1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp phát triển ngành chăn nuôi heo KV đồng bằng sông cửu long

119 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Phát Triển Ngành Chăn Nuôi Heo KV Đồng Bằng Sông Cửu Long
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 290,74 KB

Cấu trúc

  • 1.1.2. Quy trỡnh coõng ngheọ (14)
  • 1.1.1. Tình hình phát triển đàn heo tại khu vực đồng bằng sông Cửu Lon (34)
  • 1.1.2. Phân bố đàn heo theo địa bàn (35)
  • 1.1.3. Hệ thống chăn nuôi heo tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long......... 1.1.4. Các định mức kinh tế – kỹ thuật (37)
  • 2.1. Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành chăn nuôi heo khu vực đồng bằng sông Cửu Long thời gian qua .................... 1. Cơ cấu các giống heo tại khu vực (0)
    • 2.1.2. Tình hình sản xuất và cung ứng các con giống tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long (50)
    • 2.1.3. Tình hình sản xuất thức ăn gia súc (54)
      • 2.1.3.1. Nhập khẩu nguyên liệu chế biến thức ăn gia suùc (54)
    • 2.1.4. Tình hình sản xuất các sản phẩm thịt (58)
    • 3.1.1. Mục tiêu phát triển (78)
    • 3.1.2. Quan điểm phát triển (79)
  • 3.2. Các giải pháp nhằm phát triển ngành chăn nuôi heo Đồng Bằng Sông Cửu Long (0)
    • 3.2.1. Có chính sách hổ trợ chăn nuôi, bảo vệ quyền lợi của người sản xuất 37 3.2.2. Cần tạo ra một hành lang an toàn, hiệu quả, thống nhaát trong vấn đề kiểm soát các nguồn nhập xuất các sản phẩm chăn nuôi vật nuôi tại khu vực. Cải tổ và cũng cố lại hệ thống thú y 3.2.3. Quy hoạch vùng chăn nuôi trọng điểm nhằm có biện pháp hỗ trợ, đầu tư kịp thời làm cơ sở vững chắc trong chiến lược phát triển 3.2.4. Saép xeáp lại cô caáu toồ chức các hệ thống chăn nuôi, định hướng hành động tạo lợi thế cạnh tranh 42 (80)
    • 3.2.5. Nhanh chóng chuyển sang hướng sản xuất con gioáng có naêng suaát chaát lượng cao, sử duùng các chửụng trình lai tieán tieán nhaèm tận duùng trieọt để ửu thế lai cho các đời sản phẩm (94)
    • 3.2.8. Chủ động tìm thị trường xuất khẩu sản phẩm, hoàn thiện công nghe chế biến sản phẩm chăn nuoâi (108)
    • 3.2.9. Xã hội hóa vấn đề “gieo tinh nhân tạo” (112)
    • 3.2.10. Vấn đề vốn cho nhà chăn nuôi (114)
  • KẾT LUẬN (117)

Nội dung

Quy trỡnh coõng ngheọ

Chăn nuôi và trồng trọt cần tuân thủ quy trình và tiêu chuẩn kỹ thuật nhất định Theo quy trình sinh học, con giống đời sau không thể tái tạo giống thuộc thế hệ trước, và quá trình lai tạo cần có giới hạn rõ ràng.

Con giống phải dừng lại ở thế hệ con thương phẩm, không được đưa vào sản xuất để tạo ra thế hệ ông bà hay cụ kỵ Quy trình lai tạo này cần được giới hạn để đảm bảo chất lượng và tránh kéo dài quá trình.

SƠ ĐỒ SỐ 1 CHệễNG TRèNH LAI GIOÁNG CHUAÅN ĐỜI CỤ KỴ ĐỜI CỤ KỴ ĐỜI ÔNG BÀ ĐỜI ÔNG BÀ ĐỜI BỐ MẸ ĐỜI BỐ MẸ ĐỜI THƯƠNG PHẨM

Mục đích của việc tuân thủ quy trình này là khắc phục sự suy thoái của đàn giống ở các thế hệ sau, đồng thời tận dụng ưu thế lai cho các sản phẩm mới, giúp tránh hiện tượng đồng huyết.

Xét về quá trình chăm sóc, thuần dưởng; trước năm

Năm 1986, hầu hết các chuồng trại chăn nuôi đều được thiết kế bằng xi măng với máng ăn cố định, mang lại ưu điểm về chi phí thấp và dễ thi công, nhưng lại gặp khó khăn trong việc chăm sóc và theo dõi khẩu phần dinh dưỡng cho từng con giống Sau năm 1986, việc áp dụng chuồng lồng đã cải thiện đáng kể khả năng chăm sóc đàn heo, giúp kiểm soát các chỉ tiêu kỹ thuật tốt hơn, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế trong ngành chăn nuôi và thúc đẩy sản xuất phát triển.

1.2 Tình hình chăn nuôi trên thế giới và tại Việt Nam

Chăn nuôi không chỉ liên quan đến chế biến thực phẩm mà còn gây ra ô nhiễm môi trường và dịch bệnh Do đó, nhiều quốc gia như Đài Loan, Nhật Bản và Hong Kong đang chuyển hướng giảm tỷ trọng chăn nuôi và tăng cường ngành công nghiệp chế biến, chủ yếu nhập nguyên liệu từ nước ngoài và di dời chăn nuôi ra xa Tại Việt Nam, đặc biệt ở các thành phố lớn, quá trình đô thị hóa nhanh chóng buộc hoạt động chăn nuôi phải chuyển ra các vùng ngoại ô và nông thôn, nơi có đất đai rộng rãi và ít áp lực về dân số và môi trường Tình hình phát triển đàn heo tại một số quốc gia vào năm 1999 cũng cho thấy xu hướng này.

STT QUỐC GIA TỔNG ĐÀN

Nguoàn : Thoáng Keâ cuûa FAO 1999

Mặc dù Việt Nam đứng thứ hai ở châu Á về tổng đàn heo, chỉ sau Trung Quốc, nhưng sản lượng thịt lại kém hơn nhiều so với Nhật Bản, Philippines và Hàn Quốc Điều này cho thấy năng suất đàn heo ở Việt Nam còn rất thấp.

Sau hơn 10 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được thành công nổi bật trong ngành chăn nuôi heo, với tốc độ phát triển đàn heo và sản lượng thịt tăng trưởng đáng kể qua các năm.

BẢNG 2: TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN ĐÀN HEO

NAÊ NG SUAÁ T BÌNH QUA ÂN

BÌNH QUAÂN THÒT HEO HễI/NGệ Ờ I

Tốc độ tăng bình quân hàng năm:

Nguồn: Tính toán theo niên giám thoáng keâ 1999

 Tổng sản lượng thịt hơi: 17.8%

 Bình quân thịt heo/người: 8.9%

2.1 Sản lượng thịt và cơ cấu bữa ăn

Thịt heo là loại thực phẩm phổ biến trong bữa ăn hằng ngày của người Việt Nam, chiếm tỷ trọng lớn trong chế độ dinh dưỡng Với nguồn dinh dưỡng phong phú, thịt heo không thua kém so với các loại thịt khác, đồng thời có giá cả hợp lý, phù hợp với thu nhập của người dân Giá trị dinh dưỡng của thịt heo so với các loại thịt khác được thể hiện rõ trong bảng 4.

BẢNG 4: GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA THỊT HEO

SO VỚI CÁC LOẠI THỊT

LOẠI THỊT NƯỚC CHA ÁT ĐẠ

2.2 Sản lượng thịt hơi cả nước

Nguoàn: Soồ Tay Chaên Nuoâi

Về sản lượng, thịt heo có chiều hướng tăng qua các năm, cụ thể như sau: (xem bảng 5)

BẢNG 5: SẢN LƯỢNG THỊT HƠI CÁC LOẠI 1990 – 1999 ẹVT: 1000 TAÁN

Nguoàn: Cuùc Khuyeỏn Noõng & Khuyeán Laâm

Năm 1990 thịt heo chiếm 72,7% trong tổng số các loại thịt sản xuất cung cấp cho thị trường, đến năm

1995 chiếm tỷ trọng là 76,1% và năm 1999 chiếm 79,5%. Như vậy nhu cầu về thịt heo ngày càng cao và khả năng sản xuất cũng tăng đáng kể.

BẢNG 6: TỶ TRỌNG CÁC LOẠI THỊT QUA CÁC NAÊM ẹVT: %

Naê Thòt heo Thòt gia Thòt Traâu

Nguồn: Tính toán theo bảng 5

Năm 1999, thịt heo chiếm 1.453 triệu tấn, tương đương 79,5% tổng sản lượng thịt cả nước, cho thấy sự ưa chuộng mạnh mẽ đối với loại thịt này Mỗi người Việt Nam trung bình tiêu thụ 12,1 kg thịt heo hàng năm, cao hơn so với 11,2 kg thịt trâu bò và 2,15 kg thịt gia cầm Mức tiêu thụ thịt heo ở thành phố lớn như Hà Nội và TP.HCM đạt khoảng 17 kg/người/năm, cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn do sự khác biệt về thu nhập và lối sống Tuy nhiên, con số này vẫn còn khiêm tốn so với mức tiêu thụ ở nhiều quốc gia trên thế giới.

BẢNG 7: TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM

VẬT NUÔI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI. ĐVT: KG/NGƯỜI/NĂM

QUOÁC GIA HEO BO GIA CAÀM Đan Mạch 68.5 24.0 14.0

Ba Lan 53.1 16.4 8.5 Đức 52.1 21.2 9.0 Đài Loan 45.0 4.5 22.5

2.3 Cơ cấu các loại thịt trong bữa ăn hàng ngày Nguồn: USDA

TP.HCM và Hà Nội là hai địa phương có nhu cầu tiêu thụ thịt lớn nhất tại Việt Nam Theo khảo sát của Đại Học Nông Lâm và Tổng Công Ty Nông Nghiệp Sài Gòn, thịt heo chiếm tỷ lệ cao nhất trong tiêu thụ, với 60% tại bệnh viện, 48% ở hộ gia đình và 46% tại trường học Mỗi ngày, thịt được nhập vào thành phố qua các chợ đầu mối và siêu thị, trong đó thịt heo chiếm 45% tổng lượng tiêu thụ tại siêu thị và khoảng 95% tại chợ đầu mối Trung bình, mỗi hộ gia đình tiêu thụ 1,7 kg thịt mỗi tuần Tuy nhiên, tại Đồng Bằng Sông Cửu Long, thịt heo bị thay thế bởi các sản phẩm thủy sản phong phú, đặc biệt trong mùa nước nổi từ tháng 8 đến tháng 11, khiến giá thịt heo giảm mạnh.

Bảng 8 : Cơ Cấu Sử Dụng Thực Phẩm Chăn

Nuôi Tại TP.HCM ẹVT: %

Nguồn: Kết quả điều tra của trường ĐHNL & Toồng Cty NNSG

Tốc độ đô thị hóa nhanh chóng và sự phát triển của các khu công nghiệp đã làm gia tăng nhu cầu sử dụng thực phẩm chế biến, ảnh hưởng đến cơ cấu bữa ăn của người dân Điều này dẫn đến sự thay đổi trong nhu cầu thịt heo, với xu hướng ưu tiên sản phẩm chế biến và đóng gói tiện lợi cho người tiêu dùng.

3 Vai trò của ngành chăn nuôi heo trong nền kinh teá

Vai trò của ngành chăn nuôi heo trong nền kinh tế quốc dân thể hiện ở những mặt sau:

Ngành chăn nuôi heo đã có đóng góp quan trọng trong việc tạo ra thu nhập quốc dân, đặc biệt trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 1999 Dữ liệu từ bảng 9 cho thấy sự ảnh hưởng rõ rệt của ngành này đối với nền kinh tế.

BẢNG 9: GIÁ TRỊ SẢN LƯỢNG ĐÓNG GÓP CỦA

Năm Sản lượng thòt (1.000 taán ) ẹụn giá (đồng

Trong giai đoạn 1996 – 1999, giá trị sản lượng thịt heo ngành chăn nuôi tạo ra là 64.965,557 tỷ đồng, bình quân mỗi năm đạt 16.241,389 tỷ đồng.

Ngành chăn nuôi là một lĩnh vực quan trọng, không chỉ thu hút lao động mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho xã hội Để phát triển bền vững, ngành này cần đầu tư vào ba yếu tố chính: giống vật nuôi, thức ăn và lao động Lao động trong chăn nuôi được phân chia thành hai khu vực chính, góp phần vào sự phát triển của ngành.

Lao động thường xuyên trong ngành chăn nuôi bao gồm công nhân làm việc tại các cơ sở, công ty chăn nuôi tập trung và hộ chăn nuôi quy mô lớn Đặc điểm của lao động trong lĩnh vực này là tính chuyên môn cao và sự ổn định Vào năm 1999, số lượng lao động trong khu vực này ước tính khoảng 50.000 người.

Lao động thời vụ hay không thường xuyên chủ yếu diễn ra trong các hộ sản xuất nhỏ và quy mô chăn nuôi, từ vài con heo nái đến hàng chục heo thịt Đặc điểm nổi bật của loại lao động này là tính linh hoạt, cho phép người lao động dễ dàng thay đổi công việc hoặc làm thêm các công việc khác Theo ước tính, vào năm 1999, lao động trong khu vực này chiếm khoảng 15% tổng số lao động ở nông thôn.

Ba là: Nhân tố quan trọng góp phần làm thay đổi cơ cấu bữa ăn hàng ngày của người dân.

Tình hình phát triển đàn heo tại khu vực đồng bằng sông Cửu Lon

Bằng Sông Cửu Long Đàn heo tại khu vực tăng đều đặn qua các năm. Năm 1996 tăng 5,4% so với năm 1995 Năm 1997 – 1998 hầu như không tăng Riêng năm 1999 đạt

2.695.127 con tăng 1,2% so với năm 1998 nhưng so với naêm 1995 taêng 449.636 con hay taêng 20%.

Việc phát triển đàn heo ở Đồng Bằng Sông Cửu Long tập trung vào hai khu vực chính: khu vực nhà nước và khu vực tập thể, tư nhân.

Khu vực nhà nước bao gồm các công ty, trung tâm giống và trại giống cấp tỉnh, được đầu tư từ ngân sách nhà nước Các đơn vị này thực hiện hạch toán và quản lý theo các chỉ tiêu do nhà nước đề ra, nhằm cung cấp con giống cho các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện các nghĩa vụ chính trị theo nghị quyết của các cấp chính quyền trong từng nhiệm kỳ.

Khu vực chăn nuôi heo bao gồm các hợp tác xã nông nghiệp, tổ hợp tác, và các hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động này Đây là một phần quan trọng trong ngành chăn nuôi, với tỷ trọng lớn về số lượng đầu heo, như được thể hiện trong bảng 10.

BẢNG 10: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN ĐÀN HEO QUA CÁC NĂM ẹVT: Con

Nguồn: Tổng hợp theo Niên Giám Thống Kê các tỉnh

Phân bố đàn heo theo địa bàn

Tổng đàn heo trên 2 tháng tuổi ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long năm 1999 là 2.695.127 con được phân bố nhử sau:

BẢNG 11: TÌNH HÌNH PHÂN BỐ ĐÀN HEO QUA CÁC NAÊM

Tieàn Giang 365.838 384.319 383.368 384.612 390.015 Beán Tre 232.119 242.464 247.187 252.167 261.632 Trà Vinh 183.353 192.811 233.783 222.271 223.048 Đồng

An Giang 153.693 153.658 176.040 175.314 179.421Kieân Giang 207.177 209.561 242.328 220.233 263.121Vónh Long 187.329 197.367 211.771 217.463 219.542Caàn Thô 205.624 213.283 219.811 217.036 242.613Sóc Trăng 180.825 189.302 200.163 204.878 218.162Bạc Liêu 0 177.003 170.127 168.919 171.827

Nguồn: Niên Giám Thống Kê Các Tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long

Đàn heo ở Việt Nam phân bố không đồng đều, với các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Cần Thơ và Kiên Giang có số lượng heo cao hơn hẳn so với các tỉnh khác Ngược lại, Bạc Liêu, Sóc Trăng và An Giang lại ghi nhận số lượng heo thấp nhất hàng năm Mặc dù Đồng Tháp và Vĩnh Long có tốc độ tăng đàn heo nhanh, nhưng tổng số lượng heo tại đây vẫn không đáng kể so với các tỉnh khác Điều này gây khó khăn trong việc quy hoạch các vùng chăn nuôi trọng điểm, từ đó ảnh hưởng đến khả năng đầu tư và áp dụng các thành tựu mới trong ngành chăn nuôi.

Hệ thống chăn nuôi heo tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long 1.1.4 Các định mức kinh tế – kỹ thuật

Đồng Bằng Sông Cửu Long

Hiện tại Đồng Bằng Sông Cửu Long có 4 hệ thống chăn nuôi chính đang hình thành:

Một là: Hệ thống chăn nuôi kiểu hộ gia đình

Vùng nông nghiệp trọng điểm phía Nam có đặc điểm là hầu hết các hộ gia đình nuôi từ 1 đến 2 nái sinh sản hoặc 5 đến 10 heo thịt/lứa, nhằm tận dụng nguồn thức ăn tại chỗ Điều này dẫn đến việc số lượng đàn heo tại mỗi tỉnh trong khu vực hàng năm thường cao hơn TP.HCM, mặc dù dân số không đông và chăn nuôi không tập trung, không chuyên môn hóa Nguồn cung cấp con giống cho các hộ này rất quan trọng để duy trì hoạt động chăn nuôi.

- Con giống được giữ lại từ lứa trước.

Con giống được bán ở các chợ huyện và thị xã thường không rõ nguồn gốc, tiềm ẩn nguy cơ mang theo nhiều dịch bệnh Điều này dẫn đến khả năng sống sót và phát triển của chúng rất thấp Mặc dù giá cả cực rẻ và dễ mua do thuộc loại hàng "bán tháo", nhưng người tiêu dùng cần thận trọng với chất lượng và an toàn của con giống này.

- Con giống mua lại giữa các hộ chăn nuôi nhỏ.

- Con giống mua từ các trại tư nhân, trại quốc doanh hoặc các trung tâm gioáng.

Hai là: Hệ thống Trại tư nhân

Hệ thống này chia ra làm hai mức độ rõ rệt:

Hệ thống trại giống chủ yếu sản xuất con giống và thường thuộc sở hữu tư nhân, do những người có kinh nghiệm chăn nuôi lâu năm quản lý Các trại này nhập giống từ TP.HCM và các trại nổi tiếng khác, thỉnh thoảng cũng nhập giống mới từ các công ty nước ngoài Quyết định nuôi heo thịt phụ thuộc vào giá heo giống; nếu giá cao, họ xuất toàn bộ heo con, ngược lại, họ giữ lại để nuôi thịt khi giá thịt heo thấp Mô hình trại rất linh hoạt với quy mô khoảng 100 nái sinh sản Nước thải được xử lý qua hồ nhân tạo trước khi thải ra ruộng, trong khi một số ít trại áp dụng phương pháp Biogaz để xử lý nước thải.

Trong những năm qua, đặc biệt là trong năm 1999, heo con được giá nenâ của các trại giống này được taêng leân. lợi nhuanọ

Hệ thống trại chuyên sản xuất heo thịt thường có quy mô từ 50 đến 200 heo thịt mỗi lứa hoặc 300 heo thịt mỗi năm Các trại này hoạt động như vệ tinh cho các trại tư nhân, thường là những hộ có diện tích đất rộng, chuyên trồng lúa và có kinh nghiệm trong chăn nuôi Họ duy trì mối quan hệ chặt chẽ với các trại tư nhân để nhận được sự hỗ trợ, bao gồm việc bán chịu con giống, quyền chọn con giống trước và các khoản tín dụng khác.

39 này cực kỳ phổ biến tại các tỉnh Sóc Trăng, Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang.

Ba là: Hệ thống các trang trại hợp tác xã noõng nghieọp

Các hợp tác xã nông nghiệp ở các tỉnh Miền Tây hoạt động theo Luật hợp tác xã, thể hiện hình thức hợp tác tập thể tiến bộ Mô hình này phù hợp với xu thế phát triển hiện nay tại Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp.

Mô hình hợp tác xã nông nghiệp hiện nay đã khắc phục những khiếm khuyết từ mô hình cũ và đang phát triển mạnh mẽ tại các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long Cụ thể, tỉnh Vĩnh Long có 12 hợp tác xã, Đồng Tháp có 25 đơn vị, Cà Mau có 16 hợp tác xã, và Sóc Trăng dẫn đầu với gần 40 hợp tác xã.

100 hợp tác xã Nông Nghiệp.

Các hợp tác xã Nông Nghiệp kiểu mới không còn áp dụng phương pháp chấm công hay tập trung gom các hộ xã viên như trước đây Thay vào đó, chúng tập trung vào việc cung cấp dịch vụ và đóng vai trò là đầu mối tiếp nhận, phổ biến các thành tựu và công nghệ mới cho các hộ xã viên.

Các hợp tác xã đang xây dựng trại heo giống với quy mô trung bình 100 nái sinh sản để cung cấp con giống cho nhu cầu của xã viên Tuy nhiên, khảo sát tại Vĩnh Long cho thấy số lượng nái này chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu con giống của bà con xã viên.

Trong tương lai gần, nếu được tổ chức và quản lý hiệu quả, mô hình này sẽ trở thành đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ với các trại tư nhân và quốc doanh Do đó, các đơn vị này cần điều chỉnh chiến lược kinh doanh của mình để thích ứng với tình hình mới.

Bốn là: Hệ thống các xí nghiệp chăn nuôi nhà nước

Giai đoạn 1988 – 1995 chứng kiến sự bùng nổ của ngành chăn nuôi heo nhà nước, với mỗi huyện ở miền Tây đều có trại chăn nuôi phục vụ cho chương trình VAC và dinh dưỡng Tuy nhiên, việc đầu tư ồ ạt này đã dẫn đến thua lỗ kéo dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển toàn ngành chăn nuôi heo.

Từ năm 1995 đến nay, quy luật thị trường và sự điều chỉnh kịp thời của Chính Phủ đã dẫn đến việc mỗi tỉnh chỉ còn một công ty giống hoặc một trung tâm giống hoạt động chủ yếu Mặc dù chưa thực sự hiệu quả, các đơn vị này đã đóng góp tích cực vào các chương trình hành động cấp quốc gia như chương trình “nạc hóa và làm tươi máu đàn heo” và chương trình “AI”.

Bảng số liệu số 12 chỉ ra rằng tỷ trọng heo sinh sản, heo cai sữa và heo hậu bị trong các đơn vị quốc doanh so với tổng đàn trong khu vực là rất thấp Mặc dù thị trường thịt heo có nhiều biến động trong nhiều năm qua, nhưng năng lực sản xuất của các đơn vị nhà nước vẫn không đáp ứng được nhu cầu của người dân trong tỉnh Điều này lý giải tại sao doanh số bán con giống của các đơn vị chăn nuôi ở TP.HCM ngày càng tăng tại khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Mặc dù đã áp dụng nhiều phương thức chăn nuôi mới và công nghệ hiện đại, các đơn vị chăn nuôi ở Đồng Bằng Sông Cửu Long vẫn chưa theo kịp so với các tỉnh miền Đông Nam Bộ và TP.HCM Dù cơ chế nhà nước đã được cải thiện, nhưng vẫn còn nhiều rào cản khiến các đơn vị chưa thể thực hiện những bước đột phá cần thiết.

1.1.4 Các định mức kinh tế – kỹ thuật

Năng suất sinh sản của đàn giống gia tăng ổn định qua các năm, đặc biệt là từ năm 1995 Số con đẻ trung bình mỗi ổ đã tăng từ 8,2 con vào năm 1985 lên 8,91 con vào năm 1990 và đạt 9,5 con vào năm 1998.

Trọng lượng heo con sơ sinh đã tăng từ 1,1 kg vào năm 1985 lên 1,5 kg vào năm 1998, góp phần làm tăng tỷ lệ heo con sống sót sau cai sữa Sự cải thiện này đã thúc đẩy sự phát triển tổng đàn heo.

2 tháng tuổi trong khu vực tăng nhanh trong giai đoạn này.

Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành chăn nuôi heo khu vực đồng bằng sông Cửu Long thời gian qua 1 Cơ cấu các giống heo tại khu vực

Tình hình sản xuất và cung ứng các con giống tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long

tại khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long:

Khác với TP.HCM, nơi có trung tâm nghiên cứu ứng dụng và phát triển chăn nuôi heo quy mô, vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long lại thiếu những trung tâm tương tự Mỗi tỉnh trong khu vực này chỉ có trung tâm giống cấp tỉnh, nhưng hoạt động của chúng chủ yếu mang tính chất chính trị xã hội, chưa đáp ứng được các yêu cầu thực tế trong chăn nuôi.

Mặc dù Đồng Bằng Sông Cửu Long đã có Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long và Viện Khoa Học Miền Nam chuyên nghiên cứu cây ăn quả và giống cây trồng, nhưng lĩnh vực chăn nuôi heo vẫn chưa được chú trọng phát triển Điều này tạo ra một nghịch lý trong khu vực, khi mà chăn nuôi heo vẫn còn bỏ ngỏ so với các lĩnh vực nông nghiệp khác.

Do thiếu một trung tâm nghiên cứu khu vực, các đơn vị chăn nuôi quốc doanh và tư nhân đã tận dụng thành tựu từ TP.HCM và các trại miền Đông Nam Bộ Họ áp dụng nhanh chóng các chương trình lai tiên tiến với giống ngoại nhập để tận dụng ưu thế từ các chương trình này Nhờ đó, khái niệm “heo rặc” và “heo thuần chủng” dần được thay thế bằng việc sử dụng giống lai nhiều máu, đồng thời kiểm soát tỷ lệ máu trong từng con giống nhằm đạt hiệu quả chăn nuôi tối ưu.

Tình hình cung ứng con giống trong khu vực đã tăng trưởng trung bình 20,1% mỗi năm Cụ thể, vào năm 1999, số lượng con giống cung cấp chỉ đạt tối đa 16.817 con, con số này khá khiêm tốn so với tổng đàn lên tới 2.695.127 con.

Các trại chăn nuôi hàng năm phải nhập thêm con giống từ bên ngoài để cải thiện chất lượng đàn giống và đáp ứng nhu cầu cao về heo con giống trong khu vực Con giống từ các đơn vị quốc doanh có ưu điểm nổi bật như tăng trọng nhanh, ngoại hình đẹp, sạch bệnh, được tiêm chủng đầy đủ và tỷ lệ nạc cao.

So với các trại tư nhân, sự năng động của các đơn vị quốc doanh đang là vấn đề tranh cãi Tuy nhiên, nhờ vào sự chênh lệch lớn giữa giá con giống và giá heo thịt, các đơn vị quốc doanh đã hoạt động hiệu quả về mặt đồng vốn Khả năng mở rộng quy mô sản xuất và đầu tư mới trong chăn nuôi chỉ còn là vấn đề thời gian.

Chênh lệch giá giữa 1 kg heo con và 1 kg heo thịt lên đến gần 100%, và nếu heo con được chăm sóc tốt để trở thành heo hậu bị, chênh lệch này có thể đạt tới 120,7% Giá thành và giá bán các sản phẩm chăn nuôi trong thời gian qua đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị chăn nuôi, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh và cải thiện đời sống người lao động.

BẢNG 15: KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ CUNG CẤP

HEO GIỐNG CỦA CÁC ĐƠN VỊ QUỐC DOANH ẹVT: CON ẹễN Về 1995 1996 1997 1999 Taờng

Nguồn: Báo Cáo Tổng Kết Cuoái Naêm

Theo bảng 15 thì các đơn vị sản xuất giống trong khu vực chưa thể đáp ứng được nhu cầu về con giống cho các hộ chăn nuôi.

BẢNG 16: GIÁ THÀNH VÀ GIÁ BÁN SẢN PHẨM CHAÊN NUOÂI

Cheõnh leọch giá bán với giá

Nguồn: Tổng hợp theo báo cáo các Sở NN & PTNT

Tình hình sản xuất thức ăn gia súc

2.1.3.1 Nhập khẩu nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc.

Nguyên liệu thức ăn được cấp giấy phép nhập năm 1997, 1998 và năm 1999 theo số liệu của Cục

Khuyeỏn Noõng & Khuyeỏn Laõm nhử sau:

BẢNG 17: NGUYÊN LIỆU THỨC ĂN ĐƯỢC CẤP PHÉP NHẬP

Loại nguyên liệu thức ăn chaên nuoâi

Số lượng cấp phép cho các coâng ty (taán)

1 Nguyên liệu giàu năng lượng

4 Nguyeõn lieọu cung cấp khoáng

5 Các loại men tiêu hóa

Nguồn: Báo cáo của Cục Khuyến Noâng & Khuyeán Laâm

Tình hình nguyên liệu thức ăn nhập khẩu tăng đáng kể Năm 1998 nhập 831.316,46 tấn tăng 58,3% so với năm 1997, năm 1999 nhập 1.169.260,3 tấn tăng hơn năm 1998 là 140%.

Theo báo cáo của Cục Khuyến Nông & Khuyến Lâm, trong số 90 công ty chế biến và kinh doanh thức ăn gia súc, có 47 công ty nhập nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, bao gồm 15 công ty nước ngoài và 32 công ty trong nước Phần lớn các công ty nội địa chỉ nhập nguyên liệu để kinh doanh hoặc làm trung gian, không có nhà máy chế biến Điều này tạo điều kiện cho các công ty nước ngoài không có đối thủ cạnh tranh trong nước, giúp họ dễ dàng điều chỉnh giá thức ăn khi cần thiết.

Theo báo cáo của Bộ Nông Nghiệp và PTNT thì tình hình cung ứng nguyên liệu dùng sản xuất thức ăn gia súc trong nước như sau:

BẢNG 18 : KHẢ NĂNG CUNG ỨNG

NGUYÊN LIỆU DÙNG SẢN XUẤT THỨC ĂN TRONG NƯỚC

1 Bắp hạt 1,26 70% sản lượng ngô

2 Đậu nành hạt 0,03 20% sản lượng đậu

3 Khoai mì 0,04 50% sản lượng sắn

Tớnh luoõn 0.01 trieọu tấn sản xuất thủ coâng trong daân

5 Cám gạo 2,6 10% sản lượng thóc

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, nguồn nguyên liệu trong nước hoàn toàn đủ khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất và chế biến thức ăn gia súc Tuy nhiên, nhiều đơn vị vẫn tiếp tục thực hiện nhập khẩu nguyên liệu.

Đồng Bằng Sông Cửu Long, mặc dù là nguồn cung cấp nguyên liệu phong phú cho ngành sản xuất chế biến, đặc biệt là thức ăn gia súc, nhưng lại phải nhập khẩu thức ăn từ các khu vực khác với chi phí cao Đây là một nghịch lý lớn trong bối cảnh phát triển kinh tế của khu vực, gây ra nhiều lo ngại cho ngành nông nghiệp và chế biến thực phẩm.

 Nguồn nguyên liệu dùng để chế biến thức ăn gia súc của chúng ta không đáp ứng được tiêu chuẩn chung của các nước.

 Chúng ta không có khả năng quy hoạch ổn định được nguồn cung ứng nguyên liệu.

 Giá cả đầu vào nguồn nguyên liệu chúng ta còn khá cao so với các nước trong khu vực.

 Khả năng tổng hợp, chế biến nguyên liệu có sẳn thành những hổn hợp có thành phần dinh dưởng cao.

 Vốn mua nguyên liệu, khả năng và thời gian bảo quản còn kém.

 Chi phí nhập khẩu nguyên liệu hay thuế xuất nhập khẩu nguyên liệu này của Việt Nam còn quá hấp dẫn đối với các doanh nghiệp nước ngoài.

Tình hình sản xuất các sản phẩm thịt

Sản lượng thịt heo tại Đồng Bằng Sông Cửu Long đang tăng nhanh, không chỉ đáp ứng nhu cầu nội địa mà còn phục vụ cho các khu vực lân cận như TP.HCM và Campuchia Thị trường TP.HCM gần đây yêu cầu tiêu chuẩn cao về sản phẩm thịt heo, dẫn đến xu hướng các tỉnh chuyển hướng xuất khẩu sang Campuchia, nơi có nhu cầu lớn và yêu cầu tương đối dễ dàng, phù hợp với giống heo hiện có.

Sự phát triển nhanh chóng của các thành phố như Cần Thơ, Long Xuyên, Cà Mau, và Mỹ Tho đã dẫn đến sự gia tăng dân số cơ học, từ đó làm tăng nhu cầu tiêu thụ thịt heo tại địa phương Tuy nhiên, khả năng sản xuất và cung ứng các sản phẩm thịt heo chưa theo kịp với mức độ tăng trưởng này.

2.1.4.1.Nhu cầu thịt heo tại các tỉnh Đồng Bằng

2.1.4.1.1 Tình hình tiêu thụ sản phẩm thịt heo

Khu vực này nổi bật với hệ thống chợ tỉnh, chợ huyện và chợ thị xã, cùng với các chợ nổi trên sông ngòi, tạo nên mạng lưới phân phối thịt heo đến từng hộ gia đình Thị trường tiêu thụ thịt heo tại đây không quá khắt khe và không yêu cầu các tiêu chuẩn cao như ở TP.HCM Sản lượng thịt hơi sản xuất đủ đáp ứng nhu cầu tại chỗ và còn dư để cung cấp cho các địa phương khác.

Sự gia tăng dân số dẫn đến nhu cầu thịt heo ngày càng cao, thúc đẩy sự phát triển chăn nuôi và gia tăng số lượng trang trại tư nhân, cùng với sự tham gia tích cực của các hộ gia đình vào quá trình sản xuất.

2.1.4.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến cầu thịt heo tại khu vực

Giá cả thịt heo chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu, với sự tương quan tỷ lệ nghịch giữa giá và số lượng cầu; tức là khi giá tăng, số lượng cầu giảm và ngược lại Thịt heo có mức giá không quá cao và không chênh lệch nhiều so với các loại thịt khác trong khu vực Thông tin cụ thể về giá cả các loại thịt tại các chợ tỉnh vào tháng 09 năm 1999 cũng phản ánh điều này.

20.000 ủ – 25.000 ủ/kg Thũt ba rọi: 15.000 đ – 18.000 đ/kg

So với thịt heo thì giá thịt bò, thịt gà chênh lệch khá cao:

Thịt gà ta: 23.000 đ/kg Thịt bò philê:

Thu nhập bình quân của người dân vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long thấp hơn so với các địa phương khác, chủ yếu dựa vào nghề nông và thu nhập từ lúa gạo thường biến động theo từng vụ mùa Mặc dù trong 5 năm qua, chính phủ đã có những can thiệp tích cực vào thị trường lúa gạo, nhưng nghịch lý là khi mùa màng bội thu, bà con nông dân lại càng rơi vào cảnh nghèo đói, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập của người dân trong vùng.

Khi dân số tăng cao, nhu cầu về thịt heo cũng theo đó gia tăng Điều này đặc biệt rõ ràng ở những khu vực có tốc độ đô thị hóa nhanh như Long Xuyên, Cần Thơ, Mỹ Tho và Cà Mau, nơi mà nhu cầu thịt heo rất lớn.

Thị hiếu tiêu dùng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nhu cầu hàng hóa, đặc biệt là thịt heo, được ưa chuộng trong bữa ăn hàng ngày và các dịp lễ, tết của người dân miền Tây Yếu tố tôn giáo cũng ảnh hưởng đến nhu cầu này, khi đa số người dân theo đạo Phật có ít ngày ăn chay và kiêng thịt trong năm, dẫn đến dự báo rằng nhu cầu về thịt heo sẽ tiếp tục gia tăng trong tương lai.

Giá cả của thịt heo không chỉ phụ thuộc vào giá của chính nó mà còn bị ảnh hưởng bởi giá cả của các loại hàng hóa liên quan, bao gồm các sản phẩm thay thế và bổ sung Các loại thịt có thể thay thế cho thịt heo bao gồm thịt gà, thịt vịt, thịt bò và cá.

Vào mùa con nước lớn, nguồn cá đồng và cá sông dồi dào khiến giá một số loại thịt, bao gồm thịt heo, giảm Tuy nhiên, do giá các loại thịt khác vẫn cao, nhu cầu về thịt heo vẫn duy trì ổn định, dự báo giá thịt heo trong tương lai sẽ không giảm mạnh.

- Dự đoán nhu cầu thịt heo tại khu vực:

Nhu cầu thịt heo tại Việt Nam phụ thuộc vào dân số, với TP.HCM và Hà Nội dẫn đầu về tiêu thụ, đạt 17 kg/người/năm Nếu đến năm 2005, khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long cũng đạt mức tiêu thụ này, với dân số 19,5 triệu người, thì nhu cầu thịt heo sẽ tương ứng với con số ấn tượng.

Mỗi năm, tổng lượng thịt heo cần thiết cho 19,5 triệu người là 331,5 tấn, tương đương 908,22 tấn/ngày Với trọng lượng heo giống xuất chuồng là 90 kg và tỷ lệ thịt xẻ đạt 58%, lượng heo cần xuất chuồng hàng ngày sẽ được tính toán dựa trên các thông số này.

90kg/con * 58% = 52,2 kg thòt xeû/con 908,22 taán : 52,2 kg thòt xeû/con = 17.399 con

2.3 NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CHỦ YẾU CỦA NGÀNH CHĂN NUÔI HEO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Chi phí sản xuất được giảm thiểu đáng kể nhờ vào việc tận dụng nguyên liệu sẵn có tại khu vực, bao gồm sản phẩm từ vụ mùa thu hoạch như gạo, tấm, cám và các loại hoa màu Bên cạnh đó, nguồn thủy sản phong phú như cá cũng góp phần làm giảm chi phí thức ăn trong chăn nuôi.

Chăn nuôi heo ở khu vực này không tập trung mà phân bố rộng rãi, với hầu hết các hộ gia đình tham gia vào hoạt động này như một nguồn thu nhập bổ sung hàng năm bên cạnh việc trồng lúa, dẫn đến tổng đàn heo ở đây rất cao.

- Nguồn giống đa dạng, phong phú làm cơ sở để lai tạo, chọn giống dễ dà ng.

- Chăn nuôi tạo ra các sản phẩm kích thích trồng trọt phát triển.

Chất lượng đàn heo giống tại khu vực này chưa đạt yêu cầu so với các địa phương khác, đặc biệt là TP.HCM và một số nước ngoài Hiện nay, tổng đàn heo trong khu vực đạt 2.695.127 con, chiếm 14,68% tổng đàn heo của Việt Nam vào năm 1998 Trong khi đó, đàn heo tại TP.HCM chỉ chiếm 7,4% tổng đàn heo của Đồng Bằng Sông Cửu Long, nhưng giá heo hơi xuất chuồng tại TP.HCM luôn cao hơn.

1 kg heo hơi tại đây.

Mục tiêu phát triển

Chúng tôi cam kết sản xuất và cung ứng con giống chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu toàn khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long Mục tiêu là từng bước nâng cao tỷ trọng chăn nuôi so với trồng trọt trong ngành nông nghiệp, góp phần phát triển bền vững và nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp.

Tận dụng nguyên liệu địa phương để gia tăng sản xuất thức ăn gia súc, phát triển cơ sở chế biến đáp ứng nhu cầu thị trường nhằm hạ giá thành nguyên liệu và sản xuất thịt heo, tăng cường sức cạnh tranh Đảm bảo quy trình chăn nuôi, giết mổ và chế biến thịt khép kín, không gây ô nhiễm môi trường, đồng thời kiểm tra giám sát chất lượng thịt heo tiêu dùng.

Tăng sản lượng thịt có chất lượng cao xuất khẩu sang thị trường các nước.

Chuẩn hóa một số chỉ tiêu về con giống đầu vào tại khu vực.

Hoàn tất việc nạc hóa và tươi máu đàn heo.

Quan điểm phát triển

Phát triển ngành chăn nuôi heo cần đảm bảo tính ổn định và bền vững, tránh những hành động nóng vội hay chạy theo thành tích nhất thời Cần tạo sự phát triển cân đối giữa các khu vực, nhằm tránh tình trạng chênh lệch giữa các lĩnh vực trong ngành.

Các giải pháp nhằm phát triển ngành chăn nuôi heo Đồng Bằng Sông Cửu Long

Có chính sách hổ trợ chăn nuôi, bảo vệ quyền lợi của người sản xuất 37 3.2.2 Cần tạo ra một hành lang an toàn, hiệu quả, thống nhaát trong vấn đề kiểm soát các nguồn nhập xuất các sản phẩm chăn nuôi vật nuôi tại khu vực Cải tổ và cũng cố lại hệ thống thú y 3.2.3 Quy hoạch vùng chăn nuôi trọng điểm nhằm có biện pháp hỗ trợ, đầu tư kịp thời làm cơ sở vững chắc trong chiến lược phát triển 3.2.4 Saép xeáp lại cô caáu toồ chức các hệ thống chăn nuôi, định hướng hành động tạo lợi thế cạnh tranh 42

quyền lợi của người sản xuất

Trong cơ chế thị trường, các nhà chăn nuôi cần chủ động tìm cách giảm thiểu rủi ro và thích ứng với biến động thị trường thay vì chờ đợi sự bảo hộ Ở tầm vĩ mô, sự phát triển ngành chăn nuôi heo phụ thuộc vào các chính sách hỗ trợ hợp lý từ nhà nước Nếu không có những biện pháp can thiệp vào giá thức ăn gia súc và kiểm soát giá thịt heo, sự cân đối giữa chăn nuôi và trồng trọt sẽ bị ảnh hưởng Đặc biệt, trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 11 hàng năm, giá cám thường tăng cao trong khi giá heo hơi lại giảm mạnh, như đã xảy ra vào ngày 15.08.2000 tại thị trường Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Giá cám heo thịt Cargill hiện nay là 2.870 đ/kg, trong khi giá heo thịt chỉ đạt 9.500 đ/kg Điều này khiến cho các nhà chăn nuôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phá bầy và ngừng sản xuất, vì việc tiếp tục sản xuất chỉ dẫn đến thua lỗ ngày càng nhiều.

Các biến động theo chu kỳ đang diễn ra và các tỉnh đã nhận thức được điều này, nhưng vẫn chưa có kế hoạch kiểm soát hiệu quả để giảm thiểu rủi ro cho người chăn nuôi Việc kiểm soát và dự báo kịp thời các biến động này sẽ góp phần cải thiện đáng kể tình hình nông thôn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Trong thời gian tới cần:

Cần kiện toàn hệ thống thông tin thị trường và các số liệu thống kê từ cơ sở Đảm bảo hoàn tất việc thu thập số liệu ban đầu trong thời gian sớm nhất, tối thiểu trước tháng 4 hàng năm.

Đánh giá dữ liệu về số lượng heo con và heo thịt xuất chuồng là cần thiết để điều chỉnh kế hoạch chăn nuôi Việc dự kiến thời gian và hướng dẫn các nhà chăn nuôi tăng giảm đàn heo hợp lý trong các mùa vụ đặc biệt sẽ giúp tối ưu hóa sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế.

Thành lập trung tâm xử lý thông tin chuyên ngành nhằm cung cấp nguồn thông tin chính xác và được chọn lọc cho nhà chăn nuôi, đồng thời hướng dẫn họ trong việc áp dụng thông tin hiệu quả.

Thiết lập kênh thông tin thị trường và giá cả chuyên ngành chăn nuôi heo cho toàn khu vực là cần thiết Cần phát hành tập san hàng tuần hoặc hàng tháng để cập nhật các tiến bộ trong ngành chăn nuôi, giá cả thịt heo, nguồn cung ứng và tiêu thụ thịt heo, cũng như dự đoán giá thức ăn gia súc Điều này giúp các nhà chăn nuôi nhanh chóng thích nghi và điều chỉnh kế hoạch kinh doanh của họ.

Thiết lập các đầu mối thu mua sản phẩm chăn nuôi tại những khu vực trọng điểm sẽ giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh Việc ấn định giá cấp 1 và giá cấp 2 cho từng loại sản phẩm không chỉ hỗ trợ nhà chăn nuôi trong việc định giá mà còn hạn chế tình trạng bị ép giá bởi tư thương.

Chính phủ nên thiết lập giá sàn cho các sản phẩm thịt heo và giá trần cho thức ăn gia súc, đồng thời ban hành chính sách giá sàn ổn định trong từng giai đoạn cụ thể Điều này sẽ giúp tiến tới việc hình thành cơ chế "bảo hiểm chăn nuôi", góp phần phát triển ngành chăn nuôi một cách ổn định và bền vững.

3.2.2 Cần tạo ra một hành lang an toàn, hiệu quả, thống nhất trong vấn đề kiểm soát các nguồn nhập xuất các sản phẩm chăn nuôi, vật nuôi tại khu vực Cải tổ và cũng cố lại hệ thống thú y

Trong suốt 10 năm qua, hệ thống chi cục thú y các tỉnh đã đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát nguồn nhập xuất heo và quản lý vệ sinh dịch tễ, đảm bảo an toàn thực phẩm và sức khỏe cộng đồng Tuy nhiên, thực tế cho thấy hệ thống này chỉ phản ứng khi có dịch bệnh xảy ra, cho thấy sự thiếu sót trong công tác phòng ngừa Điều này làm phát sinh nhiều vấn đề tiêu cực, khi mà việc giám sát và kiểm soát chưa thực sự hiệu quả.

 Chỉ quan tâm đến số lượng con xuất nhập, không chú ý đến loại giống, nguồn gốc con giống.

Việc kiểm tra chỉ mang tính hình thức theo quy định có thể gây cản trở cho quá trình vận chuyển giống vật nuôi.

 Không có chế độ phòng dịch cho các con giống xuất nhập tỉnh.

Hiện tại, chưa có giải pháp triệt để cho các vụ vi phạm an toàn thú y Để kiểm soát nguồn giống vào khu vực một cách hiệu quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chi cục Đặc biệt, các cửa ngõ như Long An và các tỉnh biên giới cần tăng cường công tác kiểm tra đầu vào và đầu ra, từ đó tạo cơ sở theo dõi tình hình nguồn giống chung cho toàn khu vực.

Hệ thống thú y từ trung ương đến địa phương được tổ chức chặt chẽ với đầy đủ ban bệ và đội ngũ cộng tác viên Nhiệm vụ chính của hệ thống này là kiểm soát và phòng chống bệnh dịch, cũng như kiểm dịch các sản phẩm chăn nuôi Tuy nhiên, công tác kiểm soát chỉ thực sự diễn ra khi có dịch bệnh phát sinh.

Chi cục thú y tỉnh cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng như quản lý thị trường, chi cục thuế và y tế để nâng cao hiệu quả kiểm dịch Việc này nhằm ngăn chặn các thủ đoạn của đầu nậu và thương lái, đảm bảo tất cả thịt heo trong khu vực đều được kiểm dịch và đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm.

Nhanh chóng chuyển sang hướng sản xuất con gioáng có naêng suaát chaát lượng cao, sử duùng các chửụng trình lai tieán tieán nhaèm tận duùng trieọt để ửu thế lai cho các đời sản phẩm

con giống có năng suất, chất lượng cao, sử dụng các chương trình lai tiến tiến nhằm tận dụng triệt để ưu thế lai cho các đời sản phaồm

Trong những năm qua, những thành tựu toàn cầu về cải tạo giống vật nuôi đã chứng minh rằng việc sử dụng nguồn giống đã cải tạo gen di truyền là phương pháp nhanh chóng và hiệu quả nhất để nâng cao chất lượng giống vật nuôi Cải tạo gen trong chăn nuôi heo không chỉ giúp loại bỏ các gen bất lợi mà còn tạo ra những giống heo có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu đa dạng của thị trường Việc kết hợp sử dụng giống heo đã cải tạo gen với việc từng bước thay máu đàn heo địa phương sẽ tạo ra những giống lai phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Chất lượng con giống là yếu tố quyết định đến sản lượng thịt heo, với thực tế cho thấy, đàn heo Việt Nam đứng thứ hai châu Á nhưng sản lượng thịt heo xuất chuồng lại thấp hơn nhiều quốc gia có số lượng heo ít hơn như Nhật Bản và Philippines Để nâng cao sản lượng, cần thực hiện một số giải pháp quan trọng.

Các tỉnh cần tập trung nâng cấp các trại heo giống hiện có bằng cách điều chỉnh cơ cấu giống heo theo hướng tăng cường nhóm heo ngoại và giảm dần nhóm heo nội Mục tiêu là loại bỏ hoàn toàn các con giống kém chất lượng ra khỏi trại.

Nâng cấp chuồng trại theo thiết kế mới nhất để phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp là điều cần thiết Áp dụng các chương trình lai giống phù hợp cho từng nhóm con giống sẽ giúp nâng cao chất lượng đàn Đồng thời, việc thực hiện nghiêm túc các chương trình tiêm chủng và chăm sóc sức khỏe cho đàn là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững trong chăn nuôi.

Để nâng cao hiệu quả chăn nuôi, cần thực hiện quy trình chăn nuôi hiện đại và xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật phù hợp cho đàn giống có nguồn gốc ngoại Việc thuần dưỡng và thích nghi con giống sẽ giúp đưa nhanh chóng sản phẩm đến tay các nhà chăn nuôi vừa và nhỏ Đồng thời, cần tập huấn các chương trình cai sữa ngắn ngày và áp dụng phương pháp phối giống bằng thụ tinh nhân tạo, kết hợp với việc kiểm soát chặt chẽ lý lịch con giống nhằm tránh hiện tượng đồng huyết, bảo vệ và phát triển đàn giống bền vững trong tương lai.

Liên kết với các địa phương như TP.HCM, Đồng Nai, và Bình Dương, nơi có ưu thế về con giống chất lượng cao, không chỉ đơn thuần là việc nhập khẩu giống mà còn bao gồm việc chuyển giao công nghệ, thành tựu và kinh nghiệm trong nghiên cứu và triển khai chăn nuôi.

Nghiên cứu khả năng nhập khẩu các giống ngoại đã được nuôi thích nghi tại Việt Nam từ các công ty giống hàng đầu như PIC Vietnam, France – Hybrid, CP nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc vào một nguồn cung cấp duy nhất.

Trong bối cảnh hiện nay, việc nhập khẩu 96 giống vật nuôi từ nhiều nguồn khác nhau giúp các đơn vị có cơ sở để chọn lọc và so sánh những ưu điểm của từng loại giống Điều này tạo điều kiện cho việc xây dựng kế hoạch lâu dài trong công tác nhân đàn và mở rộng quy mô đàn giống, phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.

Kết hợp các thành phần kinh tế trong sản xuất giống theo mô hình “nhà nước và nhân dân cùng làm” là một chiến lược hiệu quả Các trại tư nhân quy mô vừa và nhỏ sẽ đóng vai trò là “vệ tinh” hỗ trợ cho các trung tâm giống cấp tỉnh trong việc áp dụng công nghệ mới vào chăn nuôi, từ đó thúc đẩy nhân giống đại trà phục vụ nhu cầu của bà con nông dân.

Ngân sách cấp tỉnh cần được phân bổ hợp lý để hỗ trợ các đơn vị sản xuất con giống chất lượng cao, bao gồm cả nhà nước và tư nhân Điều này sẽ khuyến khích các nhà chăn nuôi tập trung nguồn lực vào việc sản xuất và cung ứng con giống, đồng thời tránh tình trạng “xã hội hóa công tác giống” chỉ mang tính hình thức như trước đây.

Thiết lập các chương trình tập huấn cơ bản và chuyên sâu kết hợp với các Trung Tâm Khuyến Nông tỉnh nhằm đưa khoa học và kỹ thuật chăn nuôi thú y đến từng hộ chăn nuôi Mục tiêu là thay đổi triệt để tập quán chăn nuôi cổ điển kiểu “bỏ ống”, giúp người chăn nuôi tránh mua giống kém chất lượng từ các chợ huyện, thị Đây là bước quan trọng trong việc “quét sạch” giống heo kém phẩm chất đang lưu thông trên thị trường heo giống Việt Nam.

Để đảm bảo chất lượng giống cây trồng, cần chuẩn hóa các cơ sở sản xuất giống bằng cách thiết lập cơ chế quản lý và kiểm soát chặt chẽ Chỉ những cơ sở đáp ứng đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trình độ nghiệp vụ và khả năng tài chính mới được phép hoạt động Điều này giúp ngăn chặn tình trạng các cơ sở kém chất lượng cung cấp giống ra thị trường, từ đó bảo vệ và nâng cao chất lượng đàn giống trong khu vực.

3.2.6 Đầu tư công nghệ chế biến thức ăn gia súc

Thị trường thức ăn gia súc tại Việt Nam hiện nay chủ yếu bị chi phối bởi các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là trong khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Cargill đang tiến hành xây dựng nhà máy chế biến thức ăn thứ hai tại tỉnh Cần Thơ, khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, dự kiến sẽ ra mắt sản phẩm vào tháng 9 năm 2000 Ngoài Cargill, nhiều công ty nước ngoài khác cũng đang khảo sát và xây dựng nhà máy chế biến thức ăn gia súc tại khu vực này, tạo ra áp lực ngày càng lớn cho các đơn vị trong nước, đặc biệt là tại Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Theo đánh giá của chuyên gia trong ngành chế biến thức ăn gia súc, hiện nay, thị trường Việt Nam đang ưa chuộng một số loại cám nhất định.

BẢNG DANH MỤC CÁC NHÀ SẢN XUẤT CÁM

STT LOẠI CÁM CON GIỐNG

2 CP GROUP Loại tốt, trung bình

3 PROCONCO, CP VINA Loại khá, trung bình

4 ĐÀI VIỆT, CHIASHIN Loại trung bình

Chủ động tìm thị trường xuất khẩu sản phẩm, hoàn thiện công nghe chế biến sản phẩm chăn nuoâi

phẩm, hoàn thiện công nghệ chế biến sản phaồm chaờn nuoõi

Trước năm 1990, thị trường xuất khẩu thịt heo ở Liên Xô cũ rất ổn định với các hợp đồng mua bán đơn giản và dễ tính, không yêu cầu đầu tư vào giống tốt hay công nghệ chế biến cao Tuy nhiên, sau khi Liên Xô tan rã, việc xuất khẩu sang Nga gặp khó khăn, đặc biệt là trong khâu thanh toán Do đó, không thể chỉ phụ thuộc vào một thị trường duy nhất cho hoạt động xuất khẩu sản phẩm.

Các nước nhập khẩu thịt heo lớn bao gồm Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga, Hong Kong và Singapore, trong đó Mỹ và Nhật Bản có quy định nghiêm ngặt về an toàn thực phẩm, khiến Việt Nam chưa thể tiếp cận thị trường này Tuy nhiên, nếu khai thác hiệu quả thị trường Nga, Hong Kong và Singapore, Việt Nam có thể giải quyết cơ bản lượng thịt heo sản xuất Để mở rộng vào các thị trường khác, sản phẩm thịt heo của Việt Nam cần đáp ứng một số yêu cầu nhất định.

Con giống đầu vào cần đảm bảo chất lượng cao, với tỷ lệ thịt xẻ lớn, độ dày mở lưng thấp, cơ thăn phát triển tốt, màu sắc đỏ hồng và thịt có hương thơm đặc trưng.

 Công nghệ chế biến sản phẩm thịt đạt tiêu chuẩn quốc tế hay chí ích cũng phải đạt mức khu vực.

 An tòan và vệ sinh sinh học trong suốt quá trình từ chăn nuôi đến chế biến.

 Giá cả sản phẩm hợp lý

Để không nằm trong vùng bị ảnh hưởng của dịch bệnh, cần một quá trình phức tạp và đầu tư lớn từ cấp quốc gia, thường kéo dài từ 5 đến 10 năm Tuy nhiên, mọi việc chỉ có thể bắt đầu khi chúng ta nghiêm túc thực hiện với định hướng rõ ràng và các bước đi thích hợp.

Trong quá trình khai thác và nghiên cứu thị trường nước ngoài, vai trò của các Đại Sứ Quán, Tham Tán Thương mại và các tổ chức liên quan là vô cùng quan trọng Những cơ quan này không chỉ cung cấp thông tin quý giá về thị trường mà còn hỗ trợ doanh nghiệp trong việc xây dựng mối quan hệ và phát triển chiến lược thâm nhập hiệu quả.

Việt Nam đang nỗ lực phát triển thị trường xuất khẩu cho ngành chăn nuôi heo và chế biến thực phẩm thông qua các cơ quan đại diện ở nước ngoài Những cơ quan này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc định hình chiến lược xuất khẩu và xây dựng các chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành.

Xã hội hóa vấn đề “gieo tinh nhân tạo”

Trong bối cảnh hiện nay, các tỉnh nên tập trung mạnh vào việc triển khai công tác “gieo tinh nhân tạo” một cách rộng rãi Mạng lưới cộng tác viên thú y từ tỉnh đến huyện và các tổ thú y địa phương sẽ hỗ trợ hiệu quả cho công tác này Cần khuyến khích các hộ chăn nuôi có kinh nghiệm tham gia, đưa công tác “AI” đến gần hơn với các hộ chăn nuôi nhỏ Để chương trình đạt kết quả tốt, cần thực hiện các bước cụ thể và hiệu quả.

Tỉnh cần thiết lập trại nọc giống hoặc sở hữu con nọc giống tốt có nguồn gốc ngoại, đã được chọn lọc kỹ lưỡng và có hồ sơ lý lịch rõ ràng để đảm bảo cung cấp tinh chất lượng cao cho các địa phương Các trại này phải đảm bảo cung cấp đủ số lượng cho các hộ dân, nhằm tránh tình trạng mua nọc giống không rõ nguồn gốc, gây thoái hóa đàn giống địa phương.

Cần hoàn thiện các chương trình phối giống và tập huấn cho các đơn vị cộng tác viên, giúp họ hiểu rõ vấn đề này Điều này sẽ tạo điều kiện cho việc phối giống từng loại phù hợp, nhằm tối đa hóa lợi thế di truyền cho các thế hệ sau.

Để bảo quản tinh trùng hiệu quả từ "trạm tinh gốc" đến các đơn vị cơ sở, cần có phương tiện và điều kiện kỹ thuật phù hợp Ngoài ra, việc tập huấn cho các cộng tác viên về quy trình thụ tinh nhân tạo, kỹ thuật pha chế và phối giống là rất quan trọng.

 Triển khai đồng loạt công tác “ AI “ tại khắp các địa phương nhằm xác định được thời điểm thu hoạch, sản lượng, điều kiện phát triển.

Ngân hàng lưu trữ dữ liệu về các thế hệ con giống từ ông bà đến con thương phẩm được thành lập nhằm kiểm soát chặt chẽ quá trình lai tạo và nhân đàn Điều này giúp tránh những nguy cơ làm thoái hóa đàn giống, đảm bảo chất lượng và sự phát triển bền vững cho ngành chăn nuôi.

 Lập kinh phí, dự toán thực hiện chương trình và thời gian hoàn thành.

 Toồng keỏt, ruựt kinh nghieọm.

Vấn đề vốn cho nhà chăn nuôi

Ngành chăn nuôi đối mặt với nhiều rủi ro cao, từ dịch bệnh đến biến động thị trường, trong khi lợi nhuận lại không đáng kể Điều này khiến các ngân hàng rất cẩn trọng khi cấp vốn cho các nhà chăn nuôi Hơn nữa, với ngân sách hạn hẹp, nhà nước cũng gặp khó khăn trong việc ưu tiên hỗ trợ cho lĩnh vực chăn nuôi cả trước mắt lẫn lâu dài Vì vậy, cần tìm hướng giải quyết vấn đề vốn trong chăn nuôi một cách hiệu quả.

Ngân hàng Nông Nghiệp và PTNT hỗ trợ tài chính cho các công ty sản xuất con giống chất lượng cao, với quy mô lớn Họ tập trung vào việc cung cấp vốn cần thiết cho xây dựng cơ sở hạ tầng, nhập khẩu giống và trang thiết bị kỹ thuật Đồng thời, ngân hàng cũng thực hiện giám sát khả năng sản xuất và hiểu biết thị trường đầu ra của các đơn vị, nhằm đảm bảo nguồn tài trợ được sử dụng hiệu quả và đúng mục đích Khi cần thiết, ngân hàng có thể kịp thời tăng cường nguồn tài trợ.

Việc tài trợ này có thể chia làm hai cấp độ khác bieọt:

Thứ nhất là cho vay bình thường theo các kế hoạch, phương án kinh doanh đã được các cơ quan chủ quản thông qua với lãi suất phổ thông.

Cho vay với lãi suất ưu đãi và thời hạn thanh toán dài sẽ hỗ trợ đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nâng cấp chuồng trại và hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải nhằm bảo vệ môi trường Hình thức cho vay này không chỉ mang tính kinh doanh mà còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc.

Hai là: tài trợ gián tiếp cho hộ chăn nuôi thông qua chi trả tiền mua con giống, trang thiết bị,… trực tiếp

60 đơn vị sản xuất đã nhận tài trợ sẽ tập trung vào việc thanh toán các khoản tài trợ đến hạn thông qua các đơn vị sản xuất giống Điều này không chỉ nâng cao khả năng thu hồi vốn mà còn đảm bảo việc tài trợ được thực hiện một cách rộng rãi và hiệu quả.

Chương trình Ba là hỗ trợ một phần chi phí mua thức ăn gia súc từ các nhà sản xuất trong khu vực Các hộ chăn nuôi sẽ nhận được tỷ lệ tài trợ nhất định cho chi phí thức ăn nếu họ chọn mua sản phẩm từ các nhà máy được đầu tư bởi tỉnh Mức độ tài trợ phụ thuộc vào khả năng chăn nuôi, tay nghề và kế hoạch sản xuất kinh doanh của từng nhà chăn nuôi.

Các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi trong tỉnh cung cấp sản phẩm cho các hộ chăn nuôi theo hình thức tín dụng, trong đó ngân hàng sẽ hỗ trợ tài chính một phần hoặc toàn bộ chi phí mua hàng theo định kỳ hàng tháng hoặc hàng quý Mối quan hệ giữa ngân hàng, nhà máy sản xuất thức ăn gia súc và các hộ chăn nuôi sẽ tạo thành một cơ chế thống nhất, linh hoạt, giúp thuận tiện trong việc tiếp nhận nguồn tài trợ và thanh toán các khoản nợ đến hạn.

Kết hợp với các tổ chức khác để tài trợ cho nhà chăn nuôi trong khu vực là một trong những chiến lược quan trọng Các chương trình thực hiện hàng năm bao gồm chương trình xóa đói, giảm nghèo và các chương trình hỗ trợ cho bà con dân tộc tại các tỉnh như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh, An Giang, nhằm nâng cao đời sống và phát triển bền vững cho cộng đồng.

Ngày đăng: 27/08/2022, 17:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Niên giám thống kê Việt Nam 1998, NXB Thống kê Hà Nội Khác
2. Nghị quyết 10 và phát triển nông nghiệp – NXB Hà Nội Khác
3. Chương trình giống vật nuôi, Cục khuyến nông & khuyến lâm, Hà Nội 1998 Khác
4. Tổng quan nông nghiệp Việt Nam, Viện qui hoạch và thiết kế nông nghiệp 1996 Khác
5. Số liệu thống kê Nông Lâm Thủy Sản Việt Nam 1990 – 1998 và dự báo năm 2000 Khác
6. Xu thế phát triển chăn nuôi hiện nay trên thế giới và vận dụng vào chăn nuôi truyền thống và chăn nuôi công nghiệp ở Việt Nam, Hội chăn nuôi 1996 – Traàn Theá Thoâng Khác
7. Đổi mới kinh tế Việt Nam – Thực trạng & triển vọng – Đặng Đức Đạm Khác
8. Kinh tế _ Xã Hội Việt Nam 1996 – 1998 và dự báo naêm 2000 Khác
9. Khái luận về Quản Trị Chiến Lược. Fred R. David 10. Bài giảng môn học Quản Trị Chiến Lược – TS.Nguyeón Thũ Lieõn Dieọp Khác
11. Niên giám thống kê các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long năm 1998-1999 Khác
12. Báo cáo tổng kết năm 1998 – 1999 của các Sở NN & PTNT các tỉnh ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w