1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN VĂN THẠC SĨ) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình

143 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyển Dịch Cơ Cấu Ngành Kinh Tế Tỉnh Ninh Bình
Tác giả Phạm Văn Chung
Người hướng dẫn TS. Đào Thị Bích Thủy
Trường học Đại Học Kinh Tế Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Thạc Sĩ
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 1,15 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ (88)
    • 1. Cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế (12)
      • 1.1. Khái niệm (12)
      • 1.2. Các đặc trưng chủ yếu của cơ cấu kinh tế (0)
    • 2. Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (16)
      • 2.1. Khái niệm về cơ cấu ngành kinh tế (16)
      • 2.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và ý nghĩa của nó (20)
      • 2.3. Những chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (21)
        • 2.3.1. Cơ cấu GDP (21)
        • 2.3.2. Cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế (22)
        • 2.3.3. Cơ cấu hàng xuất khẩu (23)
      • 2.4. Những nhân tố ảnh hưởng tới sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (25)
        • 2.4.1. Các nhân tố đầu vào của sản xuất (25)
        • 2.4.2. Nhóm các nhân tố đầu ra của sản xuất (34)
    • 3. Khái quát quan điểm, đường lối của đảng về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam qua các kỳ đại hội (37)
    • 1. Đặc điểm cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình (47)
      • 1.1. Điều kiện tự nhiên (47)
      • 1.2. Phân tích, đánh giá tài nguyên thiên nhiên (48)
        • 1.2.1. Khí hậu thuỷ văn (48)
        • 1.2.2. Đất đai (49)
        • 1.2.3. Tài nguyên khoáng sản (52)
        • 1.2.4. Tài nguyên rừng và nguồn lợi thuỷ sản (52)
        • 1.2.5. Tài nguyên phục vụ du lịch (53)
      • 1.3. Dân số, dân tộc và nguồn nhân lực (54)
        • 1.3.1. Dân số, cơ cấu và dân tộc (54)
        • 1.3.2. Nguồn nhân lực (55)
      • 1.4. Công tác giáo dục, ý tế; cơ sở vật chất hạ tầng về giao thông; công tác môi trường và quốc phòng an ninh (0)
        • 1.4.1. Công tác văn hóa - giáo dục, y tế, thể thao (56)
        • 1.4.2. Kết cấu hạ tầng (58)
        • 1.4.3. Quốc phòng và an ninh (59)
    • 2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001-2005 (60)
      • 2.1. Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình giai đoạn (60)
        • 2.2.1. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu theo GDP (0)
        • 2.2.2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vốn đầu tư (0)
        • 2.2.3. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lao động (0)
        • 2.2.4. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế (66)
      • 2.3. Đánh giá chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn 2001- (84)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦA TỈNH NINH BÌNH TRONG THỜI (0)
    • 1.1. Căn cứ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (88)
      • 1.1.1 Ảnh hưởng của bối cảnh quốc tế, khu vực và sự tham gia WTO (88)
      • 1.1.2. Ảnh hưởng của cả nước, vùng đồng bằng sông Hồng (89)
    • 1.2. Quan điểm, mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (90)
      • 1.2.1. Quan điểm chuyển dịch (90)
      • 1.2.2. Mục tiêu chuyển dịch (92)
    • 1.3. Phương hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (94)
      • 1.3.1. Kết hợp tối ưu giữa cơ cấu ngành với cơ cấu vùng, lãnh thổ với cơ cấu thành phần kinh tế (94)
      • 1.3.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng giảm mạnh tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng mạnh tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ (95)
      • 1.3.3. Phát triển toàn diện đi đôi với quá trình hội nhập (96)
      • 1.3.4. Phát huy lợi thế so sánh (96)
    • 1.4. Phương án chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến năm 2020 (96)
      • 1.4.2. Phương hướng chuyển dịch trong nội bộ từng ngành kinh tế (98)
    • 2. Các giải pháp chủ yếu thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới (118)
      • 2.1 Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội (118)
        • 2.1.1 Quy hoạch phát triển KT - XH theo 3 vùng (118)
        • 2.1.2. Phát triển không gian cụ thể từng ngành (119)
      • 2.2. Giải pháp khai thác sử dụng đất đai (123)
      • 2.3. Giải pháp về vốn đầu tư (125)
      • 2.4. Giải pháp về thị trường (130)
      • 2.5. Đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (0)
      • 2.6. Xây dựng kết cấu hạ tầng (134)
      • 2.7. Giải pháp khoa học công nghệ (137)
      • 2.8. Giải pháp về cơ chế chính sách (138)
      • 2.9. Củng cố quốc phòng, an ninh (140)
  • KẾT LUẬN (141)

Nội dung

LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ

Cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế là tổng thể hợp thành từ nhiều yếu tố kinh tế của nền kinh tế quốc dân, với mối quan hệ hữu cơ và tác động qua lại về số lượng và chất lượng trong các điều kiện cụ thể Từ góc độ duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống, cơ cấu kinh tế không chỉ là phạm trù kinh tế mà còn là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ, chất lượng, quy mô, cũng như trình độ công nghiệp hóa và hiện đại hóa của một quốc gia.

Cơ cấu kinh tế được hiểu là một hệ thống tổng thể bao gồm nhiều yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau trong không gian và thời gian nhất định Nó được thể hiện qua cả phương diện định tính và định lượng, phản ánh cả số lượng lẫn chất lượng, và phù hợp với mục tiêu xác định của nền kinh tế Cách tiếp cận này nhấn mạnh bản chất chủ yếu của cơ cấu kinh tế.

Cơ cấu kinh tế là tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế của một quốc gia

Cơ cấu kinh tế phản ánh số lượng và tỷ trọng của các nhóm ngành, cùng với các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế trong bối cảnh tổng thể của nền kinh tế quốc gia.

Trong cơ cấu kinh tế các mối quan hệ giữa các nhóm ngành tương tác lẫn nhau hướng vào mục tiêu xác định

Cơ cấu kinh tế là một yếu tố linh hoạt, không cố định và luôn biến động theo từng điều kiện không gian và thời gian Mỗi quốc gia cần nghiên cứu và phát triển cơ cấu kinh tế phù hợp với đặc thù của mình Để đạt được sự tăng trưởng và phát triển bền vững, cơ cấu kinh tế cần có những điều chỉnh cần thiết, phản ánh sự thay đổi của điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội.

Trên quan điểm tiếp cận của học thuyết Mác-Lênin, C.Mác quan niệm:

C.Mác định nghĩa rằng toàn bộ các quan hệ giữa con người trong sản xuất và giữa họ với tự nhiên tạo thành xã hội, đặc biệt là trong cấu trúc kinh tế Cấu trúc kinh tế bao gồm hai yếu tố chính: lực lượng sản xuất, tức là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và công nghệ, và quan hệ sản xuất, là các quan hệ kinh tế giữa con người trong quá trình tái sản xuất xã hội Để phân tích cơ cấu kinh tế một cách chính xác, cần xem xét mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Một cơ cấu kinh tế hợp lý là cơ cấu được hình thành và phát triển, trong đó các yếu tố của quan hệ sản xuất phải luôn tương thích với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.

Cơ cấu kinh tế được hiểu là tỷ trọng giữa các bộ phận, ngành nghề và lĩnh vực trong một hệ thống kinh tế hợp lý Các bộ phận này có mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong từng giai đoạn phát triển của xã hội.

1.2 Các đặc trƣng chủ yếu của cơ cấu kinh tế

- Một là, cơ cấu kinh tế mang tính chất khách quan:

Cơ cấu kinh tế hình thành từ sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, luôn tiếp thu ưu điểm từ các giai đoạn trước Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử quyết định tính đa dạng của cơ cấu kinh tế ở từng vùng, từng quốc gia Do đó, cơ cấu kinh tế không chỉ phản ánh quy luật phát triển chung mà còn phải phù hợp với đặc thù tự nhiên, kinh tế và lịch sử của mỗi địa phương Không tồn tại một mẫu cơ cấu chung cho mọi phương thức sản xuất hay vùng kinh tế; mỗi quốc gia cần lựa chọn cơ cấu kinh tế phù hợp với từng giai đoạn phát triển lịch sử.

- Hai là, cơ cấu kinh tế có mối quan hệ cân đối, đồng bộ, có tính lịch sử, cụ thể:

Cơ cấu kinh tế có mối quan hệ cân đối giữa các bộ phận kinh tế trong hệ thống lớn, vừa và nhỏ, với sự tác động lẫn nhau theo quy luật đặc thù Trong đó, các bộ phận kinh tế được phân chia thành chính và thứ yếu, với bộ phận chính (then chốt, mũi nhọn) đóng vai trò quyết định đến quy mô và nhịp độ phát triển Bộ phận này cần được ưu tiên về vốn, khoa học công nghệ và chính sách do lợi thế so sánh của nó Việc phân bổ vốn đầu tư đồng đều trên tất cả các bộ phận kinh tế không đạt hiệu quả, trong khi tập trung quá mức vào một bộ phận có thể gây ra mất cân đối trong cơ cấu kinh tế.

- Ba là, cơ cấu kinh tế có tính đa dạng và tính mở:

Cơ cấu kinh tế cần phải biến đổi và điều chỉnh để phù hợp với sự thay đổi của điều kiện kinh tế xã hội và tiến bộ khoa học công nghệ, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững Theo triết học của C.Mác, mọi sự vật và hiện tượng đều vận động và biến đổi không ngừng Sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học kỹ thuật và phân công lao động xã hội cao hơn sẽ dẫn đến sự hoàn thiện của cơ cấu kinh tế Mối quan hệ giữa sự biến đổi của cơ cấu kinh tế và các bộ phận kinh tế là tương tác lẫn nhau, nơi sự phát triển của bộ phận kinh tế sẽ kéo theo sự thay đổi và hoàn thiện của cơ cấu kinh tế Sự chuyển biến từ lượng sang chất tạo ra cơ cấu kinh tế mới, phản ánh sự tiến bộ của văn minh nhân loại Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế cần phải duy trì sự ổn định trong một khoảng thời gian nhất định để tránh gây ra sự không ổn định trong sản xuất và đầu tư, từ đó giảm thiểu lãng phí và tổn thất cho nền kinh tế.

- Bốn là, việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế là một quá trình:

Quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế không thể diễn ra ngay lập tức mà cần tích lũy và thay đổi dần dần để dẫn đến sự chuyển biến chất lượng Cơ cấu kinh tế cũ sẽ dần thay đổi để hình thành cơ cấu mới, với tốc độ chuyển dịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là sự lãnh đạo và quản lý Sự nóng vội hoặc bảo thủ trong quản lý có thể cản trở sự phát triển kinh tế Do đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần phải là một quá trình có kế hoạch, dựa trên hiểu biết sâu sắc về thực tế để tạo ra những tiền đề thúc đẩy sự chuyển đổi diễn ra nhanh chóng và đúng hướng.

Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

2.1 Khái niệm về cơ cấu ngành kinh tế

Cơ cấu ngành kinh tế là sự kết hợp của các ngành, thể hiện mối quan hệ tỷ lệ giữa các nhóm ngành trong nền kinh tế quốc dân Nó phản ánh mức độ phân công lao động xã hội của một quốc gia Khi phân tích cơ cấu ngành, thường tập trung vào ba nhóm ngành chính.

Ngành nông nghiệp bao gồm các lĩnh vực nông, lâm và ngư nghiệp, trong khi ngành công nghiệp bao gồm các lĩnh vực công nghiệp và xây dựng Ngoài ra, nhóm ngành dịch vụ bao gồm thương mại, bưu điện và du lịch, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế.

Sự phát triển của các ngành kinh tế không chỉ tuân theo các đặc điểm chung của sản xuất xã hội mà còn phản ánh những đặc thù riêng biệt của từng giai đoạn và quốc gia.

Nghiên cứu cơ cấu ngành kinh tế nhằm xác định các phương thức duy trì tỷ lệ hợp lý và xác định những lĩnh vực ưu tiên để tập trung nguồn lực quốc gia Điều này giúp thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong từng thời kỳ.

Nước ta về cơ bản vẫn còn là một nước nông nghiệp Mục tiêu đến năm

Năm 2020, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển mình cơ bản thành nền kinh tế công nghiệp, với yêu cầu tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, đồng thời giảm tỷ trọng nông nghiệp Theo kinh nghiệm toàn cầu, quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp thường trải qua các giai đoạn: bắt đầu với tỷ trọng nông nghiệp chiếm 40-60%, công nghiệp 10-20%, dịch vụ 10-30%, và tiến tới nền kinh tế công nghiệp phát triển với nông nghiệp 10%, công nghiệp 34-40%, dịch vụ 50-60% Cuối cùng, một nền kinh tế phát triển sẽ có cơ cấu dịch vụ 55-60%, công nghiệp 30-35%, và nông nghiệp chỉ còn 5%.

Cơ cấu ngành kinh tế là yếu tố then chốt trong cơ cấu của nền kinh tế Để hiểu rõ bản chất của cơ cấu kinh tế và thực hiện hiệu quả các giải pháp chuyển dịch, cần xem xét các bộ phận cơ bản như cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế.

Cơ cấu kinh tế lãnh thổ được hình thành chủ yếu từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý, khác với cơ cấu ngành kinh tế, vốn hình thành từ quá trình phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất.

Cơ cấu kinh tế và cơ cấu lãnh thổ là hai khía cạnh không thể tách rời trong một vùng kinh tế, phản ánh sự phân công lao động xã hội.

Cơ cấu lãnh thổ được hình thành dựa vào cơ cấu ngành và sự thống nhất trong vùng kinh tế, phản ánh rõ nét trong các điều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ Xu hướng phát triển của cơ cấu lãnh thổ thường mang tính tổng hợp, ưu tiên một số ngành nhất định, đồng thời gắn liền với việc phân bổ dân cư hợp lý, phù hợp với các điều kiện và tiềm năng phát triển kinh tế của khu vực.

Cơ cấu lãnh thổ phản ánh những thế mạnh đặc thù của từng vùng thông qua việc sản xuất chuyên môn hóa kết hợp với phát triển tổng thể Nó có tính "trì trệ" hơn so với cơ cấu ngành và thành phần kinh tế, do đặc tính sức ỳ lớn, đặc biệt là yêu cầu về tiện lợi và lợi nhuận Vì vậy, những sai lầm trong bố trí cơ cấu lãnh thổ có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế.

Sự chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ dựa vào sự thay đổi các ngành chuyên môn hóa, là quá trình cải tạo và xây dựng lực lượng sản xuất mới theo từng vùng lãnh thổ Quá trình này tích tụ mối quan hệ giữa các yếu tố, nhằm phát triển cơ cấu lãnh thổ phù hợp với từng giai đoạn phát triển Để đạt được hiệu quả, chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ cần đảm bảo sự hình thành và phát triển của các ngành kinh tế, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, phong tục tập quán và truyền thống của mỗi vùng, từ đó khai thác tối đa thế mạnh của từng khu vực.

Cơ cấu thành phần kinh tế là yếu tố quan trọng hình thành từ chế độ sở hữu, có vai trò thúc đẩy lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Một cơ cấu hợp lý sẽ tác động tích cực đến cơ cấu ngành và lãnh thổ, thể hiện mối quan hệ giữa các loại cơ cấu trong nền kinh tế Tại Việt Nam, kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc thực hiện chính sách của Nhà nước, quản lý vĩ mô nền kinh tế và đảm bảo nhu cầu cơ bản của xã hội như an ninh, môi trường và phát triển các ngành trọng điểm Bên cạnh đó, các thành phần kinh tế tập thể, tư nhân, tư bản Nhà nước và kinh tế hộ gia đình cũng rất cần thiết để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đa dạng của người dân, từ ăn uống đến giải trí, nhất là những nhu cầu mà kinh tế Nhà nước chưa đáp ứng đủ hoặc thực hiện kém hiệu quả.

Ba bộ phận cơ bản của cơ cấu kinh tế bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Cơ cấu ngành đóng vai trò quyết định, hình thành và phát triển dựa trên quan hệ cung cầu thị trường Cơ cấu thành phần kinh tế là lực lượng quan trọng thực hiện cơ cấu ngành, tổ chức hoạt động dựa trên khả năng và thế mạnh của từng thành phần Người sản xuất và kinh doanh những lĩnh vực mang lại lợi ích kinh tế xã hội, an ninh và bền vững môi trường sẽ có quyền lựa chọn Việc chuyển dịch cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế một cách hợp lý trên từng lãnh thổ là rất quan trọng để phát triển kinh tế.

Cơ cấu ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế quốc gia, vì vậy bài viết này sẽ tập trung vào các vấn đề liên quan đến cơ cấu ngành trong nền kinh tế.

2.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và ý nghĩa của nó

Quá trình phát triển kinh tế dẫn đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế, bao gồm cả số lượng và chất lượng Đặc biệt, trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cùng với các cuộc cách mạng sản xuất, có sự biến đổi mạnh mẽ về cơ cấu, đặc biệt là cơ cấu ngành kinh tế.

Khái quát quan điểm, đường lối của đảng về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam qua các kỳ đại hội

CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ Ở VIỆT NAM QUA CÁC KỲ ĐẠI HỘI

Tại Đại hội lần thứ III của Đảng vào năm 1960, vấn đề công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã được đặt ra với quan điểm chỉ đạo là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời chú trọng phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.

Cách tiếp cận vấn đề công nghiệp hóa trong giai đoạn này chú trọng vào phát triển công nghiệp nặng ngay từ đầu, nhằm tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững và hiệu quả của nền kinh tế Việc tập trung vào công nghiệp nặng không chỉ giúp tăng cường năng lực sản xuất mà còn thúc đẩy sự chuyển mình của các ngành công nghiệp khác, góp phần vào quá trình hiện đại hóa đất nước.

+ Xuất phát từ quan điểm chính trị với việc khẳng định rằng đó là sự trung thành duy nhất đúng với học thuyết kinh tế Macxit

+ Vai trò “đòn bẩy” của công nghiệp nặng đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Áp lực từ hoàn cảnh đã xác định tính chất cấp thiết trong việc xây dựng nền sản xuất nhỏ, điều này trở nên phổ biến trong bối cảnh cần thiết phải phát triển hậu phương lớn ở miền Bắc nhằm hỗ trợ cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam.

Sau 16 năm thống nhất đất nước, Đại hội IV của Đảng (1976) khẳng định việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng nhưng trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ Mặc dù có sự thay đổi trong cách diễn đạt, tư tưởng chính vẫn nhấn mạnh vai trò của công nghiệp nặng Tại Đại hội V (1982), Đảng tiếp tục coi công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm, đồng thời chỉ ra sai lầm trong chính sách cơ cấu do thiếu chuẩn bị các điều kiện cần thiết, đối mặt với nguy cơ trì trệ và khủng hoảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III nhấn mạnh rằng hành trình công nghiệp hóa có tính chất nhiều giai đoạn Thay vì chỉ tập trung vào việc thúc đẩy công nghiệp hóa, giai đoạn đầu hiện nay cần chú trọng vào việc phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đồng thời đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng.

Trong giai đoạn đầu thực hiện công nghiệp hóa, Đại hội V đã điều chỉnh quan điểm về cơ cấu kinh tế, thừa nhận rằng nền kinh tế chưa đủ chín muồi để chuyển dịch sang công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng, mà không gây ra mất cân đối dẫn đến khủng hoảng Tuy nhiên, những sửa chữa cơ cấu trong những năm đầu thập kỷ 1980 vẫn được đánh giá là “chưa đạt yêu cầu”.

Một trong những nguyên nhân chính khiến việc khắc phục không triệt để là do dựa vào chính cách lập luận đã hình thành quan điểm sai lầm để sửa chữa Điều này đã được thể hiện rõ trong Đại hội VI.

Năm 1986, việc đặt ra vấn đề “đổi mới tư duy kinh tế” đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng trong nhận thức lý luận về cơ cấu ngành kinh tế trong giai đoạn công nghiệp hóa.

Cho đến năm 1986, tức là hơn 10 năm sau ngày đất nước thống nhất và tuyên bố “đẩy mạnh” công nghiệp hóa, và gần 5 năm sau khi thực hiện việc

Sản xuất và bố trí lại xây dựng cơ bản là cần thiết để nâng cao hiệu quả đầu tư, ổn định tình hình kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân, đồng thời tạo tiền đề cho công nghiệp hóa Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa đạt được mục tiêu mà Đại hội lần thứ V đã đề ra Những đánh giá thẳng thắn về thực trạng cho thấy rằng, mặc dù có những thuận lợi, nhưng vẫn cần ưu tiên thực hiện các biện pháp để đẩy mạnh công nghiệp hóa một cách hiệu quả hơn.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V đã chỉ ra rằng việc phát triển công nghiệp nặng đã bị thổi phồng và thừa nhận những sai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế Nguyên nhân chính được xác định là do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội, và mong muốn bỏ qua các bước đi cần thiết Điều này dẫn đến việc bố trí cơ cấu sản xuất và đầu tư không phù hợp với điều kiện thực tế, khiến cho kết quả đạt được vẫn còn rất hạn chế so với điểm xuất phát thấp ban đầu Những sai lầm và khuyết điểm này đã làm cho tình hình trở nên khó khăn hơn.

Từ đánh giá lại thực trạng của xuất phát điểm như trên, Đại hội lần thứ

Giải pháp cơ cấu theo VI (1986) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tập trung nguồn lực con người và vật chất để thực hiện hiệu quả ba chương trình mục tiêu, bao gồm lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.

Đại hội VI tiếp tục kế thừa nhiệm vụ công nghiệp hóa từ Đại hội III và tính chất nhiều giai đoạn từ Đại hội V, nhưng tập trung vào ba chương trình kinh tế lớn trong giai đoạn 1986-1990: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Nhiệm vụ của công nghiệp nặng và kết cấu hạ tầng được điều chỉnh để phục vụ các chương trình kinh tế này, thay vì phát triển độc lập như trước Ngành công nghiệp năng lượng trở thành ưu tiên hàng đầu, thay vì các ngành công nghiệp nặng khác Đến Đại hội VII, sau khi đánh giá quá trình "đổi mới", đã ghi nhận những tiến bộ rõ rệt trong thực hiện các mục tiêu của ba chương trình kinh tế, đồng thời nhận định về khủng hoảng kinh tế - xã hội.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đã nhấn mạnh rằng tình trạng hiện tại vẫn chưa kết thúc, điều này cho thấy chúng ta vẫn đang đối mặt với những thách thức mới.

Trong những năm tới, mục tiêu tổng quát từ 1991 đến 1995 là vượt qua khó khăn, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, nhằm đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng Việc phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới được xác định là nhiệm vụ hàng đầu để ổn định kinh tế - xã hội Tại Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1996, dựa trên những thành tựu từ hơn 10 năm đổi mới, mục tiêu được đề ra là phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020.

Để hướng tới một nền kinh tế mở và hội nhập, chúng ta cần tập trung vào xuất khẩu và thay thế hàng nhập khẩu bằng sản phẩm nội địa hiệu quả Trong bối cảnh vốn hạn chế, nhu cầu việc làm cao và đời sống nhân dân còn khó khăn, cần tránh chủ quan và nóng vội, đặc biệt là trong phát triển công nghiệp nặng Thay vào đó, nên chú trọng vào công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn, phát triển các ngành nông - lâm - thủy sản, công nghiệp chế biến, hàng tiêu dùng và xuất khẩu, cũng như các lĩnh vực du lịch và dịch vụ Đồng thời, cần khôi phục và hiện đại hóa các nghề tiểu thủ công truyền thống, kết hợp với việc mở rộng các ngành nghề mới.

7 (ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII NXB Sự thật, Hà Nội, 1991, tr 63)

8 (Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,

Đặc điểm cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình

Ninh Bình là tỉnh nằm ở phía nam đồng bằng sông Hồng, cách Hà Nội hơn 90km Ranh giới của tỉnh được xác định rõ ràng, tạo nên vị trí địa lý đặc biệt của Ninh Bình trong khu vực.

+ Phía bắc giáp tỉnh Hà Nam; Phía đông giáp tỉnh Nam Định; Phía đông nam giáp biển Đông;

Tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, nằm ở phía tây và tây nam giáp tỉnh Thanh Hoá, phía tây bắc giáp tỉnh Hoà Bình Sự gần gũi với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và các trung tâm kinh tế lớn càng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của tỉnh.

- Đặc điểm địa hình và phân vùng

Tỉnh có diện tích tự nhiên 1.391 km² với địa hình đa dạng, bao gồm núi đồi ở phía tây và tây nam, đồng bằng trũng xen kẽ núi đá vôi ở giữa, cùng với đồng bằng phì nhiêu ở phía đông và đông nam Khu vực phía nam có bãi bồi ven biển, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế.

XH với cả 3 thế mạnh ở miền đồi núi, vùng đồng bằng và miền ven biển, cụ thể có thể chia làm 3 vùng như sau:

Vùng đồi núi phía tây Việt Nam nổi bật với các dãy núi đá vôi dốc lớn, núi đất và đồi xen kẽ các thung lũng lòng chảo hẹp Trong tiểu vùng này còn có những địa hình bình nguyên Khu vực chủ yếu tập trung tại huyện Nho Quan, phía bắc - đông bắc huyện Gia Viễn và phần lớn thị xã Tam Điệp.

Vùng đồng bằng trũng trung tâm xen kẽ núi đá tại Ninh Bình nổi bật với đầm lầy, ruộng trũng và những núi đá vôi hùng vĩ, chứa đựng nhiều hang động đẹp mắt Khu vực này bao gồm thị xã Tam Điệp, huyện Hoa Lư, cùng một phần của huyện Yên Khánh và Yên Mô, tạo nên một bức tranh thiên nhiên phong phú và đa dạng.

+ Vùng đồng bằng ven biển: vùng này gồm toàn bộ huyện Kim Sơn với khoảng 15 km bờ biển và phần diện tích còn lại của 2 huyện Yên Khánh, Yên

Mô Vì có biển và đồng bằng phì nhiêu nên thuận lợi trong phát triển sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản

Với địa hình bị chia cắt bởi sông, núi và chịu ảnh hưởng từ thiên tai như bão, lũ, khu vực này gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế.

- Các đơn vị hành chính

Ninh Bình có 8 đơn vị hành chính, bao gồm thành phố Ninh Bình, thị xã Tam Điệp và 6 huyện: Kim Sơn, Yên Khánh, Yên Mô, Hoa Lư, Gia Viễn, Nho Quan.

Toàn tỉnh có 147 xã, phường và thị trấn, trong đó 43 xã gặp khó khăn Ba xã nghèo vùng núi gồm Cúc Phương, Phú Long và Kỳ Phú, cùng với ba xã bãi ngang ven biển, vẫn nằm trong diện khó khăn.

1.2 Phân tích, đánh giá tài nguyên thiên nhiên

1.2.1 Khí hậu thuỷ văn a, Về khí hậu: đặc điểm chung là khí hậu nhiệt đới, gió - mưa theo mùa với đầy đủ 4 mùa là xuân, hạ, thu, đông Mùa đông khô lạnh có gió mùa đông bắc; Mùa xuân ấm, ẩm có mưa xuân; Mùa hạ nóng có mưa rào và gió mùa đông nam, thường xuyên có bão (4-5 cơn bão /năm); Mùa thu mát dịu, bầu trời trong xanh

Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23 0 c, nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng 1 khoảng 13-15 0 c và trung bình cao nhất vào tháng 7 xấp xỉ 28.5 0 c

Khu vực này có tổng số giờ nắng trung bình hàng năm vượt 1.100 giờ, chủ yếu tập trung vào mùa hè, với tổng nhiệt độ đạt trên 8.500°C và có tới 8 tháng trong năm có nhiệt độ trung bình trên 20°C Về chế độ thuỷ văn, tài nguyên nước rất phong phú, bao gồm nước mặn, nước ngọt và nước lợ, trong đó nước mặt chiếm ưu thế nhờ lượng mưa cao, hệ thống sông ngòi dày đặc như sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Lạng, sông Bôi, sông Càn, cùng với nhiều hồ như Yên Quang, Đồng Thái, Đá Lại, Đồng Chương, Yên Thắng và các vùng chiêm trũng.

Trong năm, thời tiết được chia thành hai mùa mưa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ giữa tháng 4 đến tháng 10, chiếm hơn 85% tổng lượng mưa hàng năm, trong khi mùa khô từ đầu tháng 10 đến giữa tháng 4 năm sau chỉ có khoảng 10% lượng mưa Lượng mưa trung bình hàng năm đạt trên 1.800 mm, mặc dù phân bố không đồng đều trong năm, nhưng lại khá đồng đều trên toàn bộ khu vực.

Chế độ thuỷ triều tại khu vực này có thời gian triều lên ngắn khoảng 8 giờ và triều xuống kéo dài gần 16 giờ, với biên độ triều trung bình từ 1,6m đến 1,7m, đạt cực đại trên 3m Dòng chảy của hệ thống sông Đáy kết hợp với chế độ thuỷ triều đã tạo ra bãi bồi tại vùng cửa sông, thúc đẩy quá trình lấn biển với tốc độ nhanh Nhờ vậy, khu vực bãi bồi ven biển và ven sông ít xảy ra hiện tượng sụt lở đất đai.

Chế độ khí hậu và thuỷ văn tại tỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đặc biệt trong các lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp, công nghiệp - xây dựng và dịch vụ Tuy nhiên, tỉnh cũng phải đối mặt với những thách thức như hạn hán vào mùa khô và tình trạng úng, lũ lụt vào mùa mưa, trong khi các sông suối của tỉnh còn có nhiệm vụ thoát nước cho thủ đô Hà Nội.

1.2.2 Đất đai a, Đất đai và sử dụng đất: tổng quỹ đất là 139.011 ha, phân bố trên cả 3 vùng sinh thái như đã phân tích ở phần trên Đất đai vùng đồng bằng rất thuận lợi trong phát triển nông nghiệp thâm canh, đất đai vùng bãi bồi ven biển thuận lợi trong phát triển trồng cói, nuôi trồng thuỷ sản và đất đai vùng đồi núi thuận lợi phát triển kinh tế trạng trại

Bảng 1: Biến động sử dụng đất giai đoạn 2001-2005

TT Loại hình sử dụng Thời gian

1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 63.202,0 61.387,0 - 1.815

2 Đất phi nông nghiệp (ha) 24.876,0 27.799,0 + 2.923

3 Đất chưa sử dụng (ha) 22.028,0 16.933,0 - 5.095

Nguồn: Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Ninh Bình, năm 2006

Trong giai đoạn 2001-2005, biến động sử dụng đất đai cho thấy năm 2005, đất nông nghiệp đạt 94.279 ha (67,8%), tăng 3.281 ha so với năm 2001 Đất phi nông nghiệp cũng tăng lên 27.799 ha (20,0%), tăng 2.923 ha so với năm 2001 Ngược lại, đất chưa sử dụng giảm còn 16.933 ha (12,1%), giảm 5.095 ha so với năm 2001 Đặc biệt, đất lâm nghiệp chiếm 19,9% và có xu hướng tăng, trong khi đất sản xuất nông nghiệp giảm gần 2.000 ha, chỉ còn gần 45% Đất chuyên dùng tăng lên 11% với 2,5 nghìn ha, và đất ở cũng tăng, đạt khoảng 321 ha.

Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001-2005

2.1 Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001-2005 a Mục tiêu tổng quát:

Hoàn thiện hạ tầng cơ sở, phát triển công nghiệp, nâng cao chất lượng sản xuất nông nghiệp và sức cạnh tranh của nền kinh tế là những yếu tố then chốt, tạo nền tảng vững chắc cho sự tăng trưởng nhanh chóng trong giai đoạn tiếp theo.

Để tận dụng lợi thế so sánh, cần đẩy nhanh tốc độ phát triển sản xuất công nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất xi măng và đá xây dựng Đồng thời, cần phát triển nhanh chóng dịch vụ, đặc biệt là du lịch và thương mại, cũng như hướng tới phát triển nông nghiệp theo mô hình sản xuất hàng hóa.

Đa dạng hóa các thành phần kinh tế nhằm phát huy tiềm năng và thế mạnh của từng thành phần trong phát triển kinh tế chung của tỉnh, từ đó từng bước nâng cao đời sống của mọi tầng lớp dân cư Mục tiêu cụ thể cho giai đoạn 2001-2005 sẽ được xây dựng dựa trên các mục tiêu tổng quát đã đề ra.

- Phấn đấu đưa GDP bình quân đầu người của Ninh Bình tới năm 2005 đạt 60-65% GDP bình quân đầu người của cả nước, so với mức 54,6% của năm 2000

- Huy động mọi nguồn lực để phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao, bình quân 8-9% trong giai đoạn 2001-2005

- Ðưa tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ trong tổng GDP lên 10-12% vào năm 2005

Để thúc đẩy sự phát triển du lịch, tỉnh cần tập trung vào việc tăng cường giá trị các dịch vụ thu ngoại tệ trong ngành du lịch và các hoạt động dịch vụ khác Mục tiêu là biến du lịch thành một trong những nguồn thu ngoại tệ chính của tỉnh Các nhiệm vụ phát triển cụ thể sẽ được triển khai để đạt được mục tiêu này.

* Ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp

Ngành nông nghiệp phấn đấu đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm 4% trong giai đoạn 2001-2005, với mục tiêu đưa giá trị tổng sản lượng nông nghiệp lên 1.190 tỷ đồng vào năm 2005, chiếm 40% trong tổng GDP của tỉnh.

Ngành lâm nghiệp đặt mục tiêu đến năm 2005 sẽ trồng mới 5.000 ha rừng, bao gồm 1.070 ha cây ăn quả, 12.000-14.000 ha rừng đặc dụng, 10.374 ha rừng khoanh nuôi và tái sinh, cùng 6.000 ha rừng trồng cây phân tán Mục tiêu này nhằm nâng tỷ lệ che phủ đất rừng từ 9% hiện nay lên 31%.

- Ngành thuỷ sản: Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm của giá trị sản lượng ngành thuỷ sản là 6,5% giai đoạn 2001-2005

Phấn đấu tăng giá trị tổng sản lượng công nghiệp trong giai đoạn 2001-

2005 bình quân hàng năm lên 10-15%, nâng tỷ trọng giá trị sản xuất các ngành công nghiệp trong GDP toàn tỉnh lên 19-30% vào năm 2005;

Trong giai đoạn 2001-2005, mục tiêu đặt ra là đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm cho doanh thu các ngành dịch vụ từ 10-12%, nhằm nâng tỷ trọng của ngành dịch vụ trong GDP toàn tỉnh lên 30-35% vào năm 2005.

Để nâng cao tỷ trọng GDP của tỉnh, cần chú trọng đầu tư phát triển các ngành dịch vụ như bưu chính viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm y tế, giáo dục, vận tải và dịch vụ xuất khẩu lao động.

2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001-2005

2.2.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo GDP

Bảng 4: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo GDP ở Ninh Bình giai đoạn 2001-2005

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình 2005

Tỷ trọng ngành công nghiệp tại tỉnh đã tăng đều qua các năm, từ 22,77% vào năm 2001 lên 35,17% vào năm 2005, khẳng định vai trò quan trọng của ngành trong quá trình công nghiệp hóa Sự tăng trưởng nổi bật của ngành công nghiệp bao gồm sự phát triển nhanh chóng của ngành khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông sản thực phẩm, cùng với sản xuất và phân phối điện, nước.

Bảng 5: Giá trị công nghiệp trên địa bàn phân theo ngành công nghiệp

(Giá hiện hành, đơn vị tính: Triệu đồng)

Tổng số 995.151 1.877.435 2.628.560 3.921.999 Công nghiệp khai thác 29.984 44.502 76.492 86.026 Công nghiệp chế biến 667.560 1.498.041 2.196.400 3.414.988

Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước 297.607 334.892 355.668 420.985

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình 2005

Tỷ trọng ngành công nghiệp năm 2005 chỉ đạt 35,17% trong cơ cấu GDP, cho thấy tiềm năng phát triển của tỉnh về sản xuất vật liệu xây dựng và công nghiệp chế biến vẫn chưa được khai thác hiệu quả Do đó, cần nâng cao tỷ trọng này trong thời gian tới để ngành công nghiệp không chỉ giữ vai trò chủ đạo mà còn thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác trong nền kinh tế tỉnh.

Trong cơ cấu kinh tế theo GDP, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm tương đối trong giai đoạn 2001-2005, từ 44,75% năm 2001 xuống còn

Vào năm 2005, ngành nông nghiệp đã đạt tỷ trọng 30,65%, phản ánh xu thế tất yếu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Kết quả này tạo nền tảng phát triển cho các ngành công nghiệp và dịch vụ, đồng thời hoàn thành chỉ tiêu đề ra trong giai đoạn 2001-2005.

Trong giai đoạn 2001-2005, tỷ trọng ngành dịch vụ trong cơ cấu GDP chỉ tăng nhẹ từ 32,48% năm 2001 lên 34,18% năm 2005, cho thấy sự chuyển biến chưa lớn nhưng vẫn đáp ứng được mục tiêu đề ra cho giai đoạn này.

2.2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo vốn đầu tƣ

Vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh chủ yếu đến từ ngân sách nhà nước và nguồn vốn của dân và tư nhân, với ngân sách nhà nước chiếm 51,3% và vốn tư nhân chiếm 30,8% Đáng chú ý, nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài chỉ chiếm 0,2%.

Bảng 6: Vốn đầu tƣ tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001-2005

(Giá hiện hành, đơn vị tính: triệu đồng)

2 Vốn tín dụng (trong nước) 46.485 606.020 391.923 385.181

3 Vốn đầu tư của các doanh nghiệp 46.698 64.226 27.743 101.118

4 Vốn của dân và tư nhân 56.682 578.782 679.324 845.662

5 Đầu tư trực tiếp của nước ngoài - 64.264 2.815 6.100

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình 2005

Vốn đầu tư đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giúp khai thác lợi thế từ việc áp dụng khoa học kỹ thuật và đổi mới công nghệ Sự chuyển dịch cơ cấu ngành theo GDP cũng đi kèm với sự thay đổi tương ứng trong cơ cấu đầu tư.

Bảng 7: Vốn đầu tƣ phát triển chia theo ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình

(Giá hiện hành, đơn vị tính: triệu đồng)

Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ triệu đồng % triệu đồng % triệu đồng %

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình 2005

Trong thời gian gần đây, tỷ trọng vốn đầu tư cho nông nghiệp đã có sự thay đổi, nhưng tỉnh vẫn duy trì sự chú trọng vào lĩnh vực này do phần lớn người dân gắn bó với nông nghiệp Vốn đầu tư trong nông nghiệp chủ yếu tập trung vào xây dựng hệ thống kênh mương, cung cấp cây giống và máy móc, trong khi ở nông thôn, đầu tư chủ yếu vào hạ tầng giao thông và điện phục vụ sản xuất Đối với ngành công nghiệp, giai đoạn 2001-2005, vốn từ ngân sách nhà nước và đóng góp của nhân dân chủ yếu được sử dụng để nâng cấp cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông, bưu điện và công trình phúc lợi công cộng, nhằm củng cố vai trò của ngành công nghiệp trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Ngành công nghiệp chế biến được ưu tiên đầu tư nhiều nhất trong lĩnh vực này.

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦA TỈNH NINH BÌNH TRONG THỜI

Ngày đăng: 26/06/2022, 17:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

TT Loại hình sử dụng Thời gian Tăng /giảm - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình
o ại hình sử dụng Thời gian Tăng /giảm (Trang 50)
Bảng 1: Biến động sử dụng đất giai đoạn 2001-2005 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình
Bảng 1 Biến động sử dụng đất giai đoạn 2001-2005 (Trang 50)
Bảng 2: Thực trạng phát triển dân số theo thời gian - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình
Bảng 2 Thực trạng phát triển dân số theo thời gian (Trang 55)
Bảng 3: Thực trạng nguồn nhân lực giai đoạn 2001-2005 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình
Bảng 3 Thực trạng nguồn nhân lực giai đoạn 2001-2005 (Trang 56)
Bảng 4: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo GDP ở Ninh Bình giai đoạn 2001-2005 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình
Bảng 4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo GDP ở Ninh Bình giai đoạn 2001-2005 (Trang 62)
Bảng 5: Giá trị công nghiệp trên địa bàn phân theo ngành công nghiệp - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình
Bảng 5 Giá trị công nghiệp trên địa bàn phân theo ngành công nghiệp (Trang 63)
Bảng 7: Vốn đầu tƣ phát triển chia theo ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình
Bảng 7 Vốn đầu tƣ phát triển chia theo ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình (Trang 64)
Bảng 6: Vốn đầu tƣ tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001-2005 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình
Bảng 6 Vốn đầu tƣ tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001-2005 (Trang 64)
2.2.4. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình
2.2.4. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế (Trang 66)
Bảng 8: Thực trạng nguồn nhân lực giai đoạn 2001-2005 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình
Bảng 8 Thực trạng nguồn nhân lực giai đoạn 2001-2005 (Trang 66)
Bảng 10: Cơ cấu giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình
Bảng 10 Cơ cấu giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp (Trang 67)
Bảng 12: Số lƣợng gia súc, gia cầm theo mốc thời gian - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình
Bảng 12 Số lƣợng gia súc, gia cầm theo mốc thời gian (Trang 69)
Bảng 13: Các sản phẩm lâm nghiệp giai đoạn 2001-2005 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình
Bảng 13 Các sản phẩm lâm nghiệp giai đoạn 2001-2005 (Trang 71)
Bảng 14: Giá trị sản xuất ngành giai đoạn 2001-2005 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình
Bảng 14 Giá trị sản xuất ngành giai đoạn 2001-2005 (Trang 72)
Bảng 15: Giá trị sản xuất ngành giai đoạn 2001-2005 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình
Bảng 15 Giá trị sản xuất ngành giai đoạn 2001-2005 (Trang 73)
Bảng 16: Sản lƣợng một số loại hàng hoá thuỷ sản chủ yếu - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình
Bảng 16 Sản lƣợng một số loại hàng hoá thuỷ sản chủ yếu (Trang 74)
Bảng 17: Cơ cấu công nghiệp giai đoạn 2001-2005 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Ninh Bình
Bảng 17 Cơ cấu công nghiệp giai đoạn 2001-2005 (Trang 76)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN