Thủy lợi 28
Thành phố có nhiều công trình thủy lợi quan trọng, bao gồm hệ thống kênh Đông Củ Chi, công trình N31A, và hệ thống thủy lợi Hóc Môn, Bắc Bình Chánh Ngoài ra, còn có các công trình thủy lợi tại khu vực trũng thấp ven sông và phía Nam thành phố, cùng với hệ thống đê sông và đê biển bảo vệ an toàn cho khu vực.
Các công trình thủy lợi đã góp phần quan trọng trong việc cải tạo đất đai ngoại thành, thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp Chúng đã biến đổi các vùng đất hoang hóa, đặc biệt là khu vực trũng phèn phía Tây Nam thành phố, và phục hồi các khu vực bị tàn phá trong chiến tranh như Cần Giờ và Nhà Bè Đồng thời, các công trình này cũng hỗ trợ xây dựng các vùng sản xuất nông nghiệp tăng vụ và cao sản tại Củ Chi, Bình Chánh, Thủ Đức, cũng như phát triển các vùng rau chuyên canh và cây ăn trái.
Các công trình đầu tư đã mang lại tác động tích cực cho sản xuất nông nghiệp, góp phần phát triển các lĩnh vực nông thôn ngoại thành tại thành phố Hồ Chí Minh Hiệu quả rõ rệt được ghi nhận trên diện tích khoảng 23.400 ha, bao gồm 4 huyện: Củ Chi (14.400 ha), Hóc Môn (3.000 ha), Bình Chánh (4.500 ha) và Thủ Đức (1.500 ha).
Dù đã có những công trình thủy lợi tại thành phố Hồ Chí Minh, nhưng qua đánh giá hiện trạng, nhiều thiếu sót và hạn chế đã được phát hiện, đặc biệt tại khu vực phía Nam như Nhà Bè và Cần Giờ, nơi hiệu quả khai thác vẫn còn rất thấp Hơn nữa, nhiều công trình với trình độ kỹ thuật không cao đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng.
Sử dụng đất đai 28
Tình hình biến động đất sản xuất Nông nghiệp:
Trong giai đoạn 1996-1997, thị trường bất động sản tại các quận mới thành lập theo NĐ 03/CP diễn ra sôi động, dẫn đến tình trạng giảm diện tích đất sản xuất nông nghiệp Theo báo cáo từ các quận, huyện, đã có 1.913 ha đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng.
- Quận 2: Đất Nông nghiệp giảm 352 ha.
- Quận 7: Đất Nông nghiệp giảm 771,8 ha.
- Quận 12: Đất Nông nghiệp giảm 75 ha
- Quận Thủ Đức : Đất nông nghiệp giảm 38 ha
- Quận Gò Vấp: Đất Nông nghiệp giảm 83,4 ha
- Huyện Hóc Môn: Đất Nông nghiệp giảm 287 ha
- Huyện Bình Chánh: Đất Nông nghiệp giảm 759 ha
- Huyện Nhà Bè: Đất Nông nghiệp giảm 195 ha.
Hàng năm, diện tích đất chuyên dùng và đất ở tăng từ 1.600 đến 1.800 ha, trong đó có khoảng 1.430 đến 1.450 ha đất nông – lâm – ngư nghiệp được chuyển đổi sang các mục đích sử dụng chuyên dụng, với diện tích đất trồng cây hàng năm chiếm từ 1.000 đến 1.200 ha.
So với năm 1998, năm 1999 ghi nhận sự giảm 1.433 ha diện tích đất nông-lâm-ngư nghiệp, trong đó đất trồng cây hàng năm giảm 1.034 ha, và đất vườn tạp cùng cây lâu năm cũng giảm.
378 ha; ao hồ nuôi thủy sản giảm 22,6 ha; đất lâm nghiệp giảm 8,2 ha.
Công tác chọn, tạo giống mới 29
Tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong nông nghiệp đã mang lại những thành tựu quan trọng, đặc biệt trong việc ứng dụng giống cây trồng và vật nuôi mới Những giống lúa mới, cây ăn trái, ngô lai, khoai mì cao sản, bò lai, lợn lai, và vịt siêu trứng siêu thịt đang ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu cây trồng và vật nuôi, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng nông sản.
Ngành Nông nghiệp thành phố đã tích cực triển khai sử dụng các giống lúa mới, phù hợp với thời gian sinh trưởng, cơ cấu mùa vụ và điều kiện đất đai Những giống lúa này có khả năng kháng bệnh tốt đối với một số sâu bệnh chính và đảm bảo phẩm chất gạo cao Hiện nay, các giống lúa cải tiến như IR-64 đang được nhân rộng trong sản xuất.
MTL 250 Ngoài ra còn có các giống như Khao 39 ; IR 62032 ;
Chọn tạo và sản xuất các giống đậu phộng năng suất cao như HL 25, VD1, VD3, VD5 với thời gian sinh trưởng từ 90 đến 95 ngày đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất đậu phộng tại thành phố.
Giống mía mới có nguồn gốc từ Đài Loan, Trung Quốc và Columbia đã được đưa vào sản xuất, hiện chiếm 70% diện tích gieo trồng tính đến năm 1998 Những giống mía này không chỉ có trữ đường cao mà còn mang lại năng suất vượt trội, góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất mía.
Chọn tạo con giống và sản xuất gia súc, gia cầm ngày càng gia tăng, bao gồm heo tỷ lệ nạc cao, gà công nghiệp như AA, Brown, Nick, Sasso, gà Tam Hoàng, vịt siêu thịt, bò sữa và một số giống đặc sản như bồ câu công nghiệp, ngan Pháp Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật được cải thiện hàng năm, đặc biệt là năng suất sinh trưởng, sinh sản, năng suất sữa, đồng thời giảm tiêu tốn thức ăn và chi phí nuôi thịt.
Công tác bảo vệ thực vật – Thú y 30
Trong thời gian qua, công tác bảo vệ thực vật tại thành phố đã có những tiến bộ đáng kể, góp phần bảo vệ năng suất và sản lượng cây trồng Kể từ năm 1994, chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) đã được triển khai, bắt đầu từ cây lúa và sau đó mở rộng sang cây rau Chương trình này không chỉ nâng cao nhận thức của nông dân về việc bảo vệ cây trồng mà còn liên kết với bảo vệ sức khỏe và môi trường, giúp tiết kiệm chi phí sản xuất nhờ giảm thiểu việc sử dụng thuốc trừ sâu Nhờ vào nhiều hình thức khuyến nông kết hợp với chương trình IPM, mức độ ô nhiễm thuốc trừ sâu trên rau đã giảm rõ rệt Đối với các loại cây trồng khác như cây ăn trái, đậu phộng và mía, nông dân cũng đã từng bước thay đổi tập quán cũ và áp dụng các biện pháp an toàn và hiệu quả hơn.
Công tác vệ sinh thú y tại TP.HCM đã được chú trọng, giúp giảm nguy cơ bộc phát dịch bệnh gia súc, gia cầm, mặc dù vẫn tiềm ẩn rủi ro Nhờ thực hiện đồng bộ các biện pháp vệ sinh thú y, các ổ dịch lớn đã không xảy ra Tuy nhiên, trong hệ thống chăn nuôi vẫn tồn tại những vấn đề về vệ sinh thú y, từ khâu chăn nuôi đến lưu chuyển động vật và môi trường Ý thức phòng bệnh, đặc biệt là việc tiêm phòng vaccine, cần được nâng cao trong toàn bộ hệ thống chăn nuôi để đảm bảo an toàn dịch bệnh.
Tổ chức sản xuất 30
Các hình thức tổ chức sản xuất.
Kinh tế nông hộ, kinh tế tư nhân,kinh tế cá thể đã có bước phát triển nhanh trong thời gian qua.
Kinh tế hợp tác tại nông thôn đã trải qua giai đoạn suy giảm, nhưng hiện nay, các hợp tác xã nông nghiệp đủ điều kiện theo luật đã được chuyển đổi theo Nghị định 16/CP của Chính phủ.
Năm 1999, đã thành lập thêm 3 hợp tác xã nông nghiệp chuyên về chăn nuôi và dịch vụ bò sữa với 146 xã viên, nâng tổng số hợp tác xã nông nghiệp ở khu vực ngoại thành lên 17.
Thành phố cam kết hỗ trợ các tổ chức hợp tác xã (HTX) ổn định và mở rộng hoạt động dịch vụ, sản xuất kinh doanh, đặc biệt khi quy mô còn nhỏ và sức cạnh tranh còn yếu Để nâng cao khả năng cạnh tranh, thành phố cũng khuyến khích thành lập thêm nhiều HTX trong các lĩnh vực khác nhau.
: trồng rau sạch, trồng – chế biến đậu phộng, dịch vụ tưới tiêu và cung cấp nước sinh hoạt nông thôn…
Trong nông thôn hiện nay, các mô hình trang trại nông nghiệp đang ngày càng phát triển, đặc biệt là trang trại hộ gia đình Đây là hình thức kinh tế hộ sản xuất hàng hóa quy mô lớn, chủ yếu dựa vào lao động và vốn của gia đình Tuy nhiên, sự phát triển này cũng đặt ra nhiều vấn đề mới cần được điều tra và nghiên cứu để xây dựng các chủ trương và cơ sở pháp lý phù hợp cho kinh tế trang trại ở nông thôn ngoại thành.
Tổ chức liên doanh và hợp tác kinh tế giữa các doanh nghiệp với các thành phần kinh tế, đặc biệt là nông dân ngoại thành, đã mang lại nhiều kết quả tích cực, ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các hộ nông dân, hợp tác xã Tuy nhiên, hiệu quả của các hoạt động này vẫn chưa đạt mức cao, và còn tồn tại nhiều vấn đề cần khắc phục.
Tổ chức sản xuất theo Ngành.
Trong những năm gần đây, lĩnh vực trồng trọt đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ với việc hình thành các vùng chuyên trồng hoa và cây cảnh Đồng thời, các mô hình VAC (vườn - ao - chuồng) cũng được triển khai, cùng với việc cải tạo vườn tạp và trồng cây ăn trái Ngoài ra, nhiều mô hình sản xuất rau an toàn đã được xây dựng, góp phần nâng cao chất lượng nông sản.
Trong chăn nuôi: có 3 hệ thống chăn nuôi cơ bản:
Hệ thống các xí nghiệp chăn nuôi tập trung:
Hệ thống cung cấp giống có vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển đàn giống, đáp ứng nhu cầu về con giống và dịch vụ kỹ thuật Tuy nhiên, tỷ lệ của hệ thống này trong tổng đàn còn thấp, chỉ đạt 18,2% đối với heo, 2% đối với gà và 0,68% đối với bò sữa.
Bảng 18 : Hệ thống trại chăn nuôi bò sữa tập trung.
TT TÊN TRẠI ĐỊA ĐIỂM SỐ CON
1 Bò sữa Tân Thắng Quận Tân
2 Bò sữa An Phú Huyện Củ
3 Trường Đại Học Nông Lâm Quận Thủ 2 Đức 4
TP.HCM Hệ thống trại chăn nuôi thương phẩm gia đình:
Hệ thống trại chăn nuôi gia đình đang ngày càng phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực chăn nuôi gà Đầu tư vào mô hình này thường diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và đáp ứng nhu cầu thị trường.
Chăn nuôi gia công tại Việt Nam chủ yếu diễn ra ở quy mô vừa và lớn, với số lượng lớn hộ tự đầu tư từ A đến Z chỉ chiếm một phần nhỏ Đặc biệt, nhiều hộ chăn nuôi heo thực hiện gia công cho các Xí Nghiệp Nhà nước, công ty liên doanh và công ty nước ngoài, với quy mô đàn từ 1.000 đến 5.000 con Các địa bàn tập trung chủ yếu là Huyện Củ Chi, Bình Chánh và Quận 12.
Có ba hình thức chăn nuôi cơ bản : nuôi heo nái, bán heo con giống Nuôi heo nái và nuôi heo thịt Nuôi heo thịt thửụng phaồm
Trong những năm gần đây, hình thức trại nuôi heo tại các huyện Bình Chánh, Hốc Môn và Củ Chi đã phát triển mạnh mẽ Quy mô của các trại này thường dao động từ 50 đến 100 nái sinh sản, và chúng thường áp dụng phương pháp xử lý chất thải bằng Biogaz.
Hệ thống chăn nuôi quy mô nhỏ tại gia đình:
Hệ thống này đóng góp một tỷ lệ lớn trong tổng đàn gia súc, chủ yếu nhằm tạo ra nguồn thu nhập bổ sung cho hộ gia đình, kết hợp với hoạt động trồng trọt và các ngành nghề dịch vụ khác trong nền kinh tế.
Có 41.229 hộ chăn nuôi heo,bình quân quy mô 3.77con /hộ chiếm 75% tổng đàn heo của thành phố (số liệu điều tra của chi cục thú y Thành phố năm 1997)
Có 39.989 hộ chăn nuôi gia cầm, bình quân quy mô
32 con/hộ chiếm 88% tổng đàn gia cầm (số liệu điều tra của chi cục thú y thành phố năm 1997)
Tại Việt Nam, có 1.288 hộ chăn nuôi bò sữa với quy mô từ 1-10 con, chiếm 81,2% tổng đàn bò sữa Trong số đó, 953 hộ nuôi từ 1-5 con và 335 hộ nuôi từ 6-10 con, theo số liệu điều tra khảo sát của đề tài quản lý giống bò sữa năm 1998.
Hiện nay, đang hình thành xu hướng trang trại tổng hợp vườn - ao - chuồng (VAC), kết hợp canh tác nông nghiệp với chăn nuôi bò sữa quy mô lớn, từ 20 con trở lên Các trang trại như Kim Thanh ở Quận Thủ Đức đang nuôi gà thả vườn kết hợp với nuôi heo nỏi, heo thịt và gà công nghiệp Đồng thời, ở Quận 8, mô hình này còn kết hợp nuôi vịt siêu thịt với cá, tạo ra một hệ sinh thái chăn nuôi đa dạng và hiệu quả.
CHệễNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TP.HCM ĐẾN NĂM 2010
3.1 QUAN ĐIỂM MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN NÔNG
NGHIỆP THÀNH PHỐ ĐẾN NĂM 2010.
Quan điểm phát triển Nông nghiệp
Xây dựng nền nông nghiệp sinh thái đa dạng hóa và nông nghiệp hàng hóa theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) là mục tiêu quan trọng nhằm nâng cao năng suất lao động (NSLĐ) và hiệu quả sản xuất Điều này sẽ giúp tạo ra nhiều nông sản hàng hóa chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu, từ đó tăng thu nhập cho nông dân.
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi là một giải pháp quan trọng trong nông nghiệp, nhằm giảm diện tích gieo trồng cây lúa và tăng cường sản xuất rau sạch, rau cao cấp, đậu phộng, cây ăn trái, hoa kiểng, cùng với chăn nuôi heo, gà công nghiệp và bò sữa Mục tiêu là nâng cao tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp, biến chăn nuôi thành ngành sản xuất chính, góp phần phát triển bền vững cho ngành nông nghiệp.
Con đường phát triển Nông nghiệp dựa chủ yếu vào hiện đại hóa thâm canh tăng vụ, phát triển chiều sâu, tăng năng suất, sản lượng và chất lượng.
Mục tiêu phát triển Nông nghiệp Đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 4,9-5% thời kỳ 2001 –
2010, trong đó trồng trọt đạt khoảng 4%, chăn nuôi 6%.
Ngành tạo ra khoảng 43 – 44% GDP chăn nuôi và 46 – 47% GDP trồng trọt Diện tích gieo trồng cây lương thực khoảng 59.800 ha, sản lượng thực phẩm
ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YEÁU PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TP.HCM ĐẾN NĂM 2010 3.1 QUAN ĐIỂM MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 34
Giải pháp bảo vệ thực vật – Thú y 45 3.2.4 Giải pháp đổi mới qui trình và phát triển sản xuất 48 3.2.5 Giải pháp xaây dựng cô sở hạ taàng phuùc vuù sản xuaát noâng nghieọp 49
thực vật - thú y Bảo vệ thực vật:
Bảo vệ cây trồng tránh những thiệt hại do các loài dịch hại gây ra, giúp tăng năng suất và chất lượng cây troàng.
Hạn chế tối đa việc sử dụng chất độc hại để bảo vệ sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng, đồng thời bảo vệ môi trường sống và cân bằng sinh thái Ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo vệ thực vật giúp giảm thiểu hóa chất độc hại, ngăn ngừa bùng phát dịch hại và bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp.
Trọng tâm của công tác bảo vệ thực vật (BVTV) hiện nay là hỗ trợ phát triển vùng rau an toàn tại thành phố Chúng tôi tập trung vào việc sản xuất nông sản chất lượng cao, không gây ô nhiễm, bao gồm cả sản xuất theo phương pháp hữu cơ mà không sử dụng hóa chất, nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học trong phòng trừ dịch hại đang trở thành xu hướng quan trọng, với việc sử dụng chế phẩm vi sinh và công nghệ đấu tranh sinh học Những phương pháp này không chỉ hiệu quả trong việc kiểm soát dịch hại mà còn bảo vệ môi trường và duy trì cân bằng sinh thái.
Nghiên cứu áp dụng các biện pháp kỹ thuật như bẫy dẫn dụ côn trùng nhằm nâng cao hiệu quả dự báo dịch hại Việc này giúp chủ động trong công tác phòng trừ, bảo vệ mùa màng và giảm thiểu thiệt hại do dịch hại gây ra.
Nghiên cứu quy luật phát sinh và phát triển của các dịch hại quan trọng nhằm tìm ra biện pháp phòng trừ hiệu quả nhất Đặc biệt, cần chú trọng đến quy trình phòng trừ tổng hợp cho các loại cây rau quả dễ bị ô nhiễm bởi thuốc bảo vệ thực vật.
Chúng tôi tiến hành chọn lọc và khảo nghiệm các giống cây trồng có khả năng kháng sâu bệnh chính, nhằm giảm thiểu tối đa việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật Mục tiêu là nghiên cứu và ứng dụng quy trình sản xuất nông sản theo phương pháp sinh học hữu cơ, phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
- Công tác chuyển giao kỹ thuật
Tổ chức các lớp tập huấn cho nông dân tại địa phương hoặc qua các phương tiện truyền thông như radio và truyền hình là rất quan trọng Đồng thời, xây dựng các video hướng dẫn kỹ thuật với hình ảnh và lời thuyết minh cụ thể sẽ giúp bà con nông dân tiếp cận kiến thức một cách hiệu quả hơn.
Chúng tôi tổ chức các buổi trình diễn kỹ thuật với sự tham gia của những nông dân giỏi, có kinh nghiệm trong sản xuất, nhằm tạo cơ hội học hỏi cho nông dân thông qua hội thảo đầu bờ Mục tiêu là bồi dưỡng những nông dân xuất sắc trở thành tư vấn viên về bảo vệ thực vật (BVTV) cho cộng đồng nông dân trong khu vực.
Tổ chức mô hình dự báo sâu bệnh và hướng dẫn phòng trừ cho rau ở cấp xã nhằm nâng cao hiệu quả canh tác Nếu đạt được kết quả tích cực, sẽ phát triển dịch vụ hỗ trợ công tác này, góp phần bảo vệ mùa màng và tăng năng suất nông nghiệp.
Xây dựng mô hình sản xuất nông sản an toàn là bước quan trọng hướng tới nền nông nghiệp sạch tại Thành phố Điều này không chỉ đảm bảo chất lượng sản phẩm mà còn phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, góp phần nâng cao giá trị nông sản và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
- Công tác trang bị cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật
Xây dựng Trạm Thực nghiệm và huấn luyện nghiệp vụ BVTV để thực hiện công tác nghiên cứu và phổ biến kỹ thuật.
Xây dựng Phòng thí nghiệm giám định sâu bệnh của Chi Cục BVTV Thành phố để hỗ trợ cho công tác hướng dẫn phòng trừ dịch hại.
- Công tác đào tạo cán bộ
Cần nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ kỹ thuật BVTV ở tất cả các cấp để họ có khả năng tiếp nhận và chuyển giao kỹ thuật mới cho người sản xuất một cách hiệu quả.
Bảo vệ thực vật cho từng loại cây troàng chính sau: Caây luùa
TP Hồ Chí Minh sở hữu một diện tích lúa Mùa lớn, tuy nhiên, việc chuyển đổi sang lúa ngắn ngày gặp khó khăn do điều kiện đất đai không phù hợp Vụ Mùa thường trồng các giống lúa đặc sản có giá trị cao, nhưng đa số các giống này không có khả năng kháng rầy Để duy trì vùng lúa Mùa chất lượng cao và ổn định năng suất, cần thực hiện các biện pháp canh tác phù hợp.
Chọn lựa và phổ biến các giống lúa có khả năng kháng sâu bệnh, đặc biệt là kháng rầy nâu, là biện pháp quan trọng để gieo cấy trong vụ Đông Xuân và Hè Thu, nhằm giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm trong vụ Mùa.
Áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) cho cả ba vụ lúa là cần thiết Chương trình này nên được mở rộng thông qua nhiều hình thức đa dạng như trình diễn, hội thảo đầu bờ, tuyên truyền qua đài phát thanh, truyền hình và tổ chức hội thi IPM để nhiều nông dân có thể tiếp cận và áp dụng.
Cây rau là loại cây cần được ưu tiên hàng đầu trong công tác bảo vệ thực vật (BVTV) Sâu bệnh trên rau rất phong phú và đa dạng, cùng với nhiều chủng loại rau khác nhau, gây ra khó khăn trong việc phòng trừ.
Giải pháp phát triển thị trường 50
Các giải pháp đảm bảo “đầu vào” cho sản xuất Noõng nghieọp.
Nhu cầu về vật tư và thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn đang gia tăng mạnh mẽ, với sự biến động về số lượng và sự đa dạng về chủng loại Việc nâng cao chất lượng và khả năng cung ứng các sản phẩm này là rất cần thiết để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.
Dự báo nhu cầu tại các cơ sở cung ứng vật tư và thiết bị là rất quan trọng, với 52 trình độ khác nhau được áp dụng Dựa trên những dự báo này, các cơ sở có thể xây dựng kế hoạch sản xuất trong nước và kế hoạch nhập khẩu hiệu quả hơn.
Giá bán vật tư được xác định dựa trên mối quan hệ cung – cầu trên thị trường Khi giá cả có sự biến động và thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa sản xuất, Nhà nước cần thiết phải quy định mức giá và cung cấp trợ giá cho nông dân.
Trợ giá vật tư được thực hiện thông qua việc không thu phí vận chuyển, chi phí bảo quản, hoặc bù giá cho noâng daân.
Xây dựng một hệ thống phân phối vật tư hợp lý bao gồm các đại lý cấp I, II và III Đại lý cấp I có nhiệm vụ mua vật tư và bán lại cho đại lý cấp II, các vựa nhỏ hơn hoặc bán trực tiếp cho nông dân Đại lý cấp II chủ yếu phân phối cho các vựa nhỏ và nông dân Đại lý cấp III nhận hàng trước, trả tiền sau và có thể bán chịu cho nông dân với lãi suất từ 2 đến 3% mỗi tháng.
Các công ty lớn có thể kết nạp các đại lý vào bộ phận của mình và trả hoa hồng dựa trên số lượng giao dịch thực hiện Để hỗ trợ các doanh nghiệp này trong trường hợp khó khăn, thành phố cần cung cấp hỗ trợ về vay tín dụng và thuế.
Tổ chức hệ thống dịch vụ sản xuất nông nghiệp bao gồm việc xây dựng các cơ sở như trạm thủy nông, trạm cung cấp điện, trạm cơ khí sửa chữa, cơ sở chế biến phân bón và thức ăn gia súc, cùng với trạm bảo vệ thực vật Các dịch vụ này hoạt động dựa trên hợp đồng với nông dân, nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất Nhà nước cần hỗ trợ các cơ sở dịch vụ này thông qua các chính sách về tín dụng, thuế và trợ giá, đặc biệt trong trường hợp giá dịch vụ biến động, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững cho nông nghiệp.
Các giải pháp đảm bảo “đầu ra” cho sản xuất Noõng nghieọp
Các cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp cần cải thiện khả năng dự báo nhu cầu nông sản để xác định đúng sản phẩm cần sản xuất về quy mô, chất lượng và tốc độ phát triển Cần thiết lập hệ thống thông tin thị trường để cung cấp dữ liệu về giá cả, nhu cầu và sở thích của khách hàng trong và ngoài nước, thông qua các phương tiện truyền thông như đài, báo và tạp chí Để có dự báo chính xác, cần thành lập các trung tâm chuyên ngành thu thập và xử lý thông tin từ nhiều nguồn, tổng hợp thành các báo cáo, bảng biểu và đồ thị hữu ích Nguồn kinh phí cho các trung tâm này có thể được đóng góp định kỳ từ các thành viên hoặc thông qua thu phí dịch vụ.
Tổ chức thu mua nông sản của nông dân bao gồm các doanh nghiệp, chủ vựa tư thương và một số nông dân tham gia mua bán trong thời gian nông nhàn.
Để bảo vệ nông sản, cần thực hiện cơ chế chính sách giá bảo hộ, thiết lập mức giá tối thiểu và lập quỹ bình ổn giá nhằm hỗ trợ trực tiếp cho nông dân thông qua Kho Bạc Nhà nước Nông dân có thể cầm phiếu bán nông sản đến kho bạc để nhận thanh toán Đồng thời, ngân hàng cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp vay vốn với lãi suất ưu đãi trong thời gian chính vụ thu hoạch, giúp thu mua toàn bộ nông sản từ nông dân.
Doanh nghiệp và thành phố cần chủ động tìm kiếm thị trường, đặc biệt là tổ chức bộ phận nghiên cứu thị trường để thu thập và phân tích thông tin Trong nước, cần tập trung vào nhu cầu của thị trường Đông Nam Bộ, đồng thời mở rộng ra Tây Nguyên, Duyên Hải, miền Trung và miền Bắc, nơi có nhu cầu cao về lương thực thực phẩm Đối với thị trường quốc tế, Mỹ được xem là một thị trường tiềm năng nhưng khó tính, yêu cầu chất lượng sản phẩm cao Doanh nghiệp cần chú ý đến khoảng cách vận chuyển và sự cạnh tranh gay gắt, nhưng bù lại, giá bán có thể rất hấp dẫn.
Thị trường EC là một thị trường tiêu thụ nông sản phong phú và đa dạng, nổi bật với việc cung cấp các sản phẩm chế biến chất lượng cao.
Thị trường Nhật Bản đòi hỏi chất lượng hàng hóa cao, cạnh tranh gay gắt.
Thị trường Trung Quốc, với dân số đông nhất thế giới, có đặc điểm là yêu cầu chất lượng sản phẩm không quá khắt khe Việc giáp ranh với Việt Nam qua đường bộ và đường biển tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương, đặc biệt là qua các kênh xuất khẩu tiểu ngạch Tuy nhiên, các doanh nghiệp cần lưu ý rằng rủi ro trong thanh toán có thể cao.
Thị trường các nước NIC’s là thị trường nhập khẩu nông sản lớn, nhưng chủ yếu tái chế rồi xuất hay chuyển khẩu qua nước khác.
Thị trường Đông Aâu và SNG là thị trường truyền thống, yêu cầu chất lượng khá cao nhưng vẫn thấp hơn so với các nước EC và Mỹ Nhật.
Thành phố hỗ trợ doanh nghiệp bằng cách thiết lập mối quan hệ cấp Nhà nước với các tỉnh, nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ quốc tế Cần phối hợp chặt chẽ với các tham tán kinh tế tại Sứ quán để giúp doanh nghiệp nghiên cứu thị trường nước ngoài và tìm kiếm cơ hội liên doanh với các công ty quốc tế.
Nhu cầu của nền kinh tế rất phong phú với nhiều loại sản phẩm khác nhau, do đó, thành phố cần phát triển các chính sách xâm nhập thị trường phù hợp cho từng loại thị trường Điều này bao gồm việc xác định chiến lược về sản phẩm, giá cả, kênh phân phối, phương thức phân phối, cũng như các hoạt động khuyến mại và quảng cáo.
Để thúc đẩy xuất khẩu, cần nghiên cứu thành lập công ty bảo hiểm tín dụng xuất khẩu nhằm bảo vệ các trường hợp bán chịu và trả chậm theo yêu cầu của khách hàng Đồng thời, cần xem xét cơ chế bảo lãnh thanh toán hàng xuất khẩu đối với các thị trường có nhiều rủi ro như Nga, Đông Âu và Châu Phi, nơi có tiềm năng lớn nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Việc thực hiện cơ chế này sẽ giúp giảm bớt rủi ro cho các cơ sở xuất khẩu.
Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 53
Tăng cường thông tin đại chúng là cần thiết để cung cấp cho nhân dân những kiến thức về kinh tế, khoa học kỹ thuật và thương mại, giúp họ nâng cao trình độ và đáp ứng yêu cầu công việc Để phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp, cần điều chỉnh cơ cấu tuyển sinh vào các trường dạy nghề, trung cấp, cao đẳng và đại học liên quan đến nông-lâm-ngư nghiệp, đồng thời triển khai chính sách học bổng đảm bảo việc làm nhằm thu hút thanh niên tham gia học tập phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Ngoài ra, cần đa dạng hóa các hình thức đào tạo, bao gồm đào tạo dài hạn tại các trường và đào tạo ngắn hạn tại nông, lâm trường, hợp tác xã, và các trang trại thông qua các lớp tập huấn kỹ thuật - công nghệ và chuyển giao nghề cho nông dân.
Hiện nay, thu nhập bình quân của người sản xuất nông nghiệp và các cộng tác viên trong ngành này vẫn thấp hơn so với các lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ Điều kiện làm việc của cán bộ khoa học kỹ thuật trong ngành nông nghiệp còn nhiều khó khăn, với cơ sở vật chất hạn chế và phương tiện thông tin chưa phổ biến ở các vùng nông thôn.
Cần thiết phải xây dựng chính sách đãi ngộ hấp dẫn cho các nhà quản lý xuất sắc và các cán bộ chuyên gia khoa học kỹ thuật, bao gồm cả nhân viên làm việc theo hợp đồng có thời hạn và không thời hạn Chính sách này nên bao gồm ưu đãi về nhà ở và đất ở (cấp phát hoặc cho thuê với giá ưu đãi), đồng thời tạo điều kiện thuận lợi về phương tiện làm việc, đi lại, và phụ cấp lương để thu hút và giữ chân nhân tài.
Cần thiết phải xác định cơ chế tiền lương linh hoạt cho cán bộ KHKT trong ngành Nông nghiệp làm việc tại các vùng khó khăn như Cần Giờ và Nhà Bè Cơ chế này nên gắn kết kết quả sản xuất thực tế của các hộ nông dân với thu nhập của cán bộ KHKT được phân công theo dõi, từ đó tạo ra trách nhiệm đối với thành quả lao động Điều này sẽ giúp nâng cao kiến thức thực tế của cán bộ KHKT và cải thiện chất lượng công việc của họ.
Trong quá trình phát triển nông nghiệp và nông thôn hiện nay, những vấn đề chủ yếu cần giải quyết bao gồm vốn, khoa học kỹ thuật và thị trường tiêu thụ Do đó, cần có các kiến nghị cụ thể nhằm cải thiện tình hình này.
Nhà nước cam kết tiêu thụ toàn bộ nông sản của nông dân thông qua việc triển khai các quy định bảo hiểm sản xuất nông nghiệp Đồng thời, thực hiện quỹ bình ổn giá và khuyến khích sản xuất nông sản sạch, cũng như phát triển các sản phẩm tinh tế và xuất khẩu nông sản chế biến.
Để thúc đẩy đầu tư và mở rộng sản xuất ở ngoại thành, cần thể chế hóa các chính sách tạo vốn và thu hút vốn từ các thành phần kinh tế Việc mở rộng các hình thức vay vốn và tăng cường tín dụng trung dài hạn với lãi suất hợp lý sẽ khuyến khích đầu tư vào cơ giới hóa, cải tiến quy trình sản xuất, đổi mới công nghệ và cải tạo đồng ruộng.
Tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng nông thôn là cần thiết để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Đặc biệt, cần ưu tiên cho các công trình thủy lợi kết hợp với giao thông, nhất là tại hai huyện Cần Giờ và Nhà Bè.
Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Nông thôn cần điều chỉnh lãi suất hợp lý và có thể áp dụng chính sách ưu đãi, kéo dài thời gian cho vay ngắn hạn Đồng thời, mở rộng đối tượng cho vay trung hạn nhằm hỗ trợ người nông dân trong việc đầu tư thâm canh, cải tạo ruộng đồng, xây dựng hệ thống thủy lợi nhỏ, lắp đặt sân phơi, và mua sắm máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Cần sớm thông qua quy hoạch chi tiết cho các khu vực đô thị hóa và các quận huyện ngoại thành nhằm ổn định diện tích sản xuất nông nghiệp Đồng thời, cần điều chỉnh quy hoạch phát triển nông lâm ngư nghiệp và quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nông dân cần được hoàn thành nhanh chóng Ngoài ra, cần quản lý, cập nhật và giám sát chặt chẽ việc sang nhượng và chuyển quyền sử dụng đất, nhằm tối ưu hóa việc sử dụng và phát huy hiệu quả đất đai.
Cơ sở này sẽ giúp xây dựng các dự án và chương trình kinh tế cụ thể nhằm phát triển cây trồng và vật nuôi, phù hợp với từng vùng và điều kiện kinh tế chung của toàn thành phố.
Để thúc đẩy sự phát triển kinh tế nông nghiệp, cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc xã hội hóa và hiện đại hóa sản xuất, kinh doanh Mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết và hợp tác nhằm huy động vốn và công nghệ cho nông nghiệp ở khu vực nông thôn ngoại thành Đồng thời, cần chú trọng đầu tư vào giáo dục và dạy nghề tại nông thôn, tăng cường vốn cho chương trình xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm, từ đó phát triển đa dạng ngành nghề tại khu vực này.
- Xây dựng mới trung tâm kiểm định giống của Thành phố Khi đi vào hoạt động sẽ theo nguyên tắc hoạt động sự nghiệp có thu.
Chỉ đạo phát triển các mô hình mẫu kết hợp giữa cây ăn trái và du lịch là cần thiết, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành Nông nghiệp và ngành Du lịch của thành phố.
- Nghiên cứu chính sách và chương trình cổ phần hóa các nhà máy sản xuất chế biến để người chăn nuôi có thể trực tiếp mua cổ phần.
- Khuyến khích và miễn giảm thuế Nông nghiệp.
- Di dời và phát triển các cơ sở phục vụ Nông nghiệp ra ngoại thành, nhất là công nghiệp chế biến nông lâm thủy hải sản.