào 2 liên quan đến chân, cho thấy những khía cạnh này không thuận lợi.
Trên thực tế: Có bệnh hen suyễn bệnh, đau chân, sỏi thận, sỏi bàng quang,
QUAN HỆ GIỮA LỤC THÂN VÀ BỆNH TẬT
THỦ (LẤY) TƯỢNG LỤC THÂN ĐOÁN BỆNH
Lục thân đóng vai trò quan trọng trong việc xác định và cụ thể hóa chứng bệnh Trong quá khứ, nhiều người thường dựa vào Quan Quỷ kết hợp với ngũ hành để đưa ra phán đoán, nhưng thực tế cho thấy phương pháp này không chính xác Để phân tích và phán đoán hiệu quả, cần xem xét sinh khắc xung hợp của Dụng thần, sự biến hóa của Nguyên thần và Kỵ thần.
Quan Quỷ là Dụng thần, không nên hưu tù Không phá; nếu hưu tù Không phá, hào Quan Quỷ sẽ trở thành bệnh, vì hào này biểu thị cho thần nhàn rỗi, không sinh khắc Dụng thần Vượng tướng có thể giúp đoán chứng bệnh Trong trường hợp hưu tù Không phá có lợi cho Dụng thần, thường có thể bỏ qua mà không cần xem xét thêm.
Quan Quỷ được xem là Kỵ thần, vì vậy không nên lấy nó làm bệnh trong trường hợp hưu tù Không Phá Khi có vượng tướng, Quan Quỷ có thể được xem như bệnh, nhưng trong trường hợp hưu tù Không Phá thì không Tất cả các phán đoán đều dựa vào Dụng thần hỉ kỵ.
Trong quẻ Quan Quỷ, sự hiện diện của nhiều Quỷ hoặc Quỷ hóa Quỷ cho thấy chứng bệnh có thể không chỉ đơn thuần là một Kỵ thần động và sự hóa thành Quan Quỷ, cùng với Nguyên thần hóa Quan Quỷ, đều có thể được xem như những yếu tố gây ra bệnh để phân tích và phán đoán Ngay cả khi Quan Quỷ không xuất hiện trong quẻ, sự xuất hiện của hào lâm Phi thần cũng có thể là dấu hiệu tiềm ẩn của bệnh tật.
Mộ khố của Quan Quỷ cũng có thể dùng để đoán bệnh
Dụng phục dưới Quỷ, chủ bệnh nhân bị bệnh tật giày vò trong thời gian dài hoặc bệnh khó khỏi
Quan Quỷ là kim: chủ bệnh phổi, bệnh hệ hô hấp, bệnh xương, bệnh đại tràng,
Quan Quỷ là thủy, có vai trò quan trọng trong việc điều hòa chức năng của thận và bàng quang, đồng thời liên quan đến các bệnh lý về tinh huyết Ở nam giới, Quan Quỷ liên quan đến các triệu chứng như suy thận, teo thận, ra mồ hôi trộm và di tinh Trong khi đó, ở nữ giới, Quan Quỷ chủ yếu ảnh hưởng đến tình trạng huyết khô, tắc kinh và các vấn đề liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt.
Quan Quỷ là mộc: là bệnh gan, mật hoặc can kinh đảm kinh có bệnh, đôi khi chủ viêm ruột, đau ngứa, bệnh phong,
Quan Quỷ là thổ: chủ tỳ vị, bệnh ngoài da
Quan Quỷ là hỏa: chủ chứng nhiệt, bệnh tim, bệnh về máu, bệnh hệ tuần hoàn,
Quan Quỷ tại hào sơ: chủ cước khí, đau chân, đi đứng khó khăn, bệnh phong thấp
Quan Quỷ tại hào 2: chủ bệnh chân, đầu gối, bộ phận sinh dục, đại tràng, trực tràng, gan mật,
Quan Quỷ tại hào 3: chủ bệnh tỳ vị, bụng, thắt lưng, thận, bộ phận sinh dục Quan Quỷ tại hào 4: chủ bệnh ngực, gan mật, tim, lưng, vú,
Quan Quỷ tại hào 5: chủ bệnh ngực, tim, phổi, ngũ quan, mặt, cổ, cánh tay,
Quan Quỷ tại hào 6: chủ bệnh đầu, đau đầu, chóng mặt, suy giảm trí nhớ, xuất huyết não, tắc máu não, cao huyết áp, suy nhược thần kinh,
Phụ mẫu có thể biểu hiện các triệu chứng bệnh lý ở đầu, ngực, bụng và ngoài da, thường xuất phát từ những tổn thương do tai nạn giao thông, công trường xây dựng hoặc do tác động của môi trường không cân bằng Ngoài ra, tình trạng lo âu, tâm thần bất ổn, u sầu, tức giận và khó nhọc cũng có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe, đặc biệt khi tiếp xúc với thời tiết xấu như mưa.
Phụ Mẫu tại hào sơ có thể bị tổn thương do tai nạn xe cộ, hoặc do những khó khăn trong cuộc sống như bôn ba vất vả, ngủ bị nhiễm lạnh gây ra bệnh Ngoài ra, tổn thương cũng có thể xuất phát từ các yếu tố như vật phóng xạ trong lòng đất, mộ cổ, xương khô, và âm khí, tất cả đều dẫn đến tình trạng bệnh tật.
Thiếu ngủ, công việc nhà vất vả, phong thủy phòng ốc không cân đối, ảnh hưởng từ trưởng bối, và chế độ ăn uống không điều độ, thiếu dinh dưỡng là những nguyên nhân chính gây ra bệnh cho phụ mẫu tại hào 2.
Phụ Mẫu tại hào 3 chỉ ra rằng chủ ngủ có thể gặp phải tình trạng nhiễm lạnh, dẫn đến những cơn ác mộng đáng sợ, bụng trướng và tiêu chảy Nguyên nhân có thể đến từ việc cửa sổ không thông gió, khiến không khí không lưu thông, từ đó gây ra các vấn đề sức khỏe.
Phụ Mẫu tại hào 4: chủ do trưởng bối, hoặc mặc quần áo bị nhiễm lạnh, hoặc chủ ngực có bệnh, hoặc chủ táo bón, tiểu tiện không thông,
Phụ Mẫu tại hào 5: chủ bị bệnh ở bên ngoài, hoặc do tai nạn xe cộ, mắc bệnh trên đường, hoặc chủ ngực phổi có bệnh
Phụ Mẫu tại hào 6: phần lớn chủ bệnh đầu, suy nghĩ hao tổn tinh thần, lo lắng quá độ, bệnh nhân hôn mê bất tỉnh,
Huynh Đệ thể hiện bệnh về tay, bàn chân, chân, cánh tay, vai, tiêu hóa
Huynh Đệ tại hào sơ chỉ ra rằng nếu chủ bàn chân có bệnh tật và gặp khó khăn trong việc đi lại, không nên để chân chạm đất Khi gặp phải tình huống này, việc không phá hủy hoặc làm tổn thương bàn chân là rất quan trọng để tránh những thương tật nghiêm trọng hơn.
Huynh Đệ tại hào 2 liên quan đến các vấn đề sức khỏe như bệnh ở bàn chân và đầu gối, rối loạn tiêu hóa do chế độ ăn uống không hợp lý, tiêu chảy, hoặc các bệnh lý phát sinh từ việc sinh hoạt tình dục quá độ, cũng như các vấn đề liên quan đến đại tiểu tiện.
Tử Tôn tại hào 2 cho thấy các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản, bao gồm rối loạn chức năng sinh dục, khó khăn trong đại tiểu tiện, và các triệu chứng như liệt dương, xuất tinh sớm, vô sinh, sảy thai, và kinh nguyệt không đều Ngoài ra, tình trạng tiểu ra máu, bệnh lậu, sa tinh hoàn, và các bệnh lây qua đường sinh dục cũng là những mối quan tâm đáng lưu ý.
Tử Tôn tại hào 3: chủ vô sinh, phòng sự quá độ bị bệnh, hoặc bệnh bộ phận sinh dục
Tử Tôn tại hào 4: chủ bệnh vú, thực quản,
Tử Tôn tại hào 5: chủ ngũ quan, thực quản, đường hô hấp, có bệnh
Tử Tôn tại hào 6: chủ cung cấp máu không đủ, thiếu máu, huyết áp không ổn định,
Thê Tài phản ánh các yếu tố ẩm thực và sức khỏe thông qua các chất như máu, nước tiểu, phân, và tủy Nó cũng liên quan đến các dịch cơ thể khác như nước mắt, nước mũi, ráy tai, tinh dịch, kinh nguyệt, trứng, nước bọt, rắm và mồ hôi.
Thê Tài tại hào sơ: chủ vì cấp dưới, bảo mẫu, hoặc bị thực vật thương hại gây nên bệnh
Thê Tài tại hào 2: chủ hậu môn, đại tiểu tiện có bệnh
Thê Tài tại hào 3: chủ hậu môn, thắt lưng, bụng có bệnh, tỳ vị bất hòa
Thê Tài tại hào 4: chủ bệnh dạ dày, bệnh thận, vú có bệnh, hoặc chủ hô hấp không thông
Thê Tài tại hào 5: chủ không nghĩ đến ăn uống, rối loạn tiêu hóa, sữa không xuống, nhiễm trùng đường hô hấp, hen suyễn,
Thê Tài tại hào 6: chủ tổn thương tóc, rụng tóc, máu đầu, huyết áp,
Ví dụ 1: Ngày Tân Hợi tháng Dậu, nam đoán bệnh bản thân, được Phong Sơn Tiệm biến Phong Hỏa Gia Nhân
Tiệm Gia Nhân Ư Quan Quỷ Mão mộc Quan Quỷ Mão mộc Đằng Xà
Phụ Mẫu Tị hỏa Tài-Tý Phụ Mẫu Tị hỏa Câu Trần Huynh Đệ Mùi thổ Huynh Đệ Mùi thổ Chu Tước
T Tử Tôn Thân kim Thê Tài Hợi thủy Thanh Long
Phụ Mẫu Ngọ hỏa Huynh Đệ Sửu thổ Huyền Vũ Huynh Đệ Thìn thổ Quan Quỷ Mão mộc Bạch Hổ
Trong Thổ Không Vong, người thuộc tuổi Dần và Mão có thể tự đoán bệnh tật của mình bằng cách sử dụng hào Thế làm Dụng thần Khi hào Thế được Nguyệt tỉ phù vượng và gặp Nhật thần Hợi thủy, điều này cho thấy bệnh địa, chứng tỏ hào Thế có bệnh Lâm Thanh Long liên quan đến cảm giác đau nhức, do đó có thể phán đoán rằng bản thân sẽ gặp phải những cơn đau do bệnh tật.
Hào sơ Huynh Đệ Thìn thổ là Nguyên thần, có thể bị ảnh hưởng bởi các biến động và khắc chế từ đầu Khi Nguyên thần bị thương, điều này có thể làm cơ sở để luận bệnh Hào này cũng có khả năng hóa ra Quan Quỷ, từ đó cũng có thể được sử dụng để luận bệnh Ngoài ra, Nguyên thần hóa Không hóa Phá và hào độc phát cũng có thể được xem xét trong việc luận bệnh, do đó, hào này đóng vai trò chủ chốt trong quá trình phân tích.
THỦ TƯỢNG LỤC THÂN HỖ HÓA (BIẾN HÓA LẪN NHAU)
Lục thân phát động có sự biến hóa liên quan đến cát hung của bệnh tật và phản ánh thông tin nhất định Khi phân tích cát hung, cần chú trọng đến Dụng thần và ý nghĩa của lục thân, đồng thời sử dụng tượng để phán đoán Cát hung và thông tin tồn tại song song trong một hào, do đó, việc phán đoán không nên cứng nhắc mà cần kết hợp hào vị, lục thần và ngũ hành để có phân tích tổng hợp.
Quan Quỷ thường biểu thị cho bệnh tật và lo âu Khi Quan Quỷ xuất hiện và biến hóa, việc phân tích mối quan hệ giữa hào biến và Quan Quỷ sẽ giúp đưa ra những phán đoán chính xác hơn về tình trạng hiện tại.
Quan Quỷ hóa Tử Tôn là một hình thức hóa giải, trong đó Quan Quỷ đóng vai trò là Kỵ thần và Cừu thần, giúp cải thiện tình trạng bệnh tật Khi thần nhàn rỗi, bệnh chuyển biến tích cực, thuốc trở nên hiệu nghiệm, lo âu được xua tan và y thuật đạt đến trình độ cao.
Quan Quỷ hóa tiến: chủ bệnh nặng thêm, hoặc lại thêm bệnh mới, lo âu chồng chất, bệnh tật chuyển biến xấu,
Quan Quỷ hóa thoái: chủ bệnh nhẹ dần, tâm trạng từ từ yên ổn
Quan Quỷ hóa Thê Tài thường liên quan đến những bệnh tật do chế độ ăn uống không lành mạnh, hoặc khi tình trạng sức khỏe trở nặng, gặp nguy hiểm đến tính mạng Ngoài ra, hiện tượng này cũng có thể xảy ra khi nam giới mắc bệnh vì những nguyên nhân liên quan đến phụ nữ.
Quan Quỷ hóa Huynh Đệ giúp phòng ngừa tổn thương tay chân, cải thiện sự linh hoạt cho các chi, hỗ trợ những người không thể ăn uống do bệnh tật, và giảm thiểu cảm giác đau buồn khi nghe âm thanh Bên cạnh đó, nó còn giúp quản lý chi phí điều trị hiệu quả.
Quan Quỷ hóa Phụ Mẫu gây ra sự khó chịu cho chủ nhân, thường do bệnh tật khiến họ phải di chuyển liên tục Sự thay đổi tính cách, nổi giận hay cảm xúc tiêu cực cũng có thể phát sinh từ bệnh tật hoặc từ áp lực từ trưởng bối, xe thuyền, và thông tin văn thư.
Tử Tôn thường thể hiện y dược, vui vẻ,
Tử Tôn hóa Quan Quỷ có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm sự thay đổi cảm xúc từ vui sang buồn, tác dụng phụ của thuốc, hoặc chế độ dinh dưỡng không cân đối Ngoài ra, trẻ nhỏ cũng có thể gặp nguy hiểm đến tính mạng, trong khi một số loại thuốc có thể gây ra vấn đề sức khỏe mới hoặc không thể sử dụng Thêm vào đó, việc tiêu thụ rượu và tham gia vào các hoạt động vui chơi cũng có thể dẫn đến tình trạng bệnh lý.
Tử Tôn hóa Phụ Mẫu là tình huống xảy ra khi y dược không mang lại hiệu quả, hoặc bệnh nhân từ chối uống thuốc, hoặc có sự thay đổi tính cách tiêu cực ở bệnh nhân Ngoài ra, chủ bệnh nhân có thể không thể duy trì tâm trạng tích cực, trong khi trẻ nhỏ có thể gặp tình trạng bệnh nghiêm trọng, hoặc bệnh nhân không thể tiêu thụ rượu.
Tử Tôn hóa Thê Tài: chủ sau khi uống thuốc tính khí rộng mở, sau khi uống thuốc ăn uống tăng lên, hoặc là thực liệu,
Tử Tôn hóa Huynh Đệ: chủ thuốc hiệu nghiệm, thuốc có tác dụng chậm, sau khi uống thuốc sức lực tăng lên,
Tử Tôn hóa Tử Tôn: thay đổi phương thuốc, uống thuốc lẫn lộn, hoặc là sử dụng đồng thời nhiều loại thuốc,
Tử Tôn hóa tiến: thuốc dần hiệu nghiệm, hóa thoái: thuốc dần vô hiệu, hoặc đã có tính kháng thuốc
Huynh Đệ là thần cách trở, cũng chủ đi đứng, phí tổn
Huynh Đệ hóa Tử Tôn: dùng tiền mua thuốc, hoặc chủ tứ chi vô lực
Huynh Đệ hóa Quan Quỷ: tay chân có tổn thương, đi lại khó khăn
Huynh Đệ hóa Thê Tài: ép buộc ăn uống, hoặc mượn tiền khám bệnh
Huynh Đệ hóa Phụ Mẫu: cước lực dần tăng, hoặc chủ tay chân sợ lạnh
Huynh Đệ hóa tiến thần: phí điều trị cao, hoặc chủ ăn không vào, bệnh tật khó lành, tay chân dần có lực
Huynh Đệ hóa thoái thần: Tay chân teo rút, yếu đuối mà vô lực
Thê Tài thể hiện ẩm thực, máu, hô hấp,
Thê Tài hóa Tử Tôn: ăn uống không ngừng, hoặc lấy ăn thay thuốc
Thê Tài động hóa Quan Quỷ: vì ăn gây nên bệnh, nhiễm trùng máu, nhiễm trùng đường hô hấp, hoặc bệnh vì tiền thuốc
Thê Tài động hóa Huynh Đệ: ăn uống không vào, xài rất nhiều tiền
Thê Tài động hóa Phụ Mẫu: ăn uống ảnh hưởng đến hiệu lực của thuốc
Thê Tài động hóa tiến: ăn uống ngày càng tăng lên, tuần hoàn máu tốt, hô hấp thông suốt
Phụ Mẫu động hóa Huynh Đệ: khẩu thiệt tương xâm, mạch đập yếu đi
Phụ Mẫu động hóa tiến: có thuốc khó vào, hoặc chủ bệnh viện nhiệt tình chủ động, mạch đập tăng nhanh
Phụ Mẫu động hóa thoái: tâm trạng dần thoải mái, hoặc chủ bệnh viện không muốn tiếp tục trị liệu
Ví dụ 1: Ngày Mậu Thân tháng Mão, nam đoán bệnh bản thân (mới bị bệnh), được Cấn Vi Sơn biến Chấn Vi Lôi
T Quan Quỷ Dần mộc Huynh Đệ Tuất thổ Chu Tước
Thê Tài Tý Thủy, Tử Tôn Thân Kim, Thanh Long, Huynh Đệ Tuất Thổ, Phụ Mẫu Ngọ Hỏa, Huyền Vũ, Ư Tử Tôn Thân Kim, Huynh Đệ Thìn Thổ, Bạch Hổ.
Phụ Mẫu Ngọ hỏa Quan Quỷ Dần mộc Đằng Xà Huynh Đệ Thìn thổ Thê Tài Tý thủy Câu Trần
THỔ Không Vong: Dần, Mão
Lấy hào Thế làm Dụng thần, quẻ này cho thấy Chấn khắc Cấn, biểu hiện sự biến đổi và khắc chế Hào Thế không gặp vấn đề lớn khi bệnh mới xuất hiện Quan Quỷ Dần mộc kích thích Thế, nếu không phải đau nhức thì có thể là ngứa ngáy Quẻ ở cung Cấn, liên quan đến tay và lưng, trong khi Hào 6 Quan Quỷ lại hóa Huynh Đệ, biểu thị cánh tay có thương tật.
Hào 4 Huynh động hóa Phụ, là dùng tiền đến bệnh viện khám bệnh Hào 3 Tử Tôn lâm Bạch Hổ phát động, Tử Tôn chủ y dược, Bạch Hổ là phẫu thuật, có dự tính làm phẫu thuật Tử Tôn khắc mất Quỷ bên mình, chủ không có lo âu, phẫu thuật khả thi
Người bệnh bị chèn ép dây thần kinh ở cổ, dẫn đến ảnh hưởng đến hoạt động của cánh tay Anh ta dự định thực hiện phẫu thuật nhưng lo lắng về hiệu quả của ca mổ.
Ví dụ 2: Ngày Đinh Hợi tháng Ngọ, nam đoán bệnh của vợ, được Thiên Địa Bĩ biến Sơn Thủy Mông
Bĩ Mông Ư Phụ Mẫu Tuất thổ Thê Tài Dần mộc Thanh Long
Huynh Đệ Thân kim Tử Tôn Tý thủy Huyền Vũ Quan Quỷ Ngọ hỏa Phụ Mẫu Tuất thổ Bạch Hổ
T Thê Tài Mão mộc Quan Quỷ Ngọ hỏa Đằng Xà
Quan Quỷ Tị hỏa Phụ Mẫu Thìn thổ Câu Trần
Phụ Mẫu Mùi thổ Tử-Tý Thê Tài Dần mộc Chu Tước
KIM Không Vong: Ngọ, Mùi
Lấy hào Tài làm Dụng thần, với Dụng thần Thê Tài Mão mộc được Nhật thần sinh phù là vượng tướng Trong quẻ, Kỵ thần Huynh Đệ Thân kim lâm hào 5 phát động khắc Dụng không cát, nhưng Kỵ thần hưu tù, động mà hóa Nguyệt phá, lại bị hai Quan phát động khắc chế, hiện nay không sao Tuy nhiên, hai Quỷ kẹp Dụng, bệnh mới không nên được quẻ lục hợp, tất thành bệnh lâu mà chết.
Quan Quỷ Ngọ hỏa ở hào 4, lâm Bạch Hổ Tuần Không, cho thấy rằng Ngọ hỏa đại diện cho tim, trong khi hào 4 cũng chủ về tim Bạch Hổ liên quan đến máu, cho thấy có vấn đề về tim và cung cấp máu không hiệu quả.
Dụng thần Thê Tài Mão mộc lâm Đằng Xà ở hào 3, gặp Tị hỏa là Bệnh địa, hào
3 là gan, mộc cũng là gan, Xà chủ tâm phiền (bồn chồn, không yên), khuyết thiếu, là gan hư, cung cấp máu không đủ, tâm hoảng
Hào 6 Phụ Mẫu Tuất thổ lâm Thanh Long, là Mộ khố của Quan Quỷ có thể dùng để luận bệnh Hào 6 là đầu, Thanh Long chủ đau nhức, tất thường đau đầu