Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về công tác khai thác và phát triển bền vững đã có nhiều công trình nghiên cứu trong làng nghề
Làng nghề gốm Bát Tràng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, nhấn mạnh giá trị văn hóa và kinh tế - xã hội của nó đối với Việt Nam Thông tin về Bát Tràng dễ dàng tìm thấy trên các phương tiện truyền thông, internet và báo chí Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào sự phát triển của làng nghề, quy trình sản xuất gốm sứ và hoạt động du lịch tại đây.
Cuốn sách "Gốm Bát Tràng thế kỷ XIV-XIX" do Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu Việt Nam và Bảo Tàng lịch sử Việt Nam phối hợp biên soạn, với sự đóng góp của GS Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến và Nguyễn Quang Ngọc, cung cấp cái nhìn sâu sắc về làng gốm Bát Tràng Nội dung sách được chia thành hai phần: phần đầu giới thiệu lịch sử hình thành, quy trình sản xuất và đặc điểm của đồ gốm Bát Tràng, trong khi phần hai gồm 83 trang ảnh màu đen trắng cùng các bản vẽ hoa văn tiêu biểu Ngoài ra, sách còn bao gồm bản đồ xã Bát Tràng và phụ lục về hoạt động buôn bán gốm ở Đông Nam Á của Kerry Nguyen Long.
Tiếp theo phải kể đến cuốn sách do tác giả Sylvie Fanchette và Nicholas Stedman thực hiện tự năm 2003 “Khám phá các làng nghề ở Việt Nam” Đây là
Cuốn cẩm nang này cung cấp thông tin chi tiết về các làng nghề Việt Nam và được xuất bản bằng ba thứ tiếng: Anh, Pháp và Việt Tác phẩm đã thu hút sự quan tâm của đông đảo độc giả.
Bài luận án “Nghệ thuật tạo hình và trang trí gốm Bát Tràng ngày nay” của Nguyễn Mỹ Thanh (2010) cung cấp cái nhìn tổng quan về nghề gốm Bát Tràng, phân tích hệ thống nghệ thuật tạo hình và bố trí sản phẩm gốm hiện tại Nghiên cứu này cũng chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi trong nghề gốm và đề xuất các kiến nghị nhằm phát triển bền vững cho gốm Bát Tràng, tập trung vào nghiên cứu tạo hình và cách trang trí của sản phẩm gốm.
Công trình nghiên cứu "Gốm cổ Việt Nam trong 1.000 năm đầu tiên của thời đại chúng ta" đã được Hội hữu nghị Pháp-Việt (AAFV) trao Giải thưởng lớn
Vào ngày 23/1 tại Paris, lễ trao giải "Tài năng trẻ" đã tôn vinh luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Béatrice Wisniewski từ trường Đại học Paris - Sorbonne, chuyên ngành khảo cổ học Công trình nghiên cứu của cô về gốm cổ Việt Nam đã được đánh giá cao, không chỉ nâng cao hiểu biết về Việt Nam mà còn quảng bá sự phát triển của văn hóa Việt Nam qua các thời kỳ ra thế giới.
Ngoài ra, nhiều bài viết đã được công bố trên các tạp chí và báo chí, cũng như trong các hội thảo và họp báo cả trong và ngoài nước Một ví dụ điển hình là bài viết của tác giả Cao Khương về “Làng gốm cổ truyền Bát Tràng” được đăng trên Tạp chí Thương mại số vào năm 2005.
Gốm cổ Việt Nam, đặc biệt là gốm Bát Tràng, đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu và tạp chí, như trong tập san nghiên cứu năm 2002 trang 274 Sự phong phú của các tài liệu này chứng tỏ tầm quan trọng và giá trị văn hóa của gốm Bát Tràng trong lịch sử nghệ thuật gốm sứ Việt Nam.
Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn 1102, Nguyễn Văn Lực, nhấn mạnh rằng việc xây dựng và quảng bá thương hiệu gốm sứ Bát Tràng không chỉ là mục tiêu mà còn là giải pháp tạo ra giá trị thương hiệu Sản phẩm được chế tác bởi các nghệ nhân theo phương pháp thủ công truyền thống, mang đậm giá trị văn hóa và tinh thần Việt Nam, và được sản xuất theo đơn đặt hàng với số lượng hạn chế Toàn bộ quá trình sản xuất được minh bạch hóa thông qua việc cấp chứng nhận tiểu sử cho từng sản phẩm, đảm bảo không có phiên bản sao chép xuất hiện.
Nghề gốm có một lịch sử lâu đời và đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và văn hóa dân tộc Việt Nam Mặc dù nhiều cuốn sách và bài viết đã đề cập đến nghệ thuật gốm Việt Nam, đặc biệt là làng gốm Bát Tràng, nhưng chưa có tài liệu nào đi sâu vào vấn đề phát triển bền vững Hầu hết các tài liệu này chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về lịch sử và đặc điểm của gốm truyền thống mà không phản ánh những tiến bộ và sáng tạo hiện nay trong nghề gốm Bát Tràng Do đó, nhóm nghiên cứu của chúng tôi quyết định triển khai đề tài “Khai thác và phát triển bền vững trong hoạt động làng nghề truyền thống Gốm sứ tại Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội” nhằm làm rõ hơn những định hướng phát triển bền vững của nghề gốm trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát và phân tích thực trạng hoạt động khai thác và phát triển bền vững làng nghề truyền thống Gốm, sứ Bát Tràng tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả và tiềm năng phát triển của làng nghề, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững, góp phần nâng cao giá trị văn hóa và kinh tế cho cộng đồng.
Để nâng cao hiệu quả khai thác và phát triển bền vững làng nghề gốm sứ Bát Tràng, cần đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, đồng thời bảo vệ và phát triển làng nghề truyền thống gốm sứ Bát Tràng.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, nhóm nghiên cứu tập trung vào những nhiệm vụ chủ yếu sau
- Tìm hiểu cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn về hoạt động phát triển làng nghề truyền thống
- Nhận diện các giá trị văn hóa làng nghề truyền thống gốm sứ Bát Tràng
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động bảo tồn và phát triển bền vững làng nghề Gốm sứ Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội
- Đề xuất giải pháp khai thác phát triển bền vững làng nghề gốm sứ Bát
Tràng, huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu : Khảo sát hoạt động khai thác và phát triển bền vững làng nghề truyền thống gốm Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố
- Phạm vi không gian: Làng nghề truyền thống gốm Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội là không gian văn hóa nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2017-2021
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu hoạt động khai thác và phát triển bền vững làng nghề gốm sứ Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu các biện pháp phát triển bền vững cho làng nghề Gốm Bát Tràng tại Gia Lâm, Hà Nội Để đạt được mục tiêu này, nhóm đã áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm đánh giá và đề xuất các giải pháp hiệu quả cho sự phát triển bền vững của làng nghề.
Nhóm nghiên cứu đã áp dụng các phương pháp phỏng vấn, điều tra và khảo sát để thu thập ý kiến từ các Nghệ nhân làng nghề gốm và những chuyên gia nghiên cứu về gốm tại Bát Tràng Những phương pháp này đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện đề tài nghiên cứu.
Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu là yếu tố quan trọng trong nghiên cứu khoa học Nhóm nghiên cứu có thể thu thập tài liệu từ các nguồn như tạp chí và báo cáo thống kê của làng nghề qua các năm Sau khi lựa chọn và nghiên cứu thông tin, nhóm sẽ tiến hành xử lý dữ liệu để đưa ra những kết luận chính xác về đề tài nghiên cứu.
Phương pháp phân tích, tổng hợp và thống kê được áp dụng để nghiên cứu tài liệu và thông tin thu thập từ khảo sát thực tế tại làng Gốm Bát Tràng Với lượng thông tin phong phú và đa dạng, việc phân tích tỉ mỉ và tổng hợp là cần thiết để đưa ra những nhận định và giải pháp cho công tác phát triển bền vững tại Làng Gốm Bát Tràng.
Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, bố cục nội dung của đề tài được chia làm 3 chương:
Chương 1 trình bày cơ sở khoa học về việc khai thác và phát triển bền vững các làng truyền thống, đồng thời giới thiệu khái quát về gốm sứ Bát Tràng, một sản phẩm nổi bật của huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội Gốm sứ Bát Tràng không chỉ mang giá trị văn hóa mà còn là biểu tượng của nghệ thuật thủ công truyền thống Việt Nam Việc phát triển bền vững làng nghề gốm sứ cần được chú trọng nhằm bảo tồn di sản văn hóa và nâng cao đời sống của người dân địa phương.
Chương 2: Thực trạng khai thác và phát triển bền vững làng nghề truyền thống gốm sứ Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác khai thác và phát triển bền vững làng nhề truyền thống gốm sứ Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KHAI THÁC VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG TRUYỀN THỐNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ LÀNG GỐM SỨ BÁT TRÀNG, HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Cơ sở lý luận
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm làng nghề và làng nghề truyền thống
*Khái niệm về làng nghề:
Theo giáo sư Trần Quốc Vượng, làng nghề không chỉ duy trì hoạt động nông nghiệp truyền thống mà còn phát triển các nghề phụ như đan lát, gốm sứ và làm tương Trong đó, một nghề cổ truyền nổi bật với đội ngũ thợ thủ công chuyên nghiệp, có tổ chức rõ ràng và quy trình công nghệ nhất định Những sản phẩm thủ công này không chỉ có giá trị mỹ nghệ mà còn đáp ứng nhu cầu thị trường, từ vùng lân cận đến đô thị, và hướng tới xuất khẩu ra nước ngoài.
Trong cuốn “Làng nghề truyền thống Việt Nam”, Tiến sĩ Phạm Côn Sơn định nghĩa làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa, nơi có sự quần cư đông người và sinh hoạt có tổ chức với kỉ cương tập quán riêng Làng nghề không chỉ là nơi chuyên môn hóa trong nghề nghiệp mà còn là cộng đồng cùng nghề sống hợp tác để phát triển kinh tế Cơ sở vững chắc của các làng nghề bao gồm hoạt động làm ăn tập thể, phát triển kinh tế và bảo tồn bản sắc dân tộc cùng những đặc trưng riêng của địa phương.
Theo Tiến sĩ Dương Bá Phượng, làng nghề được định nghĩa là những làng ở nông thôn có một hoặc nhiều nghề thủ công hoạt động độc lập, tách biệt khỏi ngành thủ công nghiệp Giá trị kinh tế từ các làng nghề này đóng góp một phần lớn vào tổng giá trị của toàn bộ làng.
Làng nghề truyền thống ở Việt Nam là những cộng đồng nông thôn nơi người dân không chỉ làm nông nghiệp mà còn phát triển các nghề thủ công đặc trưng Những sản phẩm nổi tiếng từ các làng nghề như gốm Bát Tràng đã trở thành biểu tượng quen thuộc trong tâm trí người dân Hiện nay, có nhiều định nghĩa và tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá giá trị của các làng nghề truyền thống, phản ánh sự phong phú và đa dạng của văn hóa Việt Nam.
Làng nghề truyền thống là nơi sản xuất các sản phẩm độc đáo, do những nghệ nhân và hộ gia đình có kinh nghiệm lâu năm thực hiện Tại đây, sản phẩm được tiêu thụ qua các hình thức phường hội, doanh nghiệp vừa và nhỏ, và bán lẻ, với sự tuân thủ các hương ước đã được hình thành từ lâu Đặc trưng của làng nghề truyền thống là sự tham gia của đông đảo cư dân, với nghề nghiệp thường được truyền từ cha sang con Sản phẩm của họ không chỉ đẹp mắt, tinh xảo mà còn có tính ứng dụng cao trong đời sống hàng ngày.
1.1.1.2 Khái niệm khai thác và khai thác làng nghề
Khai thác là hoạt động phát hiện và sử dụng những tài nguyên hữu ích còn ẩn dấu, chưa được khai thác Theo từ điển tiếng Việt, khái niệm này có ba nhóm nghĩa, và trong nghiên cứu này, nhóm tác giả tập trung vào nhóm nghĩa thứ hai.
Khai thác và phát triển làng nghề là hoạt động nhằm phát hiện và sử dụng những giá trị đặc trưng của làng nghề để thúc đẩy kinh tế, văn hóa xã hội, từ đó nâng cao chất lượng sống của người dân trong cộng đồng.
1.1.1.3 Khái niệm phát triển và phát triển bền vững
Các nguyên tắc này tập trung vào tầm nhìn bền vững về xã hội loài người và cách thức mà con người khai thác tài nguyên thiên nhiên của hành tinh.
Phát triển bền vững được định nghĩa là quá trình đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai, theo Báo cáo Brunđtlan 1987.
Phát triển bền vững được định nghĩa là quá trình tạo ra dòng chảy liên tục các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường.
Phát triển bền vững là khái niệm liên quan đến việc cải thiện chất lượng cuộc sống của con người trong giới hạn của các hệ sinh thái Một nền kinh tế bền vững cần duy trì tài nguyên thiên nhiên và phát triển thông qua việc nâng cao nhận thức, cải thiện tổ chức, tăng cường hiệu suất kỹ thuật và đảm bảo công bằng xã hội.
1.1.2 Tiêu chí phát triển làng nghề bền vững
1.1.2.1 Tiêu chí con người Để có thể phát triển làng nghề nói chung và bất cứ vấn đề khác nói riêng thì tiêu chí về con người là cốt lõi và quan trọng nhất Các làng nghề đều cần có nguồn nhân lực đủ tài giỏi để đáp ứng được chất lượng cũng như số lượng của sản phẩm cần cung cấp cho nhu cầu sử dụng của con người
Phát triển bền vững cần gắn liền với bảo vệ môi trường, đặc biệt là tại các làng nghề ở Việt Nam, nơi hạ tầng như cống rãnh thoát nước chưa đảm bảo, dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Hiến pháp 2013 khẳng định quyền sống trong môi trường trong lành và nghĩa vụ bảo vệ môi trường của mọi người, vì vậy, bảo vệ môi trường tại các làng nghề truyền thống là trách nhiệm chung của cộng đồng Mọi người cần tôn trọng và ý thức về tài nguyên môi trường để đạt được sự phát triển bền vững Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm tại các làng nghề hiện nay đang ở mức báo động, ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân.
1.1.2.3 Tiêu chí kinh tế Để phát triển bền vững thì tiêu chí kinh tế là tiêu chí cũng vô cùng quan trọng, vì kinh tế chính là sự biểu hiện rõ rệt nhất cho việc làng nghề đó có phát triển bền vững hay không Kinh tế làng nghề không chỉ giúp người dân có thể duy trì, tiếp bước truyền thống nghề từ đời cha ông mà còn góp phần vào để phát triển xã hội, góp phần thay đổi diện mạo cho làng quê Việt Nam
1.1.3 Vai trò của việc khai thác và phát triển bền vững làng nghề truyền thống
1.1.3.1 Vai trò phát triển kinh tế - xã hội Đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của các làng nghề nói riêng và Việt Nam nói chung thì làng nghề đóng góp vai trò đặc biệt quan trọng
Cơ sở pháp lý
Vai trò và tầm quan trọng của việc khai thác và phát triển bền vững làng nghề truyền thống trong xây dựng và phát triển đất nước đã được Đảng và các cơ quan có thẩm quyền chú trọng Từ khóa “Phát triển bền vững” đã trở thành đề tài thảo luận và là cơ sở để ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, quy định rõ các điều kiện và quy trình phát triển bền vững Những văn bản này nhằm hướng dẫn các cơ quan, tổ chức và cá nhân thực hiện đúng theo các quy định đã đề ra.
Quyết định 153/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày
Vào ngày 17 tháng 8 năm 2004, Việt Nam đã ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững thông qua Chương trình nghị sự 21, nêu rõ các thành tựu đạt được trong nhiều năm qua Quyết định này cũng đánh giá những ưu và nhược điểm trong việc áp dụng phát triển bền vững ở nhiều lĩnh vực xã hội Từ đó, Việt Nam đã đưa ra những phương hướng cụ thể nhằm phấn đấu thực hiện phát triển bền vững qua từng giai đoạn.
Hội đồng PTBV quốc gia được thành lập theo quyết định số 1032/QĐ/TTg ngày 27/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ, với Văn phòng PTBV trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Văn phòng 21).
Thông tư số 01/2005/TT-BKH ngày 09/3/2005 của Bộ KH&ĐT hướng dẫn triển khai Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Định hướng chiến lược phát triển bền vững (PTBV) tại Việt Nam Bên cạnh đó, Quyết định số 248/QĐ-TTg ngày 24/2/2009 của Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Hội đồng PTBV Quốc gia, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.
Quyết định 622/QĐ-TTg, được Thủ tướng Chính phủ ban hành vào ngày 10 tháng 5 năm 2017, đã thiết lập kế hoạch hành động quốc gia nhằm thực hiện chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững Quyết định này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy các mục tiêu phát triển bền vững tại Việt Nam, đồng thời kêu gọi sự tham gia của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc triển khai các giải pháp cụ thể để đạt được các mục tiêu đề ra.
Chỉ thị số 13/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 20 tháng 5 năm 2019 về Phát triển bền vững
Nghị quyết số 136/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 25 tháng 9 năm
2020 về Phát triển bền vững
Luật số: 72/2020/QH14 của Quốc hội về Bảo vệ môi trường
Chỉ thị số 08/CT-BCN ngày 10/7/2007 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng sản xuất sạch hơn trong các cơ sở công nghiệp Chỉ thị này yêu cầu các tập đoàn, tổng công ty và doanh nghiệp công nghiệp tiến hành nghiên cứu, phổ biến và áp dụng các phương pháp sản xuất thân thiện với môi trường nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ môi trường.
Khái quát về làng nghề gốm sứ Bát tràng
Xã Bát Tràng, thuộc huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, nằm bên tả ngạn sông Hồng Phía Bắc giáp xã Đông Dư, phía Đông giáp xã Gia Tốn, phía Nam giáp xã Đông Quan thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, và phía Tây giáp sông Hồng cùng huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội.
1.3.2 Lịch sử hình thành và phát triển
Làng gốm Bát Tràng, nổi tiếng với nghề gốm truyền thống, có lịch sử hình thành từ khoảng thế kỷ XIV – XV, theo ghi chép trong sử sách.
Dư địa chí của Nguyễn Trãi ghi nhận rằng Làng Bát Tràng nổi tiếng với nghề làm đồ gốm, đặc biệt là chén bát Làng Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, trong khi Huê Cầu thuộc huyện Văn Giang, cả hai làng này đều cung cấp hàng hóa cho Trung Quốc, bao gồm 70 bộ bát đĩa và 200 tấm vải thâm.
Theo truyền thuyết, lịch sử làng gốm Bát Tràng bắt nguồn từ thời kỳ trước khi có ghi chép trong sử sách Ba vị thái học sinh trong chuyến đi sứ Bắc Tống đã học hỏi kỹ thuật làm gốm từ người dân địa phương và mang những bí quyết này về truyền lại cho người dân Việt Nam.
Gia phả của nhiều dòng họ tại Bát Tràng ghi lại những dấu ấn lịch sử quan trọng về sự hình thành làng nghề gốm sứ, cùng với sự xuất hiện của các sản phẩm gốm sứ trong đời sống người dân với đa dạng hoa văn và màu men Những thông tin này đã được các nhà khảo cổ hiện đại xác nhận thông qua các lớp đất nung và mảnh gốm được tìm thấy ở các vùng như Thanh Hóa và Ninh Bình.
Dựa trên sổ sách cổ sử, truyền thuyết và các cổ vật khai thác từ sông Bắc Hưng Hải tại thôn Bát Tràng cùng với di tích khảo cổ Mán Bạc ở Ninh Bình, có thể khẳng định rằng Bát Tràng và Giang Cao đã hình thành từ rất lâu đời.
Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư, Ninh Bình) về Thăng Long
Hà Nội, với vai trò là trung tâm kinh tế và văn hóa của cả nước, đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ trong xây dựng thành quách, cung điện và đền đài, dẫn đến nhu cầu lớn về nguyên vật liệu và thợ thủ công từ các vùng lân cận Khu vực Bát Tràng nhanh chóng hình thành và phát triển nhờ vào điều này Theo ghi chép, dòng họ Nguyễn Ninh Tràng từ Ninh Bình đã lập nghiệp tại vùng đất hoang ven sông Hồng, nơi có 72 gò đất sét trắng, nguyên liệu chủ yếu cho sản xuất gạch và gốm Tộc phả họ Trần Đông Cục ghi nhận rằng tổ tiên họ Trần là một trong 12 thợ cả được vua giao nhiệm vụ sản xuất gạch xây thành ở kinh đô, sau đó mở rộng sang làm đồ gốm Phường Bạch Thổ ngày càng phát triển, thu hút nhiều dòng họ khác từ Bồ Bát đến lập làng xã, đặc biệt sôi nổi vào thời kỳ Trần (1226).
Vào cuối thế kỷ XIV, phường Bạch Thổ đã trở thành xã Bát Tràng, một trung tâm gốm sứ nổi tiếng trong thời kỳ Lê (1428-1527) và Lê Trung Hưng (1533-1789) Nơi đây được triều đình chọn để sản xuất và cung cấp các sản phẩm gốm cho cung đình và ngoại giao Nhiều hiện vật gốm cổ từ Bát Tràng vào thế kỷ XIV và XV hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam.
Trong suốt chiều dài lịch sử, địa giới hành chính và tên gọi xã Bát Tràng đã trải qua nhiều biến đổi Từ thời kỳ cổ đại, Bát Tràng thuộc họ Vũ Ninh, sau đó trở thành một phần của đạo Bắc Giang dưới triều đại Đinh, lộ Bắc Giang thời Tiền Lê và Lý Đến thời Trần, Bát Tràng thuộc lộ Kinh Bắc, và trong thời kỳ thuộc Minh, xã này được quản lý dưới phủ Bắc Giang.
Từ năm 1482, Bát Tràng thuộc Bắc Đạo và vào năm 1466, đã nằm trong huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, thừa tuyên Kinh Bắc Đến năm 1490, Bát Tràng vẫn thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc Trong thời Bình Thuận (1509 – 1516), Bát Tràng tiếp tục thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, Trấn Bắc Kinh Thời Mạc (1527 – 1592), Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Hải Dương Từ năm 1593, triều đình Lê Trịnh đã đưa phủ Thuận An trở về thuộc trấn Kinh Bắc, xã Bát Tràng vẫn nằm trong huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc.
Từ năm 1802, khu vực xã Bát Tràng hiện nay thuộc huyện Gia Lâm, phủ
Từ Sơn, một trấn Kinh Bắc thuộc Bắc Thành, đã có sự phát triển đáng chú ý vào đầu thế kỷ XIX Khu vực xã Bát Tràng, bao gồm hai xã Đống Cao và Bát Tràng, nằm trong tổng Đông Dư và tổng Đa Tốn, đều thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận.
Từ năm 1862, phân phủ Thuận An được đổi tên thành phân phủ Thuận Thành Cùng thời gian này, xã Đống Cao cũng được đổi tên thành xã Giang Cao, thuộc tổng Đa Tốn, huyện Gia Lâm, phân phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Tháng 2-1948, ba làng: Giang Cao, Bát Tràng, Kim Quan (sau đổi tên thành Kim Lan) được hợp nhất thanh xã Quang Minh, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh Từ tháng 2-1949 đến tháng 11-1949, huyện Gia Lâm thuộc tỉnh Hưng Yên Theo Nghị định số 301/NĐ/CQTT của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày 9-4-
Năm 1957, xã Quang Minh thuộc huyện Gia Lâm được chia thành hai xã: xã Quang Minh (bao gồm làng Bát Tràng và làng Giang Cao) và xã Kim Lan (bao gồm phần địa giới làng Kim Quan cũ) Đến ngày 31-5-1961, huyện Gia Lâm trở thành huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội Xã Bát Tràng, thuộc huyện Gia Lâm, đã được đổi tên từ xã Quang Minh vào đầu năm 1965 và tên gọi cùng địa giới hành chính của xã Bát Tràng đã ổn định cho đến nay Hiện tại, xã Bát Tràng bao gồm hai làng: Bát Tràng và Giang Cao.
Trong chương 1, nhóm nghiên cứu đã trình bày các vấn đề cơ bản liên quan đến cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và tư liệu về gốm sứ Bát Tràng Những nội dung này tạo nền tảng cho việc tìm hiểu thực trạng phát triển bền vững trong hoạt động của làng nghề truyền thống gốm sứ Bát Tràng ở chương 2.
THỰC TRẠNG KHAI THÁC VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG GỐM SỨ BÁT TRÀNG,
Khái quát về sản phẩm gốm sứ Bát Tràng
Làng gốm Bát Tràng nổi tiếng với sự phong phú và đa dạng của sản phẩm, tạo nên một chợ gốm sứ nhộn nhịp với hàng trăm cửa hàng san sát nhau Tại đây, du khách có thể tìm thấy vô số sản phẩm như bình hoa, chén bát, chum vại, bình trà, tranh treo tường, chuông gió, và các món trang sức như vòng cổ, vòng tay, tất cả đều được làm từ chất liệu đất nung Trong số đó, gạch Bát Tràng nổi bật như một thương hiệu nổi tiếng, đã trở thành biểu tượng văn hóa và đi vào nhiều câu ca dao dân gian.
- “Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng
Vải tơ Nam Định, lụa hang Hà Đông”
- “Ước gì anh lấy được nàng Để anh mua gạch Bát Tràng về xây”
Gạch Bát Tràng nổi bật với kích thước và màu sắc đặc trưng, không thể nhầm lẫn với bất kỳ loại gạch nào khác trong cả nước Kích thước tiêu chuẩn của gạch là “30cm x 15cm” với độ dày từ “0,50m đến 0,70m” và thành gạch từ “5 đến 7cm” Nhờ vào quy trình nung nhiều lần, gạch Bát Tràng có tuổi thọ cao và khả năng chống rêu mốc, đảm bảo chất lượng cho các công trình xây dựng.
Gạch Bát Tràng vẫn được sử dụng rộng rãi trong các công trình kiến trúc nổi tiếng như Hoàng thành Thăng Long, Văn miếu Quốc Tử Giám, cùng với các đình, đền, chùa, miếu, hồ và giếng ở nhiều làng xã trên khắp Việt Nam Đặc biệt, gạch Bát Tràng xuất hiện nhiều nhất tại Kinh thành Huế và các lăng tẩm của vua nhà Nguyễn.
Từ năm 1805 đến 1832, trong quá trình xây dựng kinh thành Huế và các lăng tẩm cho các vua triều Nguyễn, dân làng Bát Tràng đã được huy động sản xuất gạch cho các công trình này Nhằm ghi nhận công lao của họ, vua Tự Đức (1847 – 1883) đã ban tặng cho dân làng Bát Tràng bốn chữ đại tự “Hiếu Nghĩa Cấp Công”, hiện vẫn được thờ tại Đình làng Bát Tràng.
Gốm Bát Tràng, cùng với gạch Bát Tràng, nổi tiếng trong nước và quốc tế với nhiều kiểu dáng, chủng loại và kích thước Các sản phẩm gốm được phân loại theo chức năng như đồ thờ cúng (lư hương, chân đèn, chân nến), đồ gia dụng (bát đĩa, ấm chén, vò, lọ, chậu) Gốm Bát Tràng được sản xuất thủ công trên bàn xoay, tạo ra xương gốm dày, và sau này phát triển thêm kỹ thuật in trên khuôn gỗ và đổ rót vào khuôn thạch cao Sản phẩm có dòng men cổ đặc trưng như men lam, nâu, rạn cùng các họa tiết trang trí hoa, lá, dây, chim muông Gốm cổ Bát Tràng được bảo tồn và trưng bày tại nhiều bảo tàng trong nước và quốc tế, được giới sưu tập đồ cổ ưa chuộng và có giá trị cao trên thị trường.
Nhiều thế hệ nghệ nhân gốm sứ truyền thống đã được vinh danh, bắt đầu từ thời kỳ Đông Dương Pháp thuộc với 5 nghệ nhân địa phương được phong danh hiệu "Nghệ nhân Đông Dương" Từ 1975 đến 1986, Hà Nội đã phong tặng danh hiệu cho 3 nghệ nhân gốm Bát Tràng Trong giai đoạn đổi mới, 8 thợ gốm Bát Tràng đã vinh dự nhận danh hiệu "Nghệ nhân Hà Nội" từ Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, và Hiệp hội làng nghề Việt Nam cũng đã trao tặng danh hiệu "Nghệ nhân Hà Nội" và "Nghệ nhân dân gian Việt Nam" cho 3 thợ gốm Đặc biệt, có một gia đình hai thế hệ cha con cùng được phong tặng danh hiệu "Nghệ nhân".
Hà Nội là nơi có một gia đình vinh dự nhận danh hiệu “Nghệ nhân”, trong đó làng Bát Tràng hiện có 108 nghệ nhân được nhà nước công nhận Nổi bật trong số đó là nghệ nhân Trần Văn Độ, người đã được công nhận là Nghệ nhân nhân dân và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố phong tặng vào năm 2016.
Tại Bát Tràng, có 4 Nghệ nhân ưu tú, 27 nghệ nhân đến từ Hà Nội và gần 100 nghệ nhân dân gian, thể hiện sự phong phú trong nghề thủ công Sản phẩm của các nghệ nhân và thợ giỏi tại đây đã vinh dự nhận nhiều giải thưởng danh giá như Bàn tay vàng mỹ thuật, Giải thưởng Ngôi sao Việt Nam tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, cùng với các bằng khen từ thành phố đến Trung ương và Giải thưởng Quả cầu vàng Festival Huế.
Xã Bát Tràng đã nỗ lực phát huy truyền thống gốm sứ của ông cha, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc xây dựng làng gốm thành một trong những làng kiểu mẫu của Việt Nam xã hội chủ nghĩa Với lịch sử hàng trăm năm, gốm sứ Bát Tràng đã phát triển mạnh mẽ, hiện có gần 100 công ty và hàng trăm hộ gia đình tham gia sản xuất, kinh doanh Sản phẩm gốm sứ Bát Tràng không chỉ chiếm lĩnh thị trường trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều quốc gia tại Châu Âu, Châu Mỹ, Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Các giá trị làng nghề truyền thống gốm sứ Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Thành Phố Hà Nội
Gốm sứ Bát Tràng là di sản văn hóa đặc sắc của Việt Nam, thể hiện bản sắc dân tộc qua các thế hệ Nghệ thuật làm gốm tại làng Bát Tràng không chỉ được gìn giữ mà còn cần được phát huy để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu của dân tộc Làng nghề truyền thống này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì tinh hoa văn hóa Việt Nam.
Nghệ thuật làm gốm Bát Tràng có nguồn gốc từ thời Lý, khi Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long Xuất phát từ hai địa danh Bồ Bát và Minh Tràng, các dòng họ gốm nổi tiếng như Trần, Vương, Lê, Phạm và Nguyễn đã di cư từ làng Bồ Bát và Minh Tràng về Thăng Long, mang theo nghệ nhân và thợ gốm để lập nghiệp Họ đã dừng chân tại vùng đất này, góp phần hình thành nên một trung tâm gốm sứ nổi tiếng.
Gốm Bát Tràng, có nguồn gốc từ 72 gò đất trắng làng Minh Tràng, đã tồn tại từ rất lâu và được coi là sản phẩm cao cấp, quý hiếm từ những thế kỷ trước Chỉ những gia đình bá hộ, thương gia hay vua chúa mới có khả năng sở hữu những sản phẩm gốm này, chủ yếu là đồ thờ như chân đèn, lư hương và bình hoa Dù trải qua nhiều thăng trầm trong lịch sử, gốm Bát Tràng vẫn duy trì và phát triển, trở nên tinh xảo hơn nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp truyền thống, phản ánh đậm nét văn hóa địa phương.
Sản phẩm gốm Bát Tràng không chỉ tái hiện diện mạo kinh tế Thăng Long - Hà Nội trong lịch sử mà còn thể hiện sự phát triển liên tục của vùng đất này Mỗi sản phẩm gốm sứ không chỉ phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày mà còn là những tác phẩm mỹ nghệ, phản ánh sự tiến bộ kinh tế, trình độ dân trí và đặc trưng văn hóa của dân tộc Việt Nam.
2.2.2 Giá trị sáng tạo nghệ thuật
Nghề gốm Bát Tràng, với giá trị văn hóa đặc sắc, đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 4610/QĐ-BVHTTDL ngày 20/12/2019.
Nghề gốm Bát Tràng là sự kết tinh của sáng tạo qua nhiều thế hệ, nơi nghệ nhân không chỉ áp dụng kỹ thuật truyền thống mà còn khám phá và sáng tạo để đáp ứng nhu cầu thị trường Sản phẩm gốm ở đây phản ánh sự đa dạng văn hóa của cộng đồng, mỗi nghệ nhân mang đến một nét độc đáo riêng Nghề gốm không chỉ lưu giữ các biểu tượng văn hóa và nước men truyền thống mà còn phát huy giá trị di sản của các thế hệ trước Sản phẩm gốm Bát Tràng thể hiện giá trị kỹ thuật và thẩm mỹ, góp phần gia tăng giá trị sản phẩm địa phương, tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân Hơn nữa, nghề gốm đã hình thành mạng lưới rộng lớn, kết nối những người làm nghề và xây dựng mối quan hệ kinh tế bền vững.
Nghệ thuật làm gốm của Bát Tràng đã được hình thành từ thời Lý, khi Lý
Công Uẩn đã quyết định dời đô về Thăng Long, dựa trên hai địa danh Bồ Bát và Minh Tràng Người dân truyền miệng về các dòng họ gốm nổi tiếng ở làng Bồ Bát xứ Thanh như họ Trần, Vương, Lê, Phạm và họ Nguyễn từ Minh Tràng Những dòng họ này đã đưa nghệ nhân, thợ gốm cùng gia đình di cư về Thăng Long để lập nghiệp Họ dừng chân tại vùng đất mới này.
Nghệ thuật làm gốm Bát Tràng, có nguồn gốc từ làng Minh Tràng, đã tồn tại từ lâu đời và từng được coi là hàng cao cấp, quý hiếm, chỉ dành cho những gia đình bá hộ, thương gia hay vua chúa Thời gian qua, gốm Bát Tràng đã trải qua nhiều thăng trầm nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp truyền thống, đồng thời phát triển tinh xảo hơn, phản ánh văn hóa và lịch sử dân tộc Hiện nay, với sự thay đổi trong thị hiếu và nhu cầu thị trường, gốm Bát Tràng đã trở nên gần gũi hơn trong đời sống hàng ngày của người dân, từ những món đồ như bát, đĩa, đến bình và lọ.
Gốm Bát Tràng không chỉ mang giá trị tinh thần dân tộc mà còn là những sản phẩm nghệ thuật đẹp và tinh tế Mỗi tác phẩm, qua bàn tay khéo léo của nghệ nhân, trở thành một tác phẩm hoàn hảo, mang nét đẹp độc đáo không thể so sánh Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách để duy trì và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của làng gốm Bát Tràng Du khách quốc tế khi đến Việt Nam thường rất yêu thích sản phẩm gốm Bát Tràng, họ thích tham quan và học làm gốm từ các nghệ nhân, và thường mua sản phẩm làm quà cho người thân sau chuyến đi.
Thương hiệu Bát Tràng đã vươn ra thị trường quốc tế, đặc biệt là châu Âu và châu Mỹ, nhờ vào chất liệu men đẹp và mẫu mã độc đáo Sản phẩm gốm sứ Bát Tràng xuất khẩu bao gồm các mặt hàng cao cấp như bát đĩa, ấm chén, đồ thờ và gốm sứ mỹ nghệ, tất cả đều được chọn lọc kỹ lưỡng và chăm chút từ khâu chọn đất đến sản phẩm hoàn thiện.
Sản phẩm gốm Bát Tràng nổi bật với sự đa dạng về dòng men, chủng loại, màu sắc và thiết kế Ngoài việc sản xuất hàng loạt, các nghệ nhân tài năng đã tạo ra nhiều sản phẩm gốm sứ độc đáo Gần đây, nhờ ứng dụng khoa học và cải tiến công nghệ, mẫu mã và chất lượng sản phẩm gốm Bát Tràng ngày càng được nâng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và tín ngưỡng của khách hàng trong nước, đồng thời chinh phục nhiều thị trường quốc tế.
Với sự khéo léo của các nghệ nhân dày dạn kinh nghiệm, đất sét vô tri được biến hóa thành những sản phẩm có hồn, mang ý nghĩa sâu sắc qua từng chi tiết tỉ mỉ Dưới bàn tay nghệ sĩ, người thưởng thức sẽ cảm nhận được không gian yên bình, khác xa với sự xô bồ của đô thị, nơi những giá trị văn hóa đặc trưng được tôn vinh Gốm Bát Tràng không chỉ là những sản phẩm gốm đẹp và tinh tế, mà còn chứa đựng giá trị nghệ thuật cao Mỗi tác phẩm là một kiệt tác độc đáo, không thể so sánh với bất kỳ nơi nào khác.
Kể từ năm 1990, nghề gốm Bát Tràng đã phát triển mạnh mẽ và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhờ vào việc chuyển đổi sang mô hình sản xuất hộ gia đình Việc chấp nhận cạnh tranh và mở rộng sản xuất cùng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước đã dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng trong sản xuất Nhờ đó, thu nhập của người dân được nâng cao, cải thiện rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần.
Tại Bát Tràng, thu nhập bình quân của người lao động trong ngành nghề đạt khoảng 1.200.000-1.400.000 đồng/tháng, cao gấp 3-4 lần so với lao động sản xuất nông nghiệp trước đây Sự gia tăng thu nhập này đã cải thiện đáng kể đời sống của người dân, cho phép họ đóng góp vào việc xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường học Đồng thời, các khu vui chơi giải trí và dịch vụ phục vụ đời sống cũng phát triển mạnh mẽ.
Các giá trị văn hóa làng nghề truyền thống gốm sứ Bát Tràng
2.3.1 Phong tục, tập quán, lễ hội gắn với làng nghề
Trong văn hóa làng nghề truyền thống, đặc biệt là làng gốm sứ Bát Tràng, có câu phương ngôn nổi tiếng: “Trai khôn lấy vợ cùng làng, Gái khôn kén bạn đồng sàng cùng quê” Đây là phong tục phổ biến trong các làng nghề thủ công ở vùng đồng bằng Sông Hồng, thể hiện sự gắn bó và truyền thống của cộng đồng.
Từ xưa, người dân Làng nghề Bát Tràng đã quy định rằng con gái không được gả cho người ngoài làng nhằm gìn giữ bí quyết nghề truyền thống Mặc dù phong tục này đã dần bị phá bỏ, trong tâm thức của người dân nơi đây vẫn mong muốn con trai, con gái kết hôn với người trong làng Phụ nữ Bát Tràng, với kỹ thuật cao trong việc tạo tác gốm, thường trở thành lao động chính, điều này khiến họ chỉ được phép kết hôn với người làng Những người đã rời bỏ làng để kết hôn với người ngoài thường phải từ bỏ nghề gốm Ngoài ra, Bát Tràng không sản xuất đồ cải táng vì quan niệm rằng con người khi chết sẽ trở về với đất mẹ.
Lễ hội Bát Tràng là một phong tục đẹp, thể hiện bản sắc văn hóa độc đáo của làng nghề này Được tổ chức hàng năm vào rằm tháng hai âm lịch, lễ hội không chỉ thu hút du khách mà còn giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống của cộng đồng.
Lễ hội Bát Tràng diễn ra vào ngày 14 và 15 tháng 2, mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc, nhắc nhở con cháu ghi nhớ công ơn tổ nghề và hướng về nguồn cội Đây cũng là dịp để người dân làng nghề cầu xin sự phù trợ từ các vị Thần hoàng, mong muốn đất nước bình an, thịnh vượng và làng nghề phát triển Lễ hội được chia thành hai phần: phần lễ và phần hội Trong phần lễ, có nghi thức rước nước và tắm bài vị cho các vị thành hoàng, diễn ra trang trọng với các lễ vật cầu kỳ như 4 mâm xôi, 6 mâm cỗ và 1 con trâu thui Sau khi các vị trưởng lão đọc bài khấn, lễ vật sẽ được chia cho mọi người trong làng như lộc Thánh Làng Bát Tràng hiện thờ 6 vị thành hoàng: Tràng Thuận Nghi Dung, Phan Đại Tướng, Cai Minh Đại Vương, Bạch Mã Đại Vương, Hồ Quốc Thần Đại Vương và Lưu Thiên Tử Đại Vương Sau phần lễ, phần hội diễn ra với nhiều trò chơi, nổi bật nhất là hát thờ và cờ người.
Phong tục, tập quán và lễ hội của làng nghề Gốm sứ Bát Tràng không chỉ thể hiện nét đẹp văn hóa đặc trưng mà còn làm phong phú thêm giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam.
2.3.2 Tri thức và kinh nghiệm trong sản xuất của làng nghề
Nghề gốm làng Bát Tràng là sự kết tinh sáng tạo qua nhiều thế hệ, nơi nghệ nhân không chỉ vận dụng kỹ thuật truyền thống mà còn khám phá, sáng tạo họa tiết và mẫu mã mới để đáp ứng nhu cầu thị trường hiện đại Nghề gốm không chỉ là đặc điểm văn hóa đặc trưng mà còn phản ánh sự đa dạng của cộng đồng cư dân tại làng Sản phẩm gốm Bát Tràng lưu giữ và phổ biến các biểu tượng văn hóa, đồng thời phát huy giá trị di sản của các thế hệ trước Với nguyên liệu chính là đất sét và cao lanh được khai thác tại địa phương, nghề gốm tạo ra những sản phẩm độc đáo, thể hiện giá trị kỹ thuật và thẩm mỹ của người thợ.
Sơn Tây, trong giai đoạn đầu, sử dụng lò ếch, lò cóc và lò dã chiến, sau đó chuyển sang lò bầu và lò đứng, với than cám từ Quảng Ninh là nguyên liệu chính Hiện nay, công nghệ sản xuất gốm đã áp dụng lò ga, lò điện và lò tuy - nen Quy trình sản xuất gốm Bát Tràng gồm 7 bước: xử lý và pha chế đất, tạo dáng, trang trí, phủ men và nung sản phẩm Đất được ngâm trong hệ thống bể chứa với các bể đánh, lắng, phơi và ủ Sau khi xử lý, đất có thể được pha chế thêm cao lanh hoặc điều chỉnh lượng cát Sản phẩm được tạo hình trên bàn xoay với các kỹ thuật như cắt, gọt, đắp nặn và đúc khuôn Tiếp theo là tu sửa sản phẩm, bao gồm cắt, gọt, chắp ghép và trang trí hoa văn Vào thế kỷ XIV - XV, kỹ thuật trang trí chủ yếu dừng lại ở khắc chìm và tô men nâu theo phong cách gốm hoa nâu thời Lý.
Trong thế kỷ XVI - XVIII, gốm Bát Tràng nổi bật với kỹ thuật chạm đắp nổi kết hợp vẽ hình rồng, phượng và các họa tiết thiên nhiên như mây, hoa, lá Nghệ nhân sử dụng bút lông để vẽ trực tiếp và áp dụng nhiều kỹ thuật như đánh chỉ, bôi men chảy màu, tạo nên những sản phẩm có đường nét màu sắc tự nhiên, hài hòa Ngày nay, bên cạnh kỹ thuật truyền thống, Bát Tràng cũng áp dụng kỹ thuật hấp hoa và in hình sẵn, tuy nhanh chóng nhưng thiếu tính sáng tạo Men gốm chủ yếu là men tro, từ đó, thợ gốm chế tạo ra 5 dòng men đặc trưng: men nâu, men lam, men rạn, men ngọc, và men trắng Những loại men này tạo ra nhiều sắc độ cho sản phẩm gốm sứ Kỹ thuật tráng men tại Bát Tràng rất độc đáo, bao gồm kìm men, quay men, và đúc men Công đoạn nung sản phẩm rất quan trọng, yêu cầu sự sắp xếp tỉ mỉ trong lò tùy thuộc vào hình dáng và kích thước sản phẩm, với nhiệt độ khác nhau cho từng loại lò Đốt lò là khâu quyết định thành công của sản phẩm gốm, và bí quyết làm chủ ngọn lửa là yếu tố then chốt.
Để tạo ra những sản phẩm độc đáo mang thương hiệu làng nghề gốm sứ Bát Tràng, người nghệ nhân phải nắm trong tay bí quyết làm nghề riêng qua mỗi công đoạn, bao gồm các kỹ thuật khác nhau Đồng thời, trong mỗi sản phẩm còn chứa đựng tâm hồn, tâm huyết và cả trí tuệ của người dân Bát Tràng, tạo nên giá trị đặc biệt và sự khác biệt của thương hiệu này.
2.3.3 Văn hóa tổ chức sản xuất của làng nghề
Người Bát Tràng có ý thức bảo vệ quyền lợi nghề nghiệp trong sản xuất gốm sứ, với quy trình sản xuất được phân công chuyên môn hóa Bí quyết nghề nghiệp được giữ kín, chỉ truyền cho nam giới trong gia đình Theo Hiệp hội gốm sứ Bát Tràng, 90% thanh niên nơi đây biết làm gốm, được đào tạo theo truyền thống “cha truyền con nối” Họ có học thức, sức khỏe và luôn sáng tạo trong thiết kế, đồng thời giữ gìn những nét văn hóa truyền thống Nhiều thanh niên sau khi tốt nghiệp đã trở về gắn bó với nghề truyền thống Dù không giàu, chủ nhân nghề gốm sứ Bát Tràng có cuộc sống ổn định và yên bình.
Người dân Bát Tràng luôn nỗ lực bảo tồn và truyền đạt kỹ năng nghề nghiệp, đồng thời thể hiện sự linh hoạt trong sản xuất và kinh doanh Họ tích cực phát huy giá trị di sản văn hóa địa phương thông qua nhiều hình thức đa dạng, thích ứng với nhịp sống hiện tại.
Thực trạng khai thác phát triển bền vững làng nghề truyền thống gốm sứ Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội
2.4.1 Chính sách phát triển làng nghề bền vững Gốm sứ Bát tràng 2.4.1.1 Chính sách của xã Bát Tràng từ năm 2010 -2020
Vào ngày 17-18/5/2010, Đảng Bộ Bát Tràng đã tổ chức đại hội đại biểu lần thứ XXI (nhiệm kỳ 2010-2015) nhằm đánh giá những thành công và hạn chế trong lãnh đạo, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho công tác lãnh đạo trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Các đại biểu đã thống nhất phương hướng, mục tiêu tổng quát đến năm 2015, bao gồm khai thác hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp, thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ du lịch, đồng thời bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống Mục tiêu cũng nhấn mạnh việc nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, giải quyết các vấn đề xã hội, giữ vững ổn định chính trị và an ninh quốc phòng, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ, cải thiện hiệu quả quản lý của chính quyền, và đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, nhằm xây dựng xã Bát Tràng ngày càng phát triển, dân chủ và văn minh.
Cụ thể, Đại hội đã đề ra những mục tiêu cụ thể đến năm 2015:
Phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nhiệm kỳ bình quân tăng 13%- 15% Bình quân thu nhập đầu người đạt 22 triệu/người/năm
Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng tăng trưởng mạnh mẽ trong ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và thương mại-dịch vụ Hiện tại, tỷ trọng thu nhập từ công nghiệp, tiểu thủ công và xây dựng chiếm 78,3%, trong khi thương mại dịch vụ đạt 21,5% Giá trị từ lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 0,07%.
Phát triển kinh tế làng nghề cần gắn liền với bảo vệ môi trường và phát triển du lịch Cần khuyến khích việc mở các điểm bán sản phẩm và nguyên liệu từ làng nghề Đồng thời, cần rà soát và điều chỉnh kịp thời kế hoạch sử dụng đất đai để tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các điểm sản xuất tiểu thủ công nghiệp tập trung.
Quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo “Phát triển kinh tế là trung tâm”, ngay sau khi Đại hội kết thúc, Đảng ủy xã đã ban hành Chương trình 01-CTr/DU nhằm thúc đẩy các hoạt động kinh tế địa phương.
Giai đoạn 2011-2015, xã Bát Tràng tập trung vào phát triển kinh tế bằng cách phát huy thế mạnh của làng nghề gốm sứ Định hướng phát triển bao gồm việc tăng cường sản xuất gốm sứ chất lượng cao, đồng thời chú trọng đến thương mại, dịch vụ và du lịch để nâng cao giá trị kinh tế địa phương.
Đảng ủy Bát Tràng đã triển khai chương trình “phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp gắn với làng nghề giai đoạn 2011-2015” nhằm hiện đại hóa và công nghiệp hóa kinh tế Trong đó, làng nghề truyền thống Gốm sứ được xác định là mũi nhọn trong phát triển kinh tế, với mục tiêu nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng cường quảng bá để tạo sức cạnh tranh trên thị trường.
Bám sát Đề án số 04 của huyện về quản lý và khai thác cụm công nghiệp, làng Gốm sứ cần duy trì và phát huy thế mạnh của mình thông qua việc thúc đẩy hoạt động của Hội Gốm sứ và hai câu lạc bộ nghệ nhân Điều này sẽ tạo sự liên kết chặt chẽ giữa sản xuất và khách hàng Đảng ủy xã tiếp tục đề xuất thành lập các khu thương mại trưng bày gốm sứ như Bảo tàng gốm sứ và chợ Sáng Bát Tràng, góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững.
Trong giai đoạn 2015-2020, xã Bát Tràng đã thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo mục tiêu nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Gia Lâm khóa XXI Đảng ủy xã đã xây dựng 05 Chương trình công tác toàn khóa của Ban chấp hành Đảng bộ xã khóa XXI, bao gồm Chương trình số 02-CTr/ĐU ban hành ngày 15/12/2015, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển địa phương.
“Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội xã Bát Tràng giai đoạn 2015-2020”
UBND xã liên tục cải tiến và nâng cao chất lượng lãnh đạo cũng như hiệu quả điều hành, đồng thời đẩy mạnh cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin Mỗi năm, UBND xã chủ động xây dựng và triển khai chương trình công tác cùng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Tổ chức tuyên truyền rộng rãi cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về việc triển khai Nghị quyết và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2015-2020 Điều này nhằm tạo sự đồng thuận cao trong tổ chức thực hiện, góp phần hoàn thành các nhiệm vụ và chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra.
Cơ cấu kinh tế của xã đang chuyển dịch tích cực, với tỷ trọng ngành thương mại dịch vụ liên kết với du lịch làng nghề ngày càng tăng Giá trị sản xuất các ngành ước đạt: công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng 54,8%; thương mại - dịch vụ 45,12%; lâm nghiệp - thuỷ sản 0,08% Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt từ 10-15%, góp phần nâng cao thu nhập bình quân đầu người hàng năm.
2015 đạt 47.3 triệu đến năm 2019 đạt 66,7 triệu đồng
Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tiếp tục phát triển, góp phần ổn định đời sống và thu nhập của người dân Để hỗ trợ các hộ dân, cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc vay vốn và đầu tư vào máy móc, thiết bị Việc áp dụng công nghệ cao trong sản xuất không chỉ nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm mà còn cải thiện mẫu mã, đáp ứng nhu cầu thị trường cả trong nước và quốc tế.
Hoạt động thương mại - dịch vụ, du lịch có nhiều đổi mới, đặc biệt năm
Năm 2019, xã Bát Tràng được công nhận là điểm du lịch của thành phố Hà Nội, với các dịch vụ như xe điện, sân chơi nặn gốm và giới thiệu di tích lịch sử, văn hóa ẩm thực đã thu hút hơn 15.000 lượt khách mỗi năm Hai chợ dân sinh tại đây luôn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, cung cấp các mặt hàng thiết yếu cho người dân Hội gốm sứ Bát Tràng phối hợp với các sở, ngành thành phố để hỗ trợ đào tạo nghề cho các hộ, doanh nghiệp, đồng thời tổ chức thành công triển lãm kỷ niệm 60 năm Bác Hồ về thăm Bát Tràng và tham gia nhiều sự kiện như hội chợ, festival, lập website để quảng bá sản phẩm truyền thống đến du khách trong và ngoài nước.
Những tồn tại, hạn chế:
Mặc dù kinh tế đang phát triển, mức tăng trưởng vẫn chưa đạt cao, dẫn đến khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ hàng gốm sứ Nhiều hộ dân vẫn vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm gốm sứ không rõ nguồn gốc Bên cạnh đó, chương trình hỗ trợ xây dựng thương hiệu cho các làng nghề tại huyện và thành phố đối với hai làng nghề trong xã đang tiến triển chậm.
Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại xã đang tiềm ẩn nhiều phức tạp, với ý thức tự phòng và tự quản của một bộ phận người dân còn hạn chế Hơn nữa, công tác phối hợp giữa Ban công an và các lực lượng liên quan vẫn chưa được thực hiện một cách chặt chẽ.
Đánh giá công tác khai thác và phát triển bền vững làng nghề Bát tràng
Môi trường Bát Tràng đã có nhiều cải thiện tích cực, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm không khí với mùi than khó chịu và những con đường bụi bặm Hiện nay, khu vực này đã trở nên xanh, sạch và đẹp hơn, mang lại không khí trong lành cho cư dân và du khách.
Bát Tràng không chỉ áp dụng công nghệ để phát triển du lịch thông minh mà còn chỉnh trang đường phố và xây dựng các nhà tiếp đón, hướng dẫn du khách Đặc biệt, địa phương này tạo ra những không gian văn hóa độc đáo, thu hút giới trẻ đến "check in" và trải nghiệm.
Việc sử dụng công nghệ thông tin vào quảng bá sản phẩm, kết nối khách hàng, bán sản phẩm gốm sứ ra nước ngoài cũng được chú trọng
Sự phát triển kinh tế và văn hóa - xã hội của làng gốm Bát Tràng đang được thúc đẩy mạnh mẽ nhờ vào việc khai thác thị trường khách du lịch Mặc dù thị trường này có quy mô nhỏ với số lượng sản phẩm bán ra không lớn, nhưng giá trị lợi nhuận từ khách du lịch sẽ tăng lên đáng kể Đặc biệt, việc bán sản phẩm cho khách du lịch quốc tế không chỉ giúp Bát Tràng xuất khẩu sản phẩm ngay tại chỗ mà còn tiết kiệm chi phí vận chuyển và thuế xuất khẩu Điều này mở ra một thị trường khách tiềm năng cho làng nghề Bát Tràng phát triển bền vững.
2.5.2 Những tồn tại hạn chế
Thiếu hụt mặt bằng sản xuất buộc các doanh nghiệp phải thuê hoặc mua đất ở các làng lân cận Nhiều người không đủ điều kiện phải sản xuất ngay tại nhà, vừa làm vừa sinh hoạt, điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của họ do khí độc phát sinh trong quá trình nung gốm.
Tình trạng thiếu vốn đang là một thách thức lớn đối với ngành gốm Ông Hà Văn Lâm cho biết, mặc dù lò nung gốm bằng gas hiện đại mang lại kết quả tích cực, nhưng chi phí xây dựng và lắp đặt cao (khoảng 100 - 150 triệu đồng/lò) đã khiến nhiều gia đình không đủ khả năng đầu tư Hơn nữa, với sự cạnh tranh ngày càng tăng trên thị trường gốm, việc bỏ ra một số vốn lớn để đầu tư cũng khiến nhiều cơ sở sản xuất cảm thấy lo lắng và do dự.
Việc sản xuất gốm thủ công truyền thống hiện nay đang đối mặt với sự cạnh tranh từ các phương pháp sản xuất đại trà hiện đại, dẫn đến sự giảm sút giá trị văn hóa trong các sản phẩm Sự thương mại hóa ngày càng gia tăng nhằm tối đa hóa lợi nhuận đã làm mất đi những giá trị tinh hoa và tinh túy của gốm truyền thống.
Làng nghề hiện nay thiếu tính đào tạo chuyên sâu, dẫn đến việc thu hút nhiều người muốn học nghề, nhưng các cơ sở hướng dẫn lại không có kỹ năng sư phạm Hầu hết việc truyền đạt kiến thức chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của người hướng dẫn.
Sự phát triển của du lịch có thể dẫn đến việc mất mát các giá trị văn hóa truyền thống và làm cho các làng nghề trở nên thương mại hóa Khi du lịch gia tăng, hàng loạt dịch vụ mới xuất hiện, điều này đã tạo ra sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu lao động.
Bát Tràng đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt mặt bằng sản xuất do khu vực này chủ yếu là đất thổ cư, dẫn đến không gian sản xuất hạn chế Việc này gây khó khăn trong việc áp dụng các thiết bị hiện đại vào quy trình sản xuất, trong khi các công đoạn kỹ thuật yêu cầu độ chính xác cao lại phải thực hiện thủ công.
Tình trạng thiếu vốn trong sản xuất gốm tại làng đang gây khó khăn lớn Để duy trì hoạt động lâu dài, các lò gốm cần có nguồn tài chính ổn định để dự trữ nguyên liệu, chi trả công cho thợ, và mở rộng quy mô sản xuất.
Làng nghề gốm Bát Tràng gặp khó khăn trong việc cạnh tranh với các làng nghề khác do thiếu tính đồng bộ trong quy hoạch sản xuất Nguyên nhân chính là sự lạc hậu về công nghệ, khi mà ngành sản xuất gốm ngày càng hiện đại hóa, trong khi Bát Tràng vẫn chưa áp dụng hiệu quả các thành tựu khoa học mới.
Thiếu tính đào tạo chuyên sâu trong nghề gốm chủ yếu do tâm lý bảo thủ và ngại thay đổi theo xu thế mới Nghề gốm truyền thống thường được duy trì qua hình thức "cha truyền con nối", nhưng hiện nay nhiều người từ nơi khác muốn học nghề này lại không có cơ hội tham gia các lớp học bài bản và chuyên sâu, thiếu kỹ năng sư phạm cần thiết.
Xã Bát Tràng, nằm bên tả ngạn sông Hồng thuộc huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, là một địa phương nổi tiếng với các sản phẩm gốm, sứ và gạch chất lượng cao Được làm từ đất sét tự nhiên, các sản phẩm này không chỉ mang lại giá trị kinh tế cho xã Bát Tràng mà còn góp phần quảng bá hình ảnh và văn hóa Việt Nam trên thế giới.
Cơ sở hạ tầng tại Bát Tràng đang trong quá trình phát triển nhưng chưa đạt tiêu chuẩn phục vụ du lịch Mặc dù môi trường được chú trọng, nhưng vẫn chưa được giải quyết triệt để Chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được cải thiện, góp phần vào sự phát triển bền vững của làng nghề Từ năm 2010 đến nay, các chính sách phát triển của Bát Tràng đã được điều chỉnh phù hợp với thực trạng địa phương, giúp lãnh đạo xã nhận diện các tồn tại và đưa ra giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững cho cộng đồng.
Quá trình khảo sát tại xã Bát Tràng cho thấy rằng làng nghề gốm sứ đang phát triển bền vững mạnh mẽ Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số vấn đề cần sự can thiệp từ các chuyên gia để đưa ra giải pháp thiết thực, trong đó người dân địa phương sẽ là những người thực hiện chính.
Giải pháp nâng cao, phát triển bền vững hoạt động làng nghề truyền thống Gốm sứ Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 48 1 Giải pháp xây dựng cơ sở hạ tầng
3.1.1 Giải pháp xây dựng cơ sở hạ tầng
- Về công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
Đề án Bảo tồn làng nghề truyền thống kết hợp với du lịch tại làng nghề Bát Tràng đã được UBND Thành phố phê duyệt từ năm 2016, tạo điều kiện cho UBND xã chủ động đề xuất đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Các công trình đầu tư không chỉ ổn định và phát triển kinh tế mà còn đảm bảo an ninh - quốc phòng, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân Đồng thời, xã đã phối hợp thực hiện các dự án do cấp trên làm chủ đầu tư như trường mầm non, trường THCS, trụ sở UBND xã và các dự án do xã làm chủ đầu tư như cải tạo nâng cấp đường và tường rào nghĩa trang Công tác giám sát các dự án cũng được tăng cường để đảm bảo tiến độ, chất lượng và phát huy hiệu quả sau đầu tư.
Mặc dù cơ sở hạ tầng ở làng gốm Bát Tràng còn nhiều hạn chế, lãnh đạo xã đã xác định các giải pháp thiết thực phù hợp với thực tế hiện tại và tương lai Để khắc phục những vấn đề tồn tại, họ bám sát quan điểm, chỉ tiêu và nhiệm vụ của chương trình, từ đó đề ra nội dung và nhiệm vụ cụ thể nhằm triển khai thực hiện hiệu quả.
Sự xuất hiện của các cơ sở sản xuất được đầu tư toàn diện đã giúp người dân từ bỏ thói quen sản xuất nhỏ lẻ và thụ động, đồng thời hình thành tính liên kết giữa các cơ sở sản xuất lớn và nhỏ Điều này hỗ trợ hiệu quả trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và dự báo nhu cầu thị trường Để tổ chức thực hiện hiệu quả, cần đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng, ban, ngành, địa phương và các đơn vị liên quan, cùng với việc phân công rõ ràng trách nhiệm và quy định chế độ thông tin báo cáo tiến độ.
Cần có chính sách hợp lý để nâng cao ý thức của người dân và các hộ gia đình trong công tác vệ sinh môi trường và thu gom rác thải, nhằm giảm thiểu tình trạng chiếm dụng đường phố với vật liệu xây dựng, ảnh hưởng đến giao thông Tăng cường tuyên truyền về việc giữ gìn vệ sinh môi trường và thu gom rác thải tập trung sẽ giúp bảo đảm các tuyến đường thông thoáng Đồng thời, cần kêu gọi đầu tư để sửa chữa các tuyến đường bị hư hỏng và quy hoạch hợp lý, đúng tiến độ, nhằm không làm ảnh hưởng đến việc di chuyển của người dân và du khách.
Cơ sở sản xuất gốm tại xã Bát Tràng hiện có hơn 200 cơ sở nhỏ lẻ, vừa là nơi ở vừa là nơi kinh doanh, dẫn đến hiệu quả sản xuất và kinh doanh không tối ưu Để cải thiện tình hình, lãnh đạo xã cần hợp tác với các hộ dân và Thành phố Hà Nội nhằm tìm ra giải pháp hợp lý Một trong những giải pháp tối ưu là hợp nhất các cơ sở sản xuất, tập trung lò nung gốm tại một địa điểm, giúp giảm thiểu sản xuất riêng rẽ, tiết kiệm nhiên liệu và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách du lịch và thúc đẩy phát triển kinh tế xã Bát Tràng, việc đầu tư xây dựng các nhà vệ sinh công cộng là rất cần thiết Những công trình này không chỉ phục vụ cho hoạt động du lịch mà còn phù hợp với tình hình phát triển hiện tại của địa phương.
3.1.2 Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực
Làng nghề gốm sứ Bát Tràng, có lịch sử hàng ngàn năm, đã trải qua nhiều thăng trầm trong quá trình phát triển Trong thời kỳ bao cấp, cả nước chỉ có hơn một nghìn làng nghề, nhưng từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa, Bát Tràng đã phát triển mạnh mẽ về quy mô sản xuất và số lượng Tuy nhiên, để đảm bảo sự phát triển bền vững cho làng nghề truyền thống này, cần chú trọng vào nguồn nhân lực và áp dụng các giải pháp cụ thể, thiết thực.
Trong giai đoạn 2021 - 2030, thành phố Hà Nội sẽ triển khai Đề án Quy hoạch mạng lưới trường học, với tầm nhìn đến năm 2045 Đề án này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, đồng thời đảm bảo cơ sở vật chất cho chương trình giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông.
Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các cấp học, huyện Gia Lâm triển khai hiệu quả Đề án “Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2021 - 2025 và những năm tiếp theo.” Mục tiêu của đề án là cải thiện chất lượng giảng dạy và học tập, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.
Giáo dục nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người dân, khuyến khích học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông tham gia học nghề ở trình độ trung cấp và cao đẳng Cần thực hiện hiệu quả công tác phân luồng và định hướng nghề nghiệp cho học sinh, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để thu hút học sinh vừa học văn hóa vừa học nghề sau khi tốt nghiệp THCS Tăng cường xã hội hóa và khuyến khích sự tham gia của các tổ chức, cá nhân vào công tác đào tạo nghề là rất cần thiết.
Về thực hiện các chính sách xã hội:
Công tác lao động việc làm tập trung vào việc tạo ra cơ hội việc làm cho cả lao động trong và ngoài xã, đồng thời chú trọng đến việc nâng cao chất lượng lao động qua đào tạo và đảm bảo rằng lao động có việc làm ổn định.
Công tác giảm nghèo bền vững tại Bát Tràng được thúc đẩy mạnh mẽ thông qua các hình thức như vay vốn phát triển kinh tế, đào tạo nghề và giới thiệu việc làm, cũng như trao tặng học bổng Mỗi năm, địa phương này cần đặt ra mục tiêu giảm số hộ nghèo và ngăn chặn sự phát sinh hộ nghèo mới.
3.1.3 Giải pháp quảng cáo xây dựng thương hiệu gốm Bát Tràng nhằm phát triển kinh tế
Để thúc đẩy sự phát triển kinh tế của làng gốm Bát Tràng, cần thiết lập một trang web chính thống nhằm giới thiệu thông tin đầy đủ về làng nghề Trang web này sẽ là nguồn tài liệu tin cậy cho du khách và các công ty du lịch, giúp họ tìm hiểu và đầu tư kỹ lưỡng trước khi đến thăm Ngoài ra, cần chú trọng sản xuất các sản phẩm truyền thống mang tính chất quà lưu niệm ý nghĩa, phản ánh hình ảnh của làng, nghệ nhân, thủ đô Hà Nội và văn hóa Việt Nam Qua đó, những sản phẩm này sẽ góp phần quảng bá làng gốm Bát Tràng và đất nước Việt Nam đến với du khách.
Để quảng bá hiệu quả điểm du lịch làng nghề gốm Bát Tràng, cần triển khai các chương trình quảng cáo qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, tạp chí du lịch, và các trang web của công ty du lịch Ngoài ra, việc phát sóng chương trình giới thiệu văn hóa làng nghề và ẩm thực trên đài phát thanh và truyền hình cũng rất quan trọng Tổ chức hội chợ triển lãm hàng thủ công truyền thống hàng năm và tham gia các Festival làng nghề là những phương thức hiệu quả để quảng bá thương hiệu gốm Bát Tràng tới du khách trong và ngoài nước.
3.1.4 Các chính sách khuyến khích phát triển bền vững trong hoạt động tại làng gốm Bát Tràng
Để phát triển bền vững ngành gốm sứ Bát Tràng, chính quyền địa phương cần thiết lập các chính sách cụ thể nhằm thúc đẩy hoạt động sản xuất và du lịch tại làng nghề Cần có biện pháp phát triển kinh tế toàn xã, tránh phân hóa giữa Bát Tràng và Giang Cao, đồng thời khuyến khích các hộ sản xuất xuất sắc và cá nhân có sáng kiến nổi bật Việc mở lớp đào tạo cho thế hệ trẻ và nâng cao kỹ năng nghề nghiệp là cần thiết để bảo tồn giá trị văn hóa Chính quyền cũng nên khuyến khích ý kiến đóng góp từ tổ chức và cá nhân để phát triển du lịch, đồng thời thu hút nguồn nhân lực có chuyên môn, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch.
Những giải pháp nhằm hạn chế những tác động tiêu cực trong hoạt động làng nghề gốm sứ Bát Tràng
3.2.1 Giải pháp về bảo vệ môi trường
Hạn chế ô nhiễm không khí tại Bát Tràng là một ưu tiên hàng đầu, vì phát triển bền vững cần gắn liền với bảo vệ môi trường Mặc dù đã có nhiều giải pháp được đề xuất và triển khai để giải quyết vấn đề ô nhiễm tại đây, nhưng hiệu quả đạt được vẫn chỉ ở mức trung bình.
Cần thiết phải phát triển hệ thống xử lý khí thải từ các lò nung để đảm bảo lượng khí thải ra môi trường không vượt quá giới hạn cho phép Bên cạnh đó, việc xây dựng các hệ thống xử lý rác thô và phân loại rác cũng rất quan trọng, nhằm thực hiện quy trình xử lý rác thải hiệu quả.
Cần xây dựng thêm nhà vệ sinh công cộng để đáp ứng nhu cầu của du khách và người mua hàng từ xa, đặc biệt tại các khu di tích Điều này giúp mọi người thuận tiện hơn trong việc xử lý nhu cầu cá nhân khi tham quan Bên cạnh đó, cần áp dụng quy định nghiêm ngặt hơn đối với các cơ sở kinh doanh để đảm bảo vệ sinh chung và cảnh quan làng Đặc biệt, các quán ăn sáng cần có biện pháp xử lý nghiêm đối với những hành vi không tuân thủ bảo vệ môi trường.
Để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho mọi người từ già đến trẻ, việc tăng cường giáo dục từ cấp trường đến cấp làng xã là rất quan trọng Các chương trình giáo dục về bảo vệ môi trường cần được tổ chức để nâng cao nhận thức và tự giác của người dân Do đó, việc triển khai các hoạt động chung tay bảo vệ môi trường tại cộng đồng là cần thiết nhằm tạo ra sự chuyển biến tích cực trong ý thức bảo vệ môi trường.
3.2.2 Giải pháp về an ninh trật tự
Lãnh đạo xã Bát Tràng hàng năm ban hành Nghị quyết và kế hoạch đảm bảo an ninh trật tự, thường xuyên tổ chức tuyên truyền và thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh Tổ quốc hiệu quả Tình hình an ninh chính trị ổn định, không có hoạt động chống đối Đảng và chính quyền, cũng như các hoạt động tuyên truyền trái pháp luật Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm được đẩy mạnh, kiềm chế gia tăng tội phạm và không để xảy ra tụ điểm phức tạp về hình sự và tệ nạn xã hội Trên địa bàn xã không xảy ra cháy nổ hay tai nạn giao thông nghiêm trọng.
Cần tăng cường tuyên truyền giáo dục để nâng cao tinh thần cảnh giác của người dân trong việc phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội như ma túy và mại dâm Việc tổ chức các phong trào và lễ phát động về phòng chống tệ nạn xã hội là rất cần thiết, nhằm truyền tải thông điệp này đến các lớp trẻ trong cộng đồng.
Để nâng cao và phát triển bền vững hoạt động làng nghề gốm Bát Tràng, cần triển khai các giải pháp cải thiện cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Việc quảng bá thương hiệu gốm Bát Tràng đến tay khách hàng là thiết yếu nhằm tạo ra nền kinh tế bền vững cho làng nghề Đồng thời, cần thiết lập các chính sách khuyến khích phát triển bền vững trong kinh doanh và du lịch Quan trọng hơn, phát triển bền vững phải đi đôi với bảo vệ môi trường và an ninh trật tự, do đó, các giải pháp liên quan đến an ninh và bảo vệ môi trường cần được thực hiện đồng bộ.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã hệ thống hóa lý thuyết về làng nghề và bảo tồn giá trị văn hóa, từ đó nhận diện các giá trị văn hóa của làng nghề gốm sứ Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội Nhóm cũng phân tích và mô tả nội dung cũng như hình thức của công tác bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống này.
Làng nghề truyền thống gốm sứ Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, nổi bật với các giá trị văn hóa phong phú, bao gồm phong tục tập quán, giá trị nghệ thuật độc đáo, lễ hội đặc sắc gắn liền với nghề gốm, cùng tri thức và kinh nghiệm trong sản xuất Bên cạnh đó, văn hóa tổ chức sản xuất và kinh doanh, cùng các giá trị kinh tế của làng nghề, cũng đóng góp vào sự phát triển bền vững của Bát Tràng.
Công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề gốm sứ Bát Tràng đã nhận được sự quan tâm từ chính quyền địa phương, với trọng tâm là khai thác giá trị kinh tế thông qua các tiêu chí bền vững: con người, môi trường và kinh tế Việc tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến phát triển làng nghề đóng vai trò quan trọng trong việc quảng bá hình ảnh và thương hiệu của gốm sứ Bát Tràng Chính sách phát triển làng nghề, nguồn nhân lực bảo vệ văn hóa, và thực trạng phát triển du lịch cũng cần được chú trọng Đồng thời, việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và công tác thanh tra, kiểm tra vi phạm là cần thiết để định hướng phát triển sản phẩm gốm sứ Bát Tràng một cách hiệu quả.
Công tác phát huy giá trị văn hóa làng nghề, bao gồm phong tục tập quán, nghệ thuật và tri thức dân gian, đã được chính quyền đặc biệt quan tâm thông qua các chính sách ưu đãi nghệ nhân và đầu tư ngân sách cho việc truyền nghề Tại xã Bát Tràng, hai thôn Giang Cao và Bát Tràng là những làng nghề thủ công truyền thống được chính quyền địa phương chú trọng khai thác giá trị văn hóa nhằm phát triển du lịch.
Đề tài phân tích các ưu điểm và hạn chế của làng nghề truyền thống Bát Tràng, chỉ ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa Các giải pháp bao gồm: nâng cao và phát triển bền vững thông qua xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, quảng bá và xây dựng thương hiệu để phát triển kinh tế, cùng với các chính sách khuyến khích phát triển bền vững Đồng thời, cần có giải pháp hạn chế tác động tiêu cực, bao gồm bảo vệ môi trường và đảm bảo an ninh trật tự.
Nghề gốm Bát Tràng, từ khi ra đời đến nay, sở hữu nhiều tiềm năng và thách thức Người dân Bát Tràng và huyện Gia Lâm cần khai thác tối đa những lợi thế sẵn có để phát triển nghề gốm, đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Đồng thời, cần hạn chế những tác động tiêu cực của ngành gốm nhằm mang lại cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho cộng đồng.
Nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề gốm sứ Bát Tràng có ý nghĩa quan trọng trong quy hoạch bảo tồn văn hóa của Đảng và chính quyền địa phương Gia Lâm Ngành thủ công gốm sứ không chỉ giúp giải quyết việc làm mà còn chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao thu nhập cho người dân Qua đó, việc bảo tồn các giá trị văn hóa cốt lõi như lễ hội, phong tục và nghệ thuật do những người thợ tạo ra được thúc đẩy, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa của làng nghề.