1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân quận tây hồ, thành phố hà nội

68 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt Động Giám Sát Của Hội Đồng Nhân Dân Quận Tây Hồ, Thành Phố Hà Nội
Tác giả Trịnh Minh Hiếu
Người hướng dẫn PGS.TS. Đặng Khắc Ánh
Trường học Trường Đại Học Nội Vụ Hà Nội
Chuyên ngành Quản Lý Công
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,51 MB

Cấu trúc

  • I. PHẦN MỞ ĐẦU (8)
    • 1. ý do chọn đề tài (8)
    • 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài (9)
    • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (12)
    • 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu (12)
    • 5. Phương pháp nghiên cứu (12)
    • 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài (13)
    • 7. Bố cục của luận văn (14)
  • II. PHẦN NỘI DUNG (15)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ Ý UẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT (15)
    • 1.1. Giám sát của Hội đồng nhân dân quận (15)
      • 1.1.1. Khái niệm giám sát (15)
      • 1.1.2. Khái niệm giám sát của Hội đồng nhân dân (16)
      • 1.1.3. Chủ thể, đối tượng, thẩm quyền giám sát của Hội đồng nhân dân10 1.1.4. Vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân quận (17)
    • 1.2. Các hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân quận (19)
      • 1.2.1. Giám sát tại kỳ họp (19)
      • 1.2.2 Giám sát chuyên đề của HĐND (22)
      • 1.2.3. Giám sát của Thường trực HĐND (23)
      • 1.2.4. Giám sát của các Ban Hội đồng nhân dân (23)
      • 1.2.5. Giám sát của các đại biểu Hội đồng nhân dân cấp quận (24)
    • 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát của HĐND quận (24)
      • 1.3.1. Sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng (24)
      • 1.3.2 Cách thức thực hiện giám sát của HĐND quận (24)
      • 1.3.3. Về trình độ hiểu biết và phẩm chất chính trị, đạo đức của đại biểu HĐND quận (25)
      • 1.3.4. Về quyền và nghĩa vụ của HĐND quận trong thực hiện quyền quyết định và giám sát (26)
      • 1.3.5. Về cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ giám sát (26)
    • 1.4. Kinh nghiệm hoạt động giám sát của HĐND của các quận và giá trị (27)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HĐND QUẬN TÂY HỒ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI (29)
    • 2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội (29)
      • 2.1.1. Điều kiện tự nhiên, tình hình KT - XH quận Tây Hồ (29)
        • 2.1.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội (29)
      • 2.1.2. Cơ cấu, tổ chức của Hội đồng nhân dân quận Tây Hồ (31)
    • 2.2. Phân tích thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội (33)
      • 2.2.1. Thực trạng hoạt động xem xét báo cáo của cơ quan nhà nước (33)
      • 2.2.2. Thực trạng hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn (35)
      • 2.2.3. Thực trạng bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ (36)
      • 2.2.4. Thực trạng xem xét báo cáo của đoàn giám sát (37)
      • 2.2.5. Thực trạng xem xét văn bản quy phạm pháp luật (41)
      • 2.2.6. Thực trạng giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân (42)
      • 2.2.7. Thực trạng giám sát của các đại biểu HĐND cấp quận (43)
    • 2.3. Đánh giá hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội (44)
      • 2.3.1. Kết quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội (44)
      • 2.3.2. Tồn tại, hạn chế hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân quận Tây Hồ (47)
      • 2.3.3. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế (49)
    • 3.1. Quan điểm của Đảng và nhà nước về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân quận (52)
    • 3.2. Các giải pháp đổi mới, nâng cao chất lƣợng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội (54)
      • 3.2.1. Đổi mới trong việc lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, hoàn thiện các quy định của pháp luật trong hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân quận (54)
      • 3.2.2. Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân quận51 3.2.3. Nâng cao chất lượng, đổi mới cơ cấu đại biểu HĐND quận (58)
      • 3.2.4. Kiện toàn cơ cấu tổ chức, nâng cao năng lực của thường trực HĐND, các ban của HĐND và bộ phận giúp việc cho HĐND (60)
      • 3.2.5. Xác lập mối quan hệ và tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động giám sát của HĐND quận đạt hiệu quả (60)

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU

ý do chọn đề tài

Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu lực hoạt động của bộ máy Nhà nước, đặc biệt là hệ thống chính quyền địa phương và Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp, là yêu cầu tất yếu HĐND, với vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước tại địa phương, cần phải thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do đó, việc xây dựng HĐND có thực quyền là cấp bách HĐND có hai chức năng chính: quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước Trong đó, chức năng giám sát đóng vai trò quan trọng nhằm đảm bảo HĐND thực sự đại diện cho ý chí nhân dân và thực hiện nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân Thực hiện tốt chức năng giám sát là yêu cầu thiết yếu để nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND.

HĐND các cấp đang nỗ lực đổi mới nội dung và phương thức hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định pháp luật, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng địa phương Hoạt động giám sát đã có nhiều cải tiến, nhưng vẫn bộc lộ hạn chế, dẫn đến ý kiến cho rằng HĐND có thể không cần thiết do tính hình thức Thí điểm không tổ chức HĐND tại một số địa phương cho thấy một số kết quả tích cực, nhưng cũng nảy sinh hạn chế, nhất là trong công tác giám sát Theo Điều 111 Hiến pháp 2013, chính quyền địa phương bao gồm HĐND và UBND, cần được củng cố để hoạt động hiệu quả hơn HĐND quận Tây Hồ vẫn gặp khó khăn trong hoạt động giám sát, với cách thức tổ chức chưa khoa học và năng lực giám sát chưa cao Việc nghiên cứu lý luận và thực trạng hoạt động giám sát của HĐND quận Tây Hồ là cần thiết để đưa ra giải pháp đổi mới, từ đó tôi chọn đề tài "Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội" làm Luận văn Thạc sĩ Quản lý công.

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về hoạt động giám sát của Hội đồng Nhân dân (HĐND) nói chung Gần đây, một số đề tài nghiên cứu đã tập trung vào việc phân tích và đánh giá hiệu quả của hoạt động giám sát của HĐND.

Giám sát là một nhiệm vụ quan trọng của HĐND và các đại biểu, nhằm đảm bảo việc thực thi các quy định pháp luật được thực hiện đúng và nghiêm túc Việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát giúp phát huy vai trò đại diện của HĐND, đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Điều này hỗ trợ HĐND trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương, giải quyết những mối quan tâm của cử tri, góp phần vào thành công của các nhiệm vụ chính trị và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Nghiên cứu về hoạt động giám sát của HĐND các cấp đã thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả, nhằm tìm ra giải pháp tối ưu để nâng cao chất lượng và hiệu quả giám sát Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố ở các cấp độ khác nhau, bao gồm sách chuyên khảo, sách tham khảo, đề tài nghiên cứu khoa học, luận án và luận văn Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu đã được thực hiện và công bố.

Trong cuốn sách “Hội đồng nhân dân trong nhà nước pháp quyền” của Nguyễn Đăng Dung (2012), tác giả đã phân tích chi tiết các yêu cầu của nhà nước pháp quyền đối với cơ quan đại diện nhân dân ở địa phương Ông cũng khám phá các kỹ năng hoạt động của Hội đồng nhân dân (HĐND) và các Ban của HĐND, đặc biệt là kỹ năng của các đại biểu HĐND.

Cuốn sách "Xây dựng và hoàn thiện cơ chế nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp" của Phan Trung Lý và Đặng Xuân Phương (2017) phân tích sâu sắc cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến cơ chế này Tác giả chỉ ra những ưu điểm và hạn chế, cũng như thuận lợi và thách thức trong việc thực hiện quyền lực nhà nước thông qua dân chủ trực tiếp Bên cạnh đó, cuốn sách cũng đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước của Nhân dân.

- Trong cuốn sách “Thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước ở

Bài viết "Việt Nam" của tác giả Nguyễn Long Hải (2017) đã tổng hợp các thể chế pháp lý liên quan đến việc kiểm soát quyền lực nhà nước tại Việt Nam Tác giả phân tích thực trạng hiện nay và đưa ra các quan điểm, yêu cầu cùng với những giải pháp nhằm nâng cao và hoàn thiện hệ thống pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước.

Cuốn sách “Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của Nguyễn Minh Đoan (2018) phân tích lý luận và thực tiễn về kiểm soát quyền lực nhà nước Tác giả đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế này trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam hiện nay.

Cuốn sách “Cẩm nang dành cho đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp” do Viện khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội Vụ biên soạn dưới sự chủ biên của Trần Văn Ngợi (2016) cung cấp cái nhìn sâu sắc về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của HĐND nhiệm kỳ 2016 – 2021 Đồng thời, sách cũng nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của đại biểu HĐND, cùng với việc hướng dẫn các kỹ năng cơ bản cần thiết để thực hiện hiệu quả quyền và trách nhiệm của họ.

Cuốn sách “Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” của Đào Trí Úc và Trương Thị Hồng Hà (2018) nghiên cứu cơ sở lý luận và phân tích thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam Tác giả đánh giá những thành tựu, hạn chế và vấn đề bất cập trong từng ngành luật, đồng thời chỉ ra nguyên nhân của các vấn đề này Dựa trên những phân tích đó, cuốn sách đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, công khai và minh bạch, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và bảo vệ quyền tự do, dân chủ của Nhân dân.

Đề tài khoa học "Dân chủ trực tiếp và hoàn thiện cơ chế pháp lý thực thi dân chủ trực tiếp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển các cơ chế pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả của dân chủ trực tiếp Nội dung nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện các quy định pháp luật để bảo đảm quyền lợi của công dân, đồng thời khẳng định vai trò của dân chủ trực tiếp trong việc xây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền Bài viết cũng đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm cải thiện thực thi dân chủ trực tiếp, góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội Việt Nam.

Năm 2014, PGS.TS Nguyễn Thị Việt Hương đã chủ trì một đề tài nghiên cứu với mục tiêu tổng quát là phát huy dân chủ và đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân, nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Đề tài đặt ra hai mục tiêu cụ thể: thứ nhất, nhận diện trạng thái hiện hành của dân chủ trực tiếp tại Việt Nam; thứ hai, xác lập cơ sở khoa học để hoàn thiện cơ chế pháp lý thực thi dân chủ trực tiếp trong bối cảnh Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Đề tài nghiên cứu khoa học “Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân” (2016) do ThS Nguyễn Thị Thu Huyền làm chủ nhiệm đã đưa ra các phương hướng và giải pháp nhằm cải thiện hoạt động giám sát của HĐND trong bối cảnh hiện nay Nghiên cứu xác định hai nhóm giải pháp chính: nhóm giải pháp chung và nhóm giải pháp riêng, bao gồm việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể giám sát, tăng cường năng lực cho các đối tượng thực hiện giám sát, và cải thiện chất lượng thực hiện các hình thức giám sát.

Hoạt động của HĐND, đặc biệt là công tác giám sát, đã thu hút sự quan tâm từ nhiều nhà nghiên cứu và quản lý Các nghiên cứu đã đưa ra nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND ở các cấp.

Bên cạnh những công trình nghiên cứu khoa học, có thể kể đến một số bài viết, báo được đăng trên các tạp chí chuyên ngành như:

Nguyễn Quốc Tuấn trong bài viết “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp” đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước tháng 6/2002, đã đề xuất nhiều giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực và trách nhiệm của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, đồng thời khuyến nghị các biện pháp cụ thể để tăng cường sự phối hợp và minh bạch trong công tác quản lý nhà nước.

- Trương Đắc Linh, “Tổ chức và hoạt động của các ban của HĐND”,

Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số tháng 2/2003

Bùi Xuân Đức trong bài viết “Bàn về tính chất của Hội đồng nhân dân trong điều kiện cải cách bộ máy nhà nước hiện nay” đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật tháng 12/2003 đã phân tích vai trò và tính chất của Hội đồng nhân dân trong bối cảnh cải cách bộ máy nhà nước Ông nhấn mạnh sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế Bài viết cũng đề xuất các giải pháp để cải thiện chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân, góp phần xây dựng một chính quyền địa phương vững mạnh và hiệu quả hơn.

- Đinh Ngọc Quang, “Về đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp nhiệm kỳ 2004 – 2009”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số tháng 2/2005

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả hoạt động giám sát của HĐND cấp quận, đặc biệt là HĐND quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội Bài viết chỉ ra những tồn tại và hạn chế trong hoạt động giám sát, đồng thời phân tích nguyên nhân của những vấn đề này Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất quan điểm và giải pháp để nâng cao hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động giám sát của HĐND quận Tây Hồ.

- Nghiên cứu, hệ thống hoá, phân tích, tổng hợp các vấn đề lý luận về giám sát của HĐND quận;

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng chất hoạt động giám sát của HĐND quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội

Để nâng cao hiệu lực và hiệu quả giám sát của HĐND quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội trong giai đoạn tới, cần đề xuất một số quan điểm và giải pháp cụ thể Trước hết, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cho các đại biểu HĐND về kỹ năng giám sát và quản lý Thứ hai, cải thiện quy trình giám sát thông qua việc áp dụng công nghệ thông tin, giúp thu thập và phân tích dữ liệu một cách nhanh chóng và hiệu quả Cuối cùng, cần tăng cường sự phối hợp giữa HĐND và các cơ quan chức năng, đảm bảo thông tin được truyền đạt đầy đủ và kịp thời, từ đó nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động giám sát của HĐND quận Tây

Hồ, thành phố Hà Nội

- Phạm vi về không gian: trên địa bàn quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội

- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2016 – 2020.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn này được xây dựng dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh Nó tập trung vào việc phân tích các quan điểm, đường lối, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vai trò, vị trí và chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân.

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu để phân tích và làm rõ các vấn đề, với trọng tâm vào một số phương pháp chính.

Phương pháp nghiên cứu tài liệu sẽ được áp dụng để khảo sát các tài liệu liên quan, nhằm xây dựng luận cứ khoa học cho hoạt động giám sát của Hội đồng Nhân dân (HĐND) nói chung và HĐND quận Tây Hồ nói riêng Điều này sẽ tạo cơ sở vững chắc cho việc phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động giám sát của HĐND quận Tây Hồ trong chương 2.

Phương pháp phân tích và tổng hợp được áp dụng để đánh giá hoạt động giám sát của HĐND quận Tây Hồ, từ đó xác định những hạn chế và bất cập hiện có Bài viết sẽ chỉ ra nguyên nhân của những vấn đề này, tạo cơ sở cho nghiên cứu và đề xuất phương hướng, giải pháp trong chương 3.

Phương pháp thống kê là một công cụ quan trọng trong nghiên cứu, giúp tác giả thu thập và phân tích các tài liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu Qua việc thống kê, tác giả có thể đánh giá và xử lý các số liệu thu thập được, từ đó đưa ra những nhận định chính xác về đề tài nghiên cứu.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Bài luận văn này phân tích và hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động giám sát của Hội đồng Nhân dân (HĐND), đặc biệt là HĐND quận Mục tiêu của nghiên cứu là làm rõ những khía cạnh lý luận quan trọng cho khoa học quản lý tại các cấp chính quyền địa phương.

Luận văn là tài liệu tham khảo quan trọng, giúp nâng cao năng lực hoạt động và trình độ chuyên môn cho đại biểu HĐND và cán bộ chuyên trách Nghiên cứu trong luận văn cũng góp phần giải quyết mối quan hệ giữa các cơ quan chính quyền địa phương, hỗ trợ phối hợp thực hiện quyền lực nhà nước và các chức năng, nhiệm vụ tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu luận văn cung cấp cơ sở quan trọng cho cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước nhận thức đúng về vị trí và vai trò của Hội đồng Nhân dân (HĐND) trong hoạt động giám sát tại địa phương Điều này không chỉ giúp thực thi quyền lực nhà nước hiệu quả mà còn nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế.

- XH, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; hạn chế tệ quan liêu, tham nhũng, làm lành mạnh các mối quan hệ xã hội

- Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện, đổi mới phương thức tổ chức và hoạt động của HĐND cấp quận.

Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động giám sát của HĐND quận;

- Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội;

- Chương 3: Quan điểm, giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

PHẦN NỘI DUNG

CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN QUẬN 1.1 Giám sát của Hội đồng nhân dân quận

Giám sát được định nghĩa là "theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ" theo Đại từ điển Tiếng Việt, do Nguyễn Như Ý chủ biên, xuất bản năm 1999.

Giám sát quyền lực nhà nước là quá trình theo dõi và quan sát hoạt động của các chủ thể quyền lực một cách chủ động, thường xuyên và liên tục Mục đích của giám sát này là tác động tích cực để đảm bảo các tổ chức quyền lực hoạt động đúng quy chế, hạn chế quyền lực và đảm bảo pháp luật được tuân thủ nghiêm ngặt.

Trong khoa học luật học, giám sát được hiểu là chức năng cơ bản của các cơ quan như Quốc hội và HĐND các cấp, cũng như hoạt động của Tòa án, tổ chức chính trị - xã hội và công dân nhằm đảm bảo tuân thủ pháp luật Giám sát bao gồm các hình thức từ cơ quan quyền lực nhà nước, xã hội, công dân đến Tòa án thông qua hoạt động xét xử Từ góc độ quản lý xã hội và nhà nước, giám sát được xem là chức năng thiết yếu, nơi có quản lý thì có giám sát, nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước do các cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật.

Giám sát được hiểu là quá trình theo dõi và quan sát hoạt động của một chủ thể quyền lực, diễn ra một cách chủ động, liên tục và thường xuyên Mục đích của giám sát là phát hiện các sai phạm trong hoạt động của đối tượng bị giám sát và áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo pháp chế và kỷ luật trong quản lý.

Giám sát, theo cách hiểu chung nhất, là hoạt động theo dõi, kiểm tra, phát hiện và đánh giá của cá nhân, tổ chức hoặc cộng đồng này đối với cá nhân, tổ chức hoặc cộng đồng khác trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội Mục tiêu của giám sát là đảm bảo việc thực hiện các quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, cũng như Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, đồng thời bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, tổ chức, cá nhân Qua đó, giám sát giúp phát huy những ưu điểm và thành tựu, đồng thời xử lý các hành vi sai trái của tổ chức, cá nhân.

CƠ SỞ Ý UẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT

Giám sát của Hội đồng nhân dân quận

Giám sát được định nghĩa trong Đại từ điển Tiếng Việt, do Nguyễn Như Ý chủ biên, là quá trình “theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ” [39, tr.728] Khái niệm này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi và đánh giá hiệu quả công việc để đảm bảo nhiệm vụ được thực hiện đúng cách.

Giám sát quyền lực nhà nước là quá trình theo dõi và quan sát hoạt động của các chủ thể quyền lực một cách chủ động, thường xuyên và liên tục Mục tiêu của giám sát này là tác động tích cực để định hướng hoạt động của các tổ chức quyền lực, đảm bảo họ tuân thủ đúng quy chế và giới hạn quyền lực, từ đó bảo vệ việc thực thi pháp luật một cách nghiêm minh.

Trong khoa học luật học, giám sát được hiểu là chức năng cơ bản của các cơ quan như Quốc hội và HĐND các cấp, cũng như hoạt động của Tòa án và các tổ chức chính trị - xã hội nhằm đảm bảo tuân thủ pháp luật Giám sát bao gồm sự kiểm tra của cơ quan quyền lực nhà nước, xã hội, công dân và Tòa án thông qua hoạt động xét xử Từ góc nhìn quản lý xã hội và nhà nước, giám sát là một chức năng thiết yếu, phản ánh sự kiểm soát quyền lực nhà nước, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật.

Giám sát được hiểu là quá trình theo dõi và quan sát hoạt động của một chủ thể quyền lực một cách chủ động và liên tục Mục tiêu của giám sát là phát hiện các sai phạm trong hoạt động của đối tượng, từ đó áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo tính pháp chế và kỷ luật trong quản lý.

Giám sát, theo cách hiểu chung, là quá trình theo dõi, kiểm tra và đánh giá hoạt động của cá nhân, tổ chức hoặc cộng đồng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội Điều này liên quan đến việc thực hiện các quan điểm, nghị quyết của Đảng, cũng như tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước Mục tiêu của giám sát là kiến nghị phát huy những ưu điểm và thành tựu, đồng thời xử lý các hành vi sai trái của cá nhân hoặc tổ chức Dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nội dung cốt lõi của giám sát vẫn là việc kiểm tra xem các hoạt động và việc thực hiện pháp luật có đúng theo yêu cầu đã được xác định hay không, do những chủ thể có quyền lực hoặc đại diện cho quyền lực thực hiện.

Giám sát là quá trình theo dõi và kiểm tra hoạt động của một chủ thể để đảm bảo rằng họ thực hiện đúng quy định và hành vi phù hợp với thực tế Nó không chỉ là hình thức thực thi quyền lực mà còn là phương thức bảo đảm quyền lực nhà nước hoạt động theo pháp luật Trong quản lý nhà nước, giám sát đóng vai trò quan trọng, giúp hạn chế lạm dụng quyền lực và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân Ở bất kỳ nơi nào có quyền lực và quản lý, giám sát đều cần thiết để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong việc sử dụng quyền lực.

1.1.2 Khái niệm giám sát của Hội đồng nhân dân

Giám sát là một trong hai chức năng cơ bản của Hội đồng Nhân dân (HĐND) tại Việt Nam Thuật ngữ giám sát đã được cụ thể hóa qua các quy định trong pháp luật, nhằm đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Năm 1983, tổ chức HĐND và UBND đã chính thức áp dụng thuật ngữ giám sát để quy định hoạt động giám sát của HĐND Luật Tổ chức HĐND và UBND sau này đã củng cố và phát triển hơn nữa khái niệm này, nhấn mạnh vai trò quan trọng của giám sát trong việc đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước.

Vào các năm 1994 và 2003, hoạt động giám sát của HĐND đã được quy định rõ ràng hơn, góp phần nâng cao vai trò của HĐND Tuy nhiên, Luật tổ chức HĐND và UBND vẫn chưa làm rõ thuật ngữ giám sát.

Luật Hoạt động giám sát của Quốc Hội và HĐND năm 2015, tại khoản 1, điều 2, định nghĩa “giám sát” là quá trình mà chủ thể giám sát theo dõi, xem xét và đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân bị giám sát Mục tiêu là đảm bảo việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, đồng thời xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền thực hiện xử lý.

Giám sát của HĐND bao gồm các hoạt động tại kỳ họp, giám sát của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, tổ đại biểu và các đại biểu HĐND Theo quy định của Hiến pháp Việt Nam và Luật Tổ chức HĐND và UBND, đặc biệt là Luật Hoạt động giám sát của Quốc Hội và HĐND năm 2015, giám sát được xác định là chức năng cơ bản của HĐND Với vai trò là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, HĐND có quyền áp dụng các biện pháp chế tài theo quy định của pháp luật khi thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình Do đó, giám sát của HĐND không chỉ khẳng định vai trò của cơ quan này mà còn tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả quyết định các vấn đề địa phương.

Giám sát của HĐND là quá trình theo dõi, đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân để đảm bảo tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, và các nghị quyết của HĐND Qua đó, HĐND đưa ra kết luận và phương án xử lý nhằm khắc phục tồn tại, vi phạm, góp phần bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý nhà nước tại địa phương Điều này không chỉ phát huy tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa mà còn đảm bảo quốc phòng - an ninh, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đồng thời thực hiện tốt nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước.

1.1.3 Chủ thể, đối tượng, thẩm quyền giám sát của Hội đồng nhân dân

Chủ thể giám sát của HĐND quận bao gồm HĐND quận, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND và các đại biểu HĐND Theo Điều 5 của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015, đối tượng và thẩm quyền giám sát của HĐND được quy định rõ ràng.

HĐND có nhiệm vụ giám sát việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật tại địa phương, đồng thời theo dõi việc thực hiện các nghị quyết của HĐND cùng cấp Bên cạnh đó, HĐND cũng giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND, cơ quan thi hành án dân sự và các Ban của HĐND cấp mình Ngoài ra, HĐND còn giám sát các quyết định của UBND cùng cấp và các nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp.

Thường trực HĐND có trách nhiệm giám sát việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật tại địa phương, cũng như việc thực hiện các nghị quyết của HĐND cùng cấp Bên cạnh đó, Thường trực HĐND cũng giám sát hoạt động của UBND, các cơ quan thuộc UBND, TAND, VKSND, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và HĐND cấp dưới Đồng thời, cơ quan này theo dõi các quyết định của UBND cùng cấp và nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp, nhằm hỗ trợ HĐND thực hiện quyền giám sát theo phân công.

Các hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân quận

1.2.1 Giám sát tại kỳ họp

- Xem xét báo cáo của cơ quan nhà nước

Việc xem xét và thảo luận các báo cáo của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND, và Chi cục THADS tại các kỳ họp là hoạt động giám sát quan trọng của HĐND, đặc biệt tại các kỳ họp thường lệ giữa năm và cuối năm Tại các kỳ họp này, HĐND quận sẽ xem xét các báo cáo về công tác của các cơ quan, tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, công tác phòng, chống tham nhũng, và giải quyết khiếu nại của cử tri Đối với kỳ họp cuối nhiệm kỳ, HĐND cũng thảo luận các báo cáo công tác nhiệm kỳ của các cơ quan Để đảm bảo tính khoa học và trọng tâm trong hoạt động xem xét báo cáo, các Ban của HĐND cần thẩm tra các báo cáo theo chức năng, nhiệm vụ, và tổ chức các hoạt động khảo sát, tiếp xúc cử tri Quá trình này đảm bảo cung cấp thông tin pháp lý cho các đại biểu HĐND, giúp họ thảo luận và thông qua nghị quyết tại kỳ họp Trình tự xem xét báo cáo bao gồm việc người đứng đầu cơ quan trình bày báo cáo, Trưởng các Ban trình bày báo cáo thẩm tra, và thảo luận của đại biểu HĐND.

Xem xét báo cáo là một hình thức giám sát quan trọng giúp HĐND kiểm soát việc thực thi Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của HĐND trong thực tiễn xã hội Điều này cũng góp phần nâng cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu UBND trước HĐND.

- Chất vấn và trả lời chất vấn

Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp HĐND là một phần quan trọng, phản ánh chất lượng kỳ họp và thể hiện quyền lực của cơ quan dân cử Đối với đại biểu HĐND, chất vấn không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm đối với cử tri, giúp xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan chức năng Chất vấn thường xoay quanh các vấn đề nóng mà nhân dân quan tâm, yêu cầu đại biểu HĐND phải theo dõi, thu thập thông tin và hiểu biết về pháp luật Trước phiên họp, đại biểu sẽ ghi vấn đề chất vấn và gửi đến Thường trực HĐND, từ đó nhóm vấn đề sẽ được quyết định Quá trình chất vấn bao gồm việc đại biểu nêu câu hỏi, người bị chất vấn trả lời trực tiếp, và nếu không đồng ý với câu trả lời, đại biểu có quyền chất vấn lại Người bị chất vấn có thể trả lời bằng văn bản khi được phép, và nếu đại biểu không hài lòng với câu trả lời, họ có thể yêu cầu HĐND thảo luận hoặc xem xét trách nhiệm của người bị chất vấn HĐND có thể ra nghị quyết về việc này khi cần thiết.

Chất vấn là hình thức đại biểu đặt câu hỏi, nhưng khác với câu hỏi thông thường, nó không chỉ nhằm mục đích thu thập thông tin Câu hỏi chất vấn còn nhằm làm rõ trách nhiệm chính trị và pháp lý của người được hỏi, mở rộng phạm vi và ý nghĩa của việc chất vấn.

- Bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do HĐND bầu

Kế thừa các quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003,

Nghị quyết số 35/2012/QH13 quy định về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội và HĐND bầu hoặc phê chuẩn, cùng với các luật liên quan được ban hành năm 2015 HĐND quận có trách nhiệm lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh như Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND, Trưởng các Ban của HĐND, Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND và các Ủy viên UBND Việc này được thực hiện khi có kiến nghị từ ít nhất một phần ba tổng số đại biểu HĐND hoặc khi có đánh giá tín nhiệm thấp từ hai phần ba tổng số đại biểu HĐND tổ chức lấy phiếu tín nhiệm một lần trong mỗi nhiệm kỳ vào kỳ họp thường lệ cuối năm thứ ba, cụ thể là vào năm 2018 cho nhiệm kỳ 2016 – 2021, theo Nghị quyết số 85/2014/QH13 Trình tự thực hiện lấy phiếu tín nhiệm được quy định rõ trong kỳ họp HĐND.

+ Thường trực HĐND trình HĐND quyết định danh sách những người được lấy phiếu tín nhiệm;

+ HĐND lấy phiếu tín nhiệm bằng cách bỏ phiếu kín;

Thường trực HĐND sẽ trình HĐND xem xét và thông qua nghị quyết xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm Nếu người được lấy phiếu tín nhiệm nhận được đánh giá tín nhiệm thấp từ hơn một nửa tổng số đại biểu HĐND, họ có quyền xin từ chức Trong trường hợp có từ hai phần ba tổng số đại biểu HĐND trở lên đánh giá tín nhiệm thấp, Thường trực HĐND sẽ trình HĐND tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm.

Việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu được thực hiện tại kỳ họp HĐND theo trình tự sau đây:

+ Thường trực HĐND trình HĐND bỏ phiếu tín nhiệm;

+ Người được đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm trình bày ý kiến của mình;

+ Hội đồng nhân dân thảo luận;

+ HĐND bỏ phiếu tín nhiệm bằng cách bỏ phiếu kín;

+ Thường trực HĐND trình HĐND thông qua nghị quyết xác nhận kết quả bỏ phiếu tín nhiệm

Người được bỏ phiếu tín nhiệm có thể xin từ chức nếu nhận được hơn một nửa số đại biểu HĐND đánh giá không tín nhiệm Nếu không từ chức, cơ quan có thẩm quyền sẽ giới thiệu để HĐND xem xét quyết định miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm Việc lấy phiếu tín nhiệm nhằm nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân và cải thiện chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước Đồng thời, nó cũng giúp người được đánh giá nhận thức được mức độ tín nhiệm của mình, từ đó phấn đấu nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc, làm cơ sở cho việc đánh giá cán bộ.

1.2.2 Giám sát chuyên đề của HĐND

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giám sát, HĐND có thể thành lập đoàn giám sát chuyên đề để xác minh thông tin cần thiết về các đối tượng chịu giám sát Nghị quyết thành lập đoàn cần nêu rõ đối tượng, phạm vi, nội dung, kế hoạch giám sát và thành phần đoàn Đoàn giám sát do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch HĐND làm trưởng đoàn, với sự tham gia của các ủy viên Thường trực HĐND, đại diện Ban của HĐND và một số đại biểu HĐND Đoàn giám sát có nhiệm vụ xây dựng đề cương báo cáo, thông báo nội dung và kế hoạch giám sát cho các đối tượng chịu giám sát, yêu cầu cung cấp thông tin và tài liệu liên quan, cũng như xử lý các hành vi vi phạm pháp luật nếu phát hiện Sau khi kết thúc giám sát, đoàn sẽ báo cáo kết quả cho HĐND tại kỳ họp gần nhất, sau khi đã báo cáo Thường trực HĐND.

HĐND tiến hành xem xét báo cáo của Đoàn giám sát theo quy trình sau: Đoàn giám sát trình bày kết quả giám sát; đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị giám sát sẽ báo cáo và giải trình; HĐND thảo luận, trong đó đại diện Đoàn giám sát có thể bổ sung thông tin liên quan; cuối cùng, HĐND ban hành nghị quyết về vấn đề giám sát, và nghị quyết này sẽ được gửi đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan.

1.2.3 Giám sát của Thường trực HĐND

Giám sát thường xuyên bao gồm việc xem xét các quyết định của Ủy ban nhân dân và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới có dấu hiệu vi phạm Hiến pháp, luật pháp, cũng như các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên Ngoài ra, cần xem xét việc trả lời chất vấn từ những người bị chất vấn theo quy định của Luật giám sát trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân Hoạt động giải trình tại phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân cũng là một phần quan trọng, cùng với việc giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và kiến nghị của cử tri.

Thường trực HĐND quyết định thành lập Đoàn giám sát chuyên đề dựa trên chương trình giám sát và tình hình thực tế tại địa phương Đoàn giám sát sẽ tập trung vào những lĩnh vực có nhiều ý kiến và kiến nghị từ cử tri Quyết định thành lập cần xác định rõ đối tượng, phạm vi, nội dung, kế hoạch giám sát, thành phần Đoàn giám sát cùng với các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát.

1.2.4 Giám sát của các Ban Hội đồng nhân dân

Các Ban của Hội đồng nhân dân xây dựng Chương trình giám sát hằng năm dựa trên chương trình giám sát của Hội đồng nhân dân, ý kiến từ Thường trực Hội đồng và các thành viên Chương trình này được xem xét và quyết định vào cuối năm trước Trưởng Ban có trách nhiệm thực hiện chương trình giám sát, và nếu cần thiết, chương trình có thể được điều chỉnh Giám sát của các Ban HĐND bao gồm nhiều hoạt động khác nhau nhằm đảm bảo tính hiệu quả và minh bạch trong công tác quản lý.

- Giám sát thường xuyên: Thẩm tra các báo cáo do Hội đồng nhân dân,

Thường trực Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ phân công và giám sát các quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp, cũng như nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp Đồng thời, cơ quan này cũng giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân.

Giám sát chuyên đề được thực hiện dựa trên chương trình giám sát hoặc thông qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, cùng với thông tin từ phương tiện truyền thông và ý kiến của cử tri Khi phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc theo yêu cầu của Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân sẽ tổ chức Đoàn giám sát Quyết định thành lập Đoàn giám sát cần xác định rõ phạm vi, đối tượng, nội dung, kế hoạch giám sát và thành phần của Đoàn Đoàn giám sát do Trưởng Ban hoặc Phó Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân lãnh đạo, với sự tham gia của các Ủy viên Ban và một số đại biểu Hội đồng nhân dân Đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cũng có thể được mời tham gia.

1.2.5 Giám sát của các đại biểu Hội đồng nhân dân cấp quận

Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2015 quy định rõ ràng về nhiệm vụ và quyền hạn của Tổ đại biểu HĐND cấp quận, bao gồm cả hoạt động giám sát Cụ thể, Khoản 1 Điều 112 của Luật nêu rõ các quyền hạn và trách nhiệm trong việc giám sát hoạt động của chính quyền địa phương.

Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát của HĐND quận

1.3.1 Sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện trên nhiều phương diện, như đề ra chủ trương, đường lối, công tác cán bộ, công tác tư tưởng Đảng giữ vai trò rất quan trọng đối với giám sát của Hội đồng nhân dân

Hầu hết các đại biểu Hội đồng Nhân dân cấp quận đều là đảng viên, và những người bị chất vấn cũng là đảng viên giữ các vị trí quan trọng trong bộ máy của cấp ủy Đảng như Bí thư quận ủy, Phó Bí thư quận ủy, Trưởng ban của quận ủy, cùng một số Trưởng phòng ban thuộc quận.

Lãnh đạo của cấp ủy Đảng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giám sát của HĐND quận Chủ trương và đường lối của cấp ủy Đảng là nền tảng chính trị cho hoạt động giám sát này Qua các cơ chế khác nhau, lãnh đạo cấp ủy Đảng tác động đến HĐND và các đối tượng mà HĐND giám sát.

1.3.2 Cách thức thực hiện giám sát của HĐND quận

Cách thức giám sát của HĐND quận đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giám sát Điều này được thể hiện qua nhiều khía cạnh, bao gồm trình tự và thủ tục giám sát, công tác chuẩn bị và lựa chọn các vấn đề để chất vấn, cũng như cách thức điều hành hoạt động chất vấn và giám sát tại kỳ họp, cùng với thời gian và phương pháp thực hiện chất vấn.

Công tác chuẩn bị chất vấn tại phiên họp toàn thể đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giám sát Các bước chuẩn bị bao gồm việc cung cấp kết quả giám sát từ các cơ quan chuyên trách của HĐND quận và báo cáo hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát Chuẩn bị chu đáo sẽ là nền tảng cho chất lượng chất vấn hiệu quả.

Cách thức điều hành chất vấn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giám sát Việc điều hành hiệu quả giúp phiên chất vấn diễn ra một cách thuận lợi, rõ ràng và có trật tự Công tác điều hành cần được thực hiện một cách khoa học, từ khâu đăng ký đến việc phân chia thời gian cho từng vấn đề và đại biểu, cũng như xác định trọng tâm chất vấn Đại biểu và người trả lời cần trình bày ngắn gọn, rõ ràng và đi thẳng vào những vấn đề mà dư luận quan tâm, đồng thời sẵn sàng làm rõ những vấn đề liên quan khi cần thiết.

Việc tổ chức giám sát theo trình tự và thủ tục hợp lý sẽ đảm bảo kết quả giám sát toàn diện, phản ánh chính xác các vấn đề với chất lượng và hiệu quả cao, đồng thời thể hiện tính chuyên nghiệp trong quá trình giám sát.

1.3.3.Về trình độ hiểu biết và phẩm chất chính trị, đạo đức của đại biểu HĐND quận Đây là yếu tố hết sức quan trọng đối với chất lượng giám sát của HĐND, bởi giám sát mang đậm bản chất của hoạt động tư duy Nếu hiểu biết toàn diện, sẽ có khả năng tiếp cận toàn diện, đầy đủ, đánh giá vấn đề một cách khoa học, từ đó đưa ra phương hướng, biện pháp giải quyết vấn đề một cách đúng đắn, kịp thời và hiệu quả Ngược lại, vấn đề sẽ bị nhìn nhận một cách phiến diện, đánh giá không đúng thực tế và không đưa ra được phương hướng, giải pháp phù hợp, gây tốn kém, thậm chí gây ra nhiều vấn đề phức tạp khác cho quản lý nhà nước và xã hội

Trình độ hiểu biết về quản lý nhà nước bao gồm lý luận và thực tiễn theo ngành, lĩnh vực, lãnh thổ và đối tượng, cũng như lý thuyết về phân cấp, phân quyền trong bộ máy nhà nước Nó còn bao gồm kiến thức về thực trạng, những vấn đề bất cập và thành tựu của hệ thống, cùng với pháp luật hiện hành, đặc biệt là các quy định trong Hiến pháp và các luật tổ chức cơ quan nhà nước Thêm vào đó, cần có vốn tri thức thực tiễn về các lĩnh vực đời sống, vùng miền, các tầng lớp xã hội, cũng như sự vận động của tự nhiên và xã hội.

Để HĐND đạt trình độ cao về lý luận và tri thức thực tiễn, các đại biểu cần có nền tảng lý luận vững chắc nhằm nhận thức đúng đắn các vấn đề liên quan HĐND cũng cần có cơ cấu đại biểu đa dạng về lĩnh vực hoạt động, thành phần xã hội, giới tính, địa phương và vùng miền, vì tri thức của từng đại biểu có giới hạn Những yêu cầu này không chỉ áp dụng cho các cuộc bầu cử HĐND các cấp mà còn cho công tác bồi dưỡng đại biểu HĐND quận Tây Hồ.

Phẩm chất chính trị, đạo đức và trách nhiệm của đại biểu HĐND quận là những yếu tố cốt lõi, đóng vai trò nền tảng quan trọng trong hoạt động của các cán bộ, công chức Những phẩm chất này không chỉ đảm bảo sự hiệu quả trong công việc mà còn góp phần xây dựng niềm tin của người dân đối với chính quyền địa phương.

Phẩm chất chính trị, đạo đức và trách nhiệm của đại biểu được đánh giá từ cả góc độ cá nhân và tập thể HĐND quận, thể hiện sự đại diện và trách nhiệm với nhân dân Đại biểu cần thấm nhuần lý tưởng cách mạng, nâng cao trình độ lý luận chính trị và rèn luyện đạo đức Tuy nhiên, phẩm chất này cũng chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố bên ngoài, đặc biệt là lợi ích vật chất và chính trị Để nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND quận, cần xem xét cơ cấu giữa đại biểu chuyên trách và kiêm nhiệm, đồng thời tăng cường các khóa bồi dưỡng lý luận chính trị cho đại biểu Cần có cơ chế dân chủ trong bầu cử và chất vấn để đại biểu tự hoàn thiện, cùng với cơ chế giám sát từ nhân dân đối với các đại biểu mà họ đã trao quyền.

1.3.4 Về quyền và nghĩa vụ của HĐND quận trong thực hiện quyền quyết định và giám sát Để giám sát của HĐND quận đạt chất lượng cao, trước hết HĐND quận phải có đủ các quyền cần thiết trong xem xét báo cáo giám sát của các cơ quan trực thuộc; xem xét báo cáo công tác, văn bản quy phạm pháp luật và đặc biệt là xem xét việc trả lời chất vấn của các đối tượng chịu sự giám sát Song song với các quyền đó, HĐND quận có nghĩa vụ trước nhân dân về giám sát Mặt khác, chất lượng giám sát gắn liền với chất lượng chất vấn của đại biểu HĐND

Quyền và nghĩa vụ của đại biểu trong chất vấn đóng vai trò quan trọng trong công tác giám sát của HĐND Những quyền này không chỉ là công cụ pháp lý mà còn là yêu cầu thiết yếu để đại biểu thực hiện hiệu quả nhiệm vụ giám sát Nếu không có các quyền cần thiết, công tác giám sát sẽ gặp khó khăn và không đạt được chức năng, nhiệm vụ đề ra.

1.3.5 Về cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ giám sát Đây là một yếu tố góp phần quan trọng nâng cao chất lượng giám sát Cơ sở vật chất, kỹ thuật bao gồm tất cả các trang thiết bị, công nghệ, giải pháp kỹ thuật phục vụ quá trình giám sát tại kỳ họp Các tài liệu được thể hiện trên các dạng vật chất truyền thống như: giấy, đĩa, băng Video cũng cần có hệ thống chủ động cung cấp đầy đủ, kịp thời Cơ sở vật chất, kỹ thuật không chỉ phục vụ tại kỳ họp, mà còn phải phục vụ cho việc giám sát của các cơ quan trực thuộc HĐND quận Do đó, đòi hỏi HĐND quận cùng các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thường xuyên nghiên cứu để đầu tư, nâng cấp một cách đồng bộ, phù hợp với trình độ phát triển khoa học, công nghệ và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong giám sát

Kinh nghiệm hoạt động giám sát của HĐND của các quận và giá trị

Các hoạt động giám sát tại các địa phương đã mang lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho hoạt động giám sát của HĐND quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

Thường trực HĐND và đại biểu HĐND cần chú trọng đến chất lượng và nội dung của các văn bản trình tại kỳ họp, bên cạnh việc xem xét kết quả báo cáo Để đảm bảo đại biểu có đủ thông tin cho việc thảo luận và quyết nghị, Thường trực HĐND quận yêu cầu các Ban HĐND tiến hành thẩm tra, tập trung vào các đề án, vấn đề nổi cộm, ý kiến cử tri và tình hình thực tế địa phương nhằm đưa ra ý kiến thẩm tra chính xác.

Việc tổ chức phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp cần được sắp xếp thời gian hợp lý và điều hành linh hoạt, đảm bảo các đối tượng bị chất vấn trả lời đầy đủ theo nội dung câu hỏi Đồng thời, cần duy trì quy chế phối hợp giữa Thường trực HĐND, UBND và Ban Thường trực UBMTQ Việt Nam quận Tây Hồ với các Tổ đại biểu HĐND Điều này tạo mối liên hệ mật thiết với cử tri địa phương, lắng nghe và trao đổi những tâm tư, nguyện vọng, ý kiến kiến nghị của cử tri, thực sự trở thành cầu nối giữa cử tri và chính quyền các cấp.

Ba là, việc lựa chọn nội dung giám sát chuyên đề cần phù hợp với thực tế địa phương và tập trung vào các vấn đề nổi cộm mà cử tri quan tâm Trong quá trình giám sát, cần thực hiện việc xác minh thực tế, thu thập thông tin và tài liệu để đối chiếu với báo cáo Nếu cần thiết, nên mời chuyên gia hoặc những người có kiến thức chuyên sâu để tư vấn và hỗ trợ Đồng thời, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và đôn đốc việc thực hiện cũng như giải quyết các ý kiến kiến nghị sau giám sát, cũng như những ý kiến và kiến nghị từ cử tri và các cơ quan chức năng, chính quyền các cấp.

Hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện thường xuyên bởi Ban Pháp chế, nhằm đảm bảo tính hợp hiến và hợp pháp Qua đó, việc phát hiện kịp thời các dấu hiệu vi phạm pháp luật sẽ dẫn đến kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ các văn bản không phù hợp.

Trong năm nay, cần tiếp tục bồi dưỡng và tập huấn kỹ năng cho các đại biểu HĐND, đồng thời cung cấp đầy đủ thông tin và tài liệu cần thiết Các đại biểu cũng cần tu dưỡng và rèn luyện bản thân, không ngừng học hỏi để nâng cao nhận thức và trình độ, từ đó nắm vững tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh của địa phương.

Trong chương 1, học viên đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động giám sát của HĐND cấp quận, bao gồm chức năng và nhiệm vụ của HĐND quận Luận văn hệ thống hóa các điều kiện cần thiết để thực hiện hiệu quả hoạt động giám sát, đảm bảo việc thực hiện các kết luận và kiến nghị giám sát, cũng như các điều kiện tổ chức phục vụ cho hoạt động giám sát của HĐND cấp quận.

Trong chương 1, học viên đã khảo sát kinh nghiệm giám sát của một số địa phương và rút ra những giá trị tham khảo cho quận Tây Hồ, Hà Nội Những bài học này sẽ giúp quận Tây Hồ nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của HĐND, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong bối cảnh mới.

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HĐND QUẬN TÂY HỒ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngày đăng: 13/07/2022, 11:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Thống kê về hoạt động tiếp xúc cử tri của HĐND quận Tây Hồ nhiệm kỳ 2016-2021 - Hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân quận tây hồ, thành phố hà nội
Bảng 2.1. Thống kê về hoạt động tiếp xúc cử tri của HĐND quận Tây Hồ nhiệm kỳ 2016-2021 (Trang 43)
Bảng 2.2. Mức độ tham gia của đại biểu HĐND vào hoạt động giám sát của HĐND quận Tây Hồ - Hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân quận tây hồ, thành phố hà nội
Bảng 2.2. Mức độ tham gia của đại biểu HĐND vào hoạt động giám sát của HĐND quận Tây Hồ (Trang 44)
Bảng 2.3. Thống kê các Đoàn giám sát của HĐND quận Tây Hồ - Hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân quận tây hồ, thành phố hà nội
Bảng 2.3. Thống kê các Đoàn giám sát của HĐND quận Tây Hồ (Trang 45)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w