TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐẠI HỌC HUẾ KHOA TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ MÔI TRƯỜNG NÔNG NGHIỆP ThS HỒ NHẬT LINH BÀI GIẢNG KIẾN TRÚC CẢNH QUAN ĐÔ THỊ NĂM 2018 MỤC LỤC CHƯƠNG 1 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1 1 1 Khái niệm chung về cảnh quan 1 1 2 Khái niệm, đối tượng và nhiệm vụ của kiến trúc cảnh quan 2 1 2 1 Khái niệm của kiến trúc cảnh quan 2 1 2 2 Đối tượng và nhiệm vụ của kiến trúc cảnh quan 3 1 2 3 Khái niệm quy hoạch cảnh quan 4 1 2 4 Khái niệm thiết kế cảnh quan 5 CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁ.
NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Khái niệm chung về cảnh quan
* Theo quan điểm địa lý học:
- Theo nghĩa rộng, cảnh quan là một tổng thể địa lý như đầm lầy, rừng, hoang mạc,…
Cảnh quan, theo nghĩa hẹp, được hiểu là một đơn vị lãnh thổ cụ thể với nguồn gốc phát sinh đồng nhất, bao gồm nền địa chất, địa hình và khí hậu đồng nhất.
Theo các nhà kiến trúc cảnh quan, cảnh quan là khái niệm chỉ sự kết hợp của nhiều loại phong cảnh khác nhau, nhưng lại tạo ra một biểu tượng thống nhất về vẻ đẹp chung của địa phương.
Cảnh quan là phần không gian trên bề mặt trái đất, bao gồm sự tương tác giữa động vật, thực vật, không khí, nước, nham thạch và hoạt động của con người.
* Cảnh quan thì có 4 đặc trưng:
- Có sự tập hợp các hệ sinh thái
- Năng lượng vật chất giữa các hệ sinh thái có thể lưu động và ảnh hưởng tương hỗ
- Có đặc trưng khí hậu và địa hình, địa mạo
- Có sự tụ hợp và đối ứng tương hỗ, pha trộn nhất định với nhau
* Cảnh quan thiên nhiên là cảnh quan hình thành do yếu tố tự nhiên tác động
Như vịnh Hạ Long, Phong Nha – Kẻ Bàng Đây là những cảnh quan thiên nhiên mà được hình thành nên từ hàng ngàn năm trước…
Căn cứ nguồn gốc hình thành
Căn cứ theo vị trí địa lý
Cảnh quan đô thị Cảnh quan nông thôn
Cảnh quan nhân tạo được hình thành từ sự tác động của con người lên thiên nhiên, dẫn đến sự biến dạng của cảnh quan tự nhiên.
Như xây dựng các công trình, đào núi, lấp biển, đào kênh, mương, trồng cây,……
Ví dụ như là Vạn lý trường thành, Đại Nội,…
* Cảnh quan vùng là loại hình cảnh quan của một đơn vị vùng miền rộng lớn theo các quy mô khác nhau, liên tỉnh, liên huyện,…
- Cảnh quan bảo tồn: vườn quốc gia Bạch Mã, Cúc phương,… Khu di tích lịch sử: đại Nội, Thap chăm,…
- Cảnh quan nghỉ ngơi - giải trí: Các khu resort Sun spa resort, Laguna,
Cảnh quan đô thị là sự kết hợp giữa các yếu tố tự nhiên và nhân tạo, trong đó yếu tố nhân tạo, chủ yếu là các khối xây dựng, chiếm ưu thế Tuy nhiên, sự phát triển này thường dẫn đến ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống cư trú của con người.
* Cảnh quan nông thôn thì ngược với cảnh quan đô thị tính tự nhiên lại chiến ưu thế nên ít bị ô nhiễm môi trường.
Khái niệm, đối tượng và nhiệm vụ của kiến trúc cảnh quan
1.2.1 Khái niệm của kiến trúc cảnh quan
*Theo quan điểm địa lý học:
- Theo nghĩa rộng, cảnh quan là một tổng thể địa lý như đầm lầy, rừng, hoang mạc,…
Cảnh quan, theo nghĩa hẹp, được định nghĩa là một đơn vị lãnh thổ cụ thể với nguồn gốc phát sinh đồng nhất, bao gồm nền địa chất, địa hình và khí hậu đồng nhất.
Theo các nhà kiến trúc cảnh quan, cảnh quan là khái niệm mô tả sự kết hợp của nhiều phong cảnh khác nhau, nhưng lại tạo ra một biểu tượng thống nhất phản ánh vẻ đẹp chung của địa phương.
Cảnh quan là một phần không gian trên bề mặt trái đất, bao gồm sự tương tác giữa động vật, thực vật, không khí, nước, nham thạch và hoạt động của con người.
*Cảnh quan thì có 4 đặc trưng:
- Có sự tập hợp các hệ sinh thái
- Năng lượng vật chất giữa các hệ sinh thái có thể lưu động và ảnh hưởng tương hỗ
- Có đặc trưng khí hậu và địa hình, địa mạo
- Có sự tụ hợp và đối ứng tương hỗ, pha trộn nhất định với nhau
*Cảnh quan thiên nhiên là cảnh quan hình thành do yếu tố tự nhiên tác động
Như vịnh Hạ Long, Phong Nha – Kẻ Bàng Đây là những cảnh quan thiên nhiên mà được hình thành nên từ hàng ngàn năm trước…
Cảnh quan nhân tạo là kết quả của việc con người tác động vào thiên nhiên, dẫn đến sự biến đổi đáng kể của cảnh quan tự nhiên.
Như xây dựng các công trình, đào núi, lấp biển, đào kênh, mương, trồng cây,……
Ví dụ như là Vạn lý trường thành, Đại Nội,…
*Cảnh quan vùng là loại hình cảnh quan của một đơn vị vùng miền rộng lớn theo các quy mô khác nhau, liên tỉnh, liên huyện,…
- Cảnh quan bảo tồn: vườn quốc gia Bạch Mã, Cúc phương,… Khu di tích lịch sử: đại Nội, Thap chăm,…
- Cảnh quan nghỉ ngơi - giải trí: Các khu resort Sun spa resort, Laguna,
Cảnh quan đô thị là sự kết hợp giữa các yếu tố tự nhiên và nhân tạo, trong đó yếu tố nhân tạo, đặc biệt là các khối xây dựng, chiếm ưu thế Tuy nhiên, sự phát triển này thường dẫn đến ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của cư dân.
*Cảnh quan nông thôn thì ngược với cảnh quan đô thị tính tự nhiên lại chiến ưu thế nên ít bị ô nhiễm môi trường
Kiến trúc cảnh quan là hoạt động kiến trúc nhằm đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ, tạo ra môi trường hài hòa và thân thiện với con người.
Kiến trúc cảnh quan là một môn khoa học tổng hợp, liên quan đến nhiều lĩnh vực chuyên ngành như quy hoạch không gian, quy hoạch hạ tầng kỹ thuật, kiến trúc và điêu khắc Mục tiêu chính của nó là giải quyết các vấn đề tổ chức môi trường nghỉ ngơi và giải trí, cải thiện môi sinh và bảo vệ môi trường.
Kiến trúc cảnh quan là hoạt động của con người nhằm tác động đến môi trường nhân tạo, từ đó tạo ra sự cân bằng giữa các yếu tố tự nhiên và nhân tạo.
1.2.2 Đối tượng và nhiệm vụ của kiến trúc cảnh quan a Đối tượng
Môi trường sống của con người luôn bị biến đổi trong quá trình phát triên của xã hội
*Với sự phát triển tương hỗ của hai nhóm thành phần:
- Nhân tạo và thiên nhiên
- Nhân tạo và nhân tạo
- Thiên nhiên và thiên nhiên
Môi trường sống cần được tổ chức một cách hợp lý để đáp ứng các yêu cầu sử dụng, đảm bảo sự trong lành và tính thẩm mỹ, từ đó phục vụ cho sự đa dạng và phong phú trong cuộc sống của con người.
Kiến trúc cảnh quan phát triển và biến đổi theo mùa, như tại TP HCM với hai mùa khô và mưa rõ rệt, nơi mà nhà thường được lợp ngói để giảm tiếng ồn mùa mưa và che chắn kín gió hơn trong mùa hè Tại khu vực Tây Nguyên, kiến trúc nhà rông với sàn sinh hoạt cao giúp tránh thú dữ và lũ lụt mùa mưa Những yếu tố này cho thấy rằng các thành phần hình thành cảnh quan luôn gắn liền với những biến đổi theo thời gian.
Kiến trúc cảnh quan yêu cầu phân tích và tổng hợp các mối quan hệ nhằm tạo ra một môi trường bền vững, đồng thời liên kết chặt chẽ với quy hoạch không gian và kiến trúc công trình Nhiệm vụ chính là đảm bảo sự hài hòa giữa thiên nhiên và các yếu tố xây dựng.
Mục tiêu của kiến trúc cảnh quan là tạo ra môi trường và cảnh quan bền vững, đáp ứng nhu cầu và hoạt động sống của con người trong một không gian trong lành, hài hòa và tiện nghi.
Nhiệm vụ của kiến trúc cảnh quan
- Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và di tích cảnh quan trong môi trường nhân tạo hóa và môi trường xung quanh
Để bảo tồn di tích văn hóa và phục vụ du lịch hiệu quả, cần lập các biện pháp dự báo và khai thác hợp lý các giá trị thiên nhiên cho hoạt động nghỉ ngơi và giải trí Việc này không chỉ giúp bảo vệ các di tích cảnh quan mà còn nâng cao trải nghiệm cho du khách.
- Giữ gìn và phát huy giá trị cảnh quan thiên nhiên
1.2.3 Khái niệm quy hoạch cảnh quan Đối tượng của quy hoạch cảnh quan rất rọng từ phạm vi vùng, miền cho tới điểm dân cư Về cụ thể, nghiên cứu quy hoạch cảnh quan nhằm tạo dựng và giải quyết mối quan hệ giữa thiên nhiên và nhân tạo ở phạm vi vĩ mô mà thực chất là giữa không gian trống và không gian xây dựng hướng tới thỏa mãn các nhu cầu phát triển của con người
Không gian trống và không gian xây dựng cần có sự tương quan về hình thể, tỷ lệ và quy mô, đồng thời phải đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ di tích cảnh quan.
Như chúng ta đã biết thì sự phát triển mạnh mẽ của đô thị tạo nên những chuỗi, chùm đô thị gây tác động mạnh đến vùng xung quanh
LƯỢC KHẢO LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN
Những đặc trưng của sự hình thành và phát triển kiến trúc cảnh quan thời kỳ tiền công nghiệp
Trong giai đoạn này, kiến trúc cảnh quan và quy hoạch cảnh quan chưa được phân biệt rõ ràng do quy mô sản xuất nhỏ và thiết bị thô sơ Vấn đề thẩm mỹ chưa được chú trọng, dẫn đến sự phân bố khu mặt bằng lộn xộn và thiếu sự phân định chức năng Hệ thống không gian cảnh quan chưa có quy hoạch thống nhất, thiếu tính khoa học và tổ chức rõ ràng.
- Tổ chức không gian mang tính tập trung đơn giản hoặc phân tán tự phát nên lộn xộn, không có trật tự…
Mục đích chính của việc hình thành đô thị là phục vụ cho hoạt động thương mại, đặc biệt trong bối cảnh giao thông chưa phát triển, khiến các hoạt động này tập trung tại các đầu mối giao thông đường bộ và đường thủy Theo thời gian, các hộ gia đình chuyển sang nghề thủ công đã định cư dọc hai bên đường để vừa làm vừa bán sản phẩm Tuy nhiên, để có thể định cư lâu dài, họ cần sự bảo vệ từ thành trì của chính quyền phong kiến Sự xuất hiện của thành trì kéo theo sự hiện diện của quan lại và gia đình, từ đó dẫn đến sự gia tăng dân số Thành trì thường được xây dựng với yêu cầu quân sự, có thành cao, hào sâu và tạo nên hệ thống kênh nước liên hoàn.
Trên các trục đường giao thông chính, những người không có phương tiện di chuyển đã mở cửa hàng ven đường, tạo nên các khu thương mại lân cận Tuy nhiên, sự phát triển này diễn ra tự phát và thiếu quy hoạch, dẫn đến tình trạng mỗi người làm theo ý mình Như câu nói xưa: "Nhất cận Thị, Nhị cận Giang, Tam cận Lộ," cho thấy tầm quan trọng của vị trí trong việc kinh doanh.
Sự thiếu thống nhất hài hòa giữa các hình khối không gian của công trình và cụm công trình đang gây ra những vấn đề trong thiết kế Điều này cho thấy rằng các điều kiện cần thiết để đạt được sự thống nhất trong xây dựng vẫn chưa được hình thành đầy đủ.
Ngày xưa, việc xây dựng công trình và thực hiện các công tác khác phụ thuộc vào tư tưởng riêng của từng người, dẫn đến thiếu sự thống nhất trong quan điểm xây dựng Điều này khiến cho việc đồng nhất trong các công trình trở nên khó khăn và không đạt hiệu quả cao.
- Thiếu sự quan tâm tới tiện nghi và môi trường bị khai thác bừa bãi, các điều kiện vệ sinh môi trường chưa chú trọng
- Kiến trúc cảnh quan phần lớn chỉ thu nhỏ trong khuôn viên của nhà ở, đền đài là chủ yếu với hai loại hình vườn và công viên
Một số công trình nổi bật thời kỳ này như đền Taj Mahal (Ấn Độ), Vườn boboli (Florence, Italy), Vườn Tulerries (Pháp),…
Hình 2.1 Đền Taj Mahal, Ấn Độ
Taj Mahal, được xây dựng bằng đá cẩm thạch trắng, là một trong những biểu tượng nổi tiếng nhất của Ấn Độ và được công nhận là một trong bảy kỳ quan mới của thế giới Ngôi đền tọa lạc tại Agra, bên bờ sông Tamuna, thuộc bang Uttar Pradesh, tây bắc Ấn Độ Hoàng đế Shah Jahan đã xây dựng Taj Mahal để tưởng nhớ vợ yêu của ông, người qua đời khi sinh con vào năm 1631 Công trình vĩ đại này được hoàn thành sau 20 năm lao động của 20.000 nhân công Taj Mahal nằm trên khu đất hình chữ nhật rộng 580 m và dài 304 m, với kiến trúc chính là một tòa lâu đài đáy bát giác, được xây dựng bằng đá cẩm thạch trắng và sa thạch đỏ, nổi bật với vòm tròn cẩm thạch trắng đồ sộ giữa bầu trời xanh.
Trong không gian 75 mét chung quanh, có bốn vòm tròn nhỏ và bốn tháp nhọn cao 40 mét ở bốn góc Lăng được trang trí bằng nhiều đường diềm chạm khắc từ 12 loại đá quý theo phong cách truyền thống Ấn Độ Ở trung tâm gian phòng rộng rãi và sáng sủa tại tầng hai, hai chiếc quan tài bằng đá cẩm thạch màu hồng nhạt được trang trí hoa văn thực vật và chữ Ả Rập từ Kinh Koran Tuy nhiên, các quan tài này không chứa di cốt của người đã khuất mà chỉ là biểu tượng cho những quan tài thật nằm ở tầng dưới.
Hình 2.2 Mặt chính diện Đền Taj Mahal, Ấn Độ
Mặt nước ở giữa và tòa nhà ở cuối vườn tạo nên một không gian hài hòa, trong đó con kênh hẹp lát đá hoa chạy song song với bồn hoa và hàng cây bách xanh đen, tạo nên sự đối xứng mạnh mẽ Con kênh và hồ nước không chỉ phản chiếu hình ảnh của công trình mà còn làm nổi bật vẻ đẹp lưng linh, đồ sộ của ngôi mộ, nhấn mạnh tính đối xứng của lăng.
Những đặc trưng của sự hình thành và phát triển kiến trúc cảnh quan thời kỳ công nghiệp
Thời đại công nghiệp đã dẫn đến sự phát triển nhanh chóng của các đô thị, với mật độ xây dựng ngày càng dày đặc, khiến con người dần xa rời thiên nhiên Sự tiến bộ trong khoa học, kỹ thuật và công nghệ đã tạo ra nhiều vật liệu mới, đồng thời nâng cao nhu cầu sống của con người Do đó, việc xây dựng các vườn và công viên trở nên cần thiết không chỉ để tái tạo sức lao động cho công nhân mà còn để cải thiện môi trường và nâng cao tính thẩm mỹ của đô thị.
Việc áp dụng các giải pháp phân khu chức năng giúp tổ chức hợp lý quá trình sản xuất trong lãnh thổ, từ đó tạo ra nhiều loại không gian trống với các chức năng và yêu cầu về thẩm mỹ, môi trường đa dạng.
Ngày xưa, các loại vườn và công viên chủ yếu phục vụ cho tầng lớp vua chúa và quý tộc, nhưng trong thời kỳ công nghiệp, chúng đã trở thành không gian cho nhiều tầng lớp khác nhau Điều này dẫn đến sự phân chia thành nhiều khu vực với mục đích đa dạng, tạo ra nhiều loại không gian phong phú hơn cho cộng đồng.
- Hình khối kiến trúc tạo ra những không gian lớn do đã sử dụng cốt thép và bê tông
Nhờ vào các kỹ thuật thi công và vật liệu mới, các công trình hiện nay có khả năng tạo ra những kết cấu vững chắc hơn, từ đó mang lại sự hoành tráng và ấn tượng hơn cho các dự án xây dựng.
Trong thời kỳ này, các mặt bằng phân khu còn phân tán, tạo ra nhiều không gian trống đa dạng và dễ hòa hợp với thiên nhiên Mặc dù mật độ xây dựng đã tăng lên so với thời kỳ tiền công nghiệp, nhưng vẫn còn nhiều khoảng trống như mặt nước, cánh rừng và đất trống, giúp các công trình xây dựng duy trì sự hài hòa với môi trường xung quanh.
Yếu tố môi trường tự nhiên và khí hậu chưa được khai thác hiệu quả, dẫn đến việc chưa phát huy được bản sắc độc đáo của các địa phương trong không gian và cảnh quan xung quanh.
Quảng trường, ban đầu chỉ là những con đường đông đúc trong đô thị, đã phát triển thành không gian công cộng đa dạng và phong phú Ngày nay, đứng trước quảng trường, người ta không chỉ cảm nhận được sự nhộn nhịp mà còn như đang chiêm ngưỡng những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc và hội họa tuyệt đẹp.
Hình 2.3 Quảng trường Charles de Gaulle - Pháp
Quảng trường Charles-de-Gaulle có đường kính 240 mét, với Khải Hoàn Môn nằm ở trung tâm Xung quanh là khu vực giao thông, tiếp theo là vỉa hè có cây xanh và các tòa nhà kiến trúc đồng nhất tạo thành hình tròn Phía sau, hai phố Presbourg và Tilsitt tạo thành một vòng tròn khác Để đến Khải Hoàn Môn, du khách có thể sử dụng đường ngầm Passage du Souvenir Đây là điểm giao thông quan trọng với 12 đại lộ hội tụ, tạo thành 6 trục Khải Hoàn Môn, được thiết kế bởi kiến trúc sư Jean-François-Thoré-Thérèse Chalgrin, cao 50 mét và rộng 45 mét, là công trình điêu khắc lớn nhất của Pháp trong thế kỷ 19, được trang trí bằng nhiều bức phù điêu và tượng đài, khắc tên các nhân vật nổi tiếng thời kỳ Cách mạng và Đế chế.
Hình 2.4 Một số mặt bằng quảng trường/Nút giao thông
Những đặc trưng của sự hình thành và phát triển kiến trúc cảnh quan thời kỳ hậu công nghiệp
Thời đại công nghiệp đã tạo ra nhiều đô thị lớn, nhưng mật độ xây dựng dày đặc khiến con người xa rời thiên nhiên Sự phát triển của khoa học và công nghệ, cùng với nhu cầu ngày càng cao của con người, đòi hỏi cần xây dựng các vườn và công viên Những không gian xanh này không chỉ giúp tái tạo sức lao động cho công nhân mà còn cải thiện môi trường và nâng cao tính thẩm mỹ cho đô thị.
Sử dụng giải pháp phân khu chức năng giúp tổ chức hợp lý quá trình sản xuất trên lãnh thổ, từ đó tạo ra nhiều loại không gian trống với các chức năng và yêu cầu về thẩm mỹ, môi trường khác nhau.
Ngày xưa, các loại vườn và công viên chủ yếu phục vụ cho tầng lớp vua chúa và quý tộc, nhưng trong giai đoạn công nghiệp, chúng đã phát triển để phục vụ cho nhiều tầng lớp khác trong xã hội Điều này dẫn đến sự phân chia thành nhiều khu vực với các mục đích khác nhau, tạo ra đa dạng không gian cho cộng đồng.
- Hình khối kiến trúc tạo ra những không gian lớn do đã sử dụng cốt thép và bê tông
Nhờ vào những kỹ thuật thi công tiên tiến và vật liệu hiện đại, các công trình xây dựng ngày càng trở nên vững chắc và hoành tráng hơn.
Trong thời kỳ này, các mặt bằng phân khu có dạng phân tán, tạo ra những không gian trống đa dạng và dễ hòa hợp với thiên nhiên Mặc dù mật độ xây dựng dày đặc hơn so với thời kỳ tiền công nghiệp, nhưng vẫn còn nhiều khoảng trống như mặt nước, cánh rừng và đất trống, giúp cho các công trình xây dựng vẫn duy trì sự hòa hợp với môi trường xung quanh.
Các yếu tố môi trường tự nhiên và khí hậu chưa được khai thác hiệu quả, dẫn đến việc thiếu bản sắc riêng cho các địa phương Việc tận dụng những đặc điểm này có thể tạo ra lợi thế nổi bật trong không gian và cảnh quan môi trường xung quanh.
Quảng trường, ban đầu chỉ là những con đường đông đúc trong đô thị, đã phát triển thành không gian công cộng phong phú, mang lại cảm giác như đang chiêm ngưỡng những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc và hội họa.
Đảo Palm tại Dubai là một trong những dự án bất động sản đầy tham vọng nhất thế giới, được xem như một kỳ quan bên cạnh Vạn Lý Trường Thành Với chi phí đầu tư lên tới 12,3 tỷ USD, Palm Island nhanh chóng lọt vào danh sách những công trình nổi bật Nơi đây sở hữu nhiều khách sạn, căn hộ, biệt thự, bến du thuyền, nhà hàng và trung tâm bán lẻ, cùng bãi biển tuyệt đẹp Khách sạn nổi tiếng Atlantis cũng tọa lạc trên đảo này Đối mặt với nguy cơ cạn kiệt dầu mỏ, các nhà phát triển Dubai đã tìm kiếm giải pháp thay thế, nhằm biến Dubai thành điểm đến du lịch hàng đầu thế giới Việc xây dựng một hòn đảo nhân tạo hình cây cọ với đường kính 5,5km sẽ gia tăng đáng kể chiều dài bờ biển của thành phố.
Dubai không chỉ nổi tiếng với Palm Island mà còn với quần thể 300 đảo riêng mang tên The World, có tổng chi phí xây dựng lên tới 14 tỷ USD, trong đó riêng chi phí khai hoang đã tiêu tốn 2 tỷ USD The World tái hiện hình ảnh trái đất một cách độc đáo và hấp dẫn Việc sở hữu một trong số 300 hòn đảo tại đây là niềm mơ ước lớn lao của bất kỳ chủ nhân giàu có nào Phương tiện di chuyển giữa các đảo là thuyền hoặc máy bay, và hầu hết các hòn đảo đã được bán.
Mối quan hệ tương hỗ giữa kiến trúc cảnh quan và quy hoạch không gian trong quá trình hình thành và phát triển vùng miền và điểm dân cư
Hệ thống kiến trúc cảnh quan tại các vùng miền hoặc điểm dân cư phát triển gắn liền với quy hoạch không gian, ảnh hưởng đến việc giữ lại hoặc cải tạo cảnh quan Việc xác lập bố cục hệ thống kiến trúc cảnh quan không chỉ là một bước quan trọng trong quy hoạch mà còn góp phần tạo nên nét riêng cho ngôn ngữ kiến trúc Đồng thời, việc xác định hình thái không gian kiến trúc cũng đồng nghĩa với việc hình thành hệ thống kiến trúc cảnh quan.
Cải tạo không gian trong quá trình hình thành đô thị xưa không chỉ nhằm mục đích tạo dựng không gian nghỉ ngơi hay cải thiện tính thẩm mỹ, mà còn ảnh hưởng đáng kể đến các giải pháp quy hoạch đô thị.
Kinh thành Thăng Long xưa đã cải tạo hồ Tây, Lục Thủy, sông Tô, sông Kim Ngưu và sông Cái (sông Hồng) thành khu mặt nước liên hoàn bao quanh thành phố trong thời kỳ Lý Trần Sự phát triển này dẫn đến việc xây dựng nhiều bến thuyền và cầu cống Mục đích ban đầu của những công trình này không chỉ là ngăn cách khu rừng hoang dã với thú dữ, mà còn để bảo vệ thành phố khỏi kẻ thù và định hình giao thông, kết nối các tuyến phố.
Kinh thành Huế được hình thành nhờ vào vị trí địa lý đặc biệt bên sông Hương và núi Ngự, từ đó tạo nên những điểm tập trung dân cư và hoạt động buôn bán sôi động.
Việc phát triển đô thị bên cạnh mặt nước nhằm tạo thuận lợi cho giao thông, khi mà đường thủy là phương tiện di chuyển chủ yếu, đã tạo ra những ảnh hưởng đa dạng và phong phú cho diện mạo đô thị.
Bản sắc văn hóa của từng địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành giá trị văn hóa đô thị, từ đó góp phần tạo nên giá trị văn hóa dân tộc bền vững.
Cấu trúc địa hình ảnh hưởng lớn đến điểm tích tụ nước, từ đó tác động đến hình dạng và tính chất của bề mặt nước Điều này quyết định vị trí và hình dạng của hệ thống sân đường, công trình, cũng như các yếu tố hình khối và trang trí khác Việc cải tạo cấu trúc bề mặt địa hình, hình dạng và tính chất bề mặt nước, cùng với việc phân bố các mảng cây xanh và tương quan giữa không gian trống và không gian xây dựng, là rất quan trọng.
Cải tạo cảnh quan thiên nhiên là một phần quan trọng trong cuộc sống của con người, đồng thời thiên nhiên cũng ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của nhân loại.
Trong suốt quá trình phát triển của xã hội loài người, việc cải tạo môi trường tự nhiên đã diễn ra liên tục và mở rộng Sự gia tăng quy mô cải tạo này tỷ lệ thuận với sự phát triển của công nghệ và xã hội, dẫn đến sự biến đổi chất lượng môi trường, biến các cảnh quan tự nhiên thành cảnh quan nhân tạo ngày càng rõ nét.
Trong quá trình cải tạo môi trường, cần thiết phải giải quyết mối quan hệ giữa môi trường sống và thiên nhiên Do đó, việc xây dựng một mắt xích sinh thái với sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố thiên nhiên và nhân tạo trong hệ thống sinh thái mới là điều quan trọng.
Môi trường thiên nhiên và nhân tạo có mối liên hệ mật thiết, trong đó yếu tố thiên nhiên bị nhân tạo hóa và yếu tố nhân tạo cũng chịu ảnh hưởng từ thiên nhiên Quá trình tương tác này diễn ra liên tục trong sự phát triển của đô thị.
Ngự Hà là dòng sông bán nhân tạo hình chữ L, được hình thành từ việc đào mới và uốn nắn sông cũ, chảy từ mặt tây sang mặt đông trong Kinh thành Huế, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông và vận chuyển hàng hóa Xung quanh dòng sông này, các khu dân cư đã hình thành, nhưng hiện nay Ngự Hà đang bị bồi lấp và xâm phạm Từ năm 2000, chính quyền đã tiến hành giải tỏa các hộ dân hai bên sông, nạo vét và khơi thông dòng chảy để phục hồi yếu tố tự nhiên, đáp ứng nhu cầu điều tiết nước, giảm ngập úng và nâng cao cảnh quan thẩm mỹ.
Các nhận xét chủ yếu
Vườn – công viên ban đầu chỉ giới hạn trong không gian của đền đài và dinh thự, phục vụ như một nơi nghỉ ngơi và vui chơi cho gia chủ Trong bối cảnh đô thị thời tiền công nghiệp nhỏ gọn, gần gũi với thiên nhiên, vườn – công viên được hình thành chủ yếu để tạo ra không gian tĩnh dưỡng và giải trí Do đó, yếu tố thẩm mỹ luôn được ưu tiên hàng đầu trong thiết kế.
Vườn và công viên hiện nay được xem là tách biệt với môi trường đô thị, do đó chưa đóng góp vào việc hình thành cấu trúc đô thị Cảnh quan đô thị chủ yếu được thể hiện qua các đường phố và quảng trường, nơi mọi người tham gia vào việc tạo dựng không gian sống.
Các xu hướng bố cục trong nghệ thuật vườn và công viên ban đầu chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ tư duy triết học phương Đông hoặc ý đồ của gia chủ phương Tây Có ba xu hướng chính trong thiết kế này: Cân xứng đều đặn, Tự do, và sự kết hợp giữa cân xứng và tự do.
Các yếu tố hình khối trong cảnh quan đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dựng bố cục, từ mặt nước tĩnh lặng đến các yếu tố động như vòi phun và thác nước Mỗi công trình điêu khắc, với sự tinh vi và đa dạng, có thể trở thành thành phần chủ đạo của khối mặt nước Địa hình tự nhiên hoặc được xử lý tạo hình giúp tạo ra các sân có cốt khác nhau, tạo điều kiện cho việc hình thành và tầm nhìn Kiến trúc các công trình lớn gắn liền với trục bố cục của vườn và công viên, ảnh hưởng đến các giải pháp bố trí không gian và quy hoạch toàn khu vực Trong khi đó, các kiến trúc nhỏ như chòi hay lâu chỉ mang tính chất điểm xuyết hoặc làm trung tâm cho bố cục khu vực nhỏ.
Các yếu tố hình khối trong cảnh quan được xử lý tỉ mỉ, từ mặt nước tĩnh lặng đến động như vòi phun và thác nước Mỗi công trình điêu khắc đều đa dạng và có thể trở thành thành phần chủ đạo của khối mặt nước Địa hình tự nhiên được tạo hình thành các sân với cốt khác nhau, tạo nền tảng cho việc hình thành và tầm nhìn Kiến trúc các công trình lớn luôn liên kết chặt chẽ với trục bố cục của vườn và công viên, ảnh hưởng đến các giải pháp bố trí không gian và quy hoạch toàn bộ khu vực Ngược lại, những kiến trúc nhỏ như chòi hay lâu đài thường chỉ đóng vai trò điểm xuyết hoặc trung tâm trong bố cục của khu vực nhỏ.
Sơ đồ 2.1 Các yếu tố hình khối tạo cảnh trong việc hình thành và phát triển kiến trúc cảnh quan đô thị
Vườn và công viên trong thời kỳ công nghiệp đã trở thành một phần không thể thiếu của cảnh quan đô thị, cung cấp không gian nghỉ ngơi, giải trí và hoạt động văn hóa cho người lao động Quy hoạch đô thị hiện nay đã chú trọng dành những khoảng không gian trống để phát triển các vườn và công viên công cộng, phục vụ nhu cầu thư giãn và giao lưu cộng đồng.
Nhiều vườn và công viên mới đã được ra mắt, phục vụ đa dạng nhu cầu sử dụng như thể thao, vui chơi cho trẻ em, bảo tồn thiên nhiên, văn hóa và nghỉ ngơi Đồng thời, các không gian công cộng như đường phố, quảng trường, đặc biệt là ven sông và các tuyến đường cây xanh, cũng được cải thiện để tạo vùng cách ly vệ sinh giữa khu công nghiệp và khu dân cư Các kiến trúc cảnh quan được kết nối với nhau, hình thành một hệ thống thống nhất và liên tục với nhiều hình thức đa dạng.
Các yếu tố hình khối trong cảnh quan thường được sử dụng mà không được xử lý nghệ thuật một cách đầy đủ, dẫn đến việc không gian và trang trí thiếu sự tinh tế Trong khi chức năng của công trình được đặt lên hàng đầu, yếu tố thẩm mỹ lại không được chú trọng đúng mức, phản ánh quan niệm rằng vẻ đẹp trong thời đại công nghiệp là sự đơn giản.
Mối quan hệ tương hỗ giữa cảnh quan nhân tạo và thiên nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành cảnh quan, từ quy mô toàn vùng đến từng tiểu môi trường Quá trình này không chỉ tạo ra môi trường thẩm mỹ mà còn đáp ứng nhu cầu giao tiếp và truyền tin trong một khu vực nhất định, đang trở thành trọng tâm của kiến trúc cảnh quan hậu hiện đại.
Sơ đồ 2.2 Mối quan hệ tương hỗ giữa yếu tố thiên nhiên và nhân tao trong kiến trúc cảnh quan đô thị
- Không gian trống và không gian xây dựng phải có sự tương quan hợp lý với nhau
Tương quan hợp lý giữa không gian trống và khu xây dựng rất quan trọng trong việc nâng cao chức năng sử dụng, cải thiện môi trường và tạo mối quan hệ thẩm mỹ trong cảnh quan đô thị Đặc biệt, ở những khu vực đông dân cư và quy mô lớn, không gian trống giúp hình thành các vùng tiếp xúc thị giác rộng rãi Trong bối cảnh này, thiên nhiên đóng vai trò thiết yếu trong việc bố cục đô thị.
Mỗi yếu tố hình khối trong cảnh quan thiên nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra giá trị thẩm mỹ, môi trường và cá tính cho từng khu dân cư.
Việc tìm kiếm giải pháp quy hoạch từ tổng thể đến từng khu chức năng bị ảnh hưởng đáng kể bởi các yếu tố khác nhau Đồng thời, ý tưởng quy hoạch cũng có tác động mạnh mẽ đến việc cải tạo và bảo tồn cảnh quan thiên nhiên.
Hệ thống không gian trống trong cảnh quan điểm dân cư đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành điểm nhìn và tầm nhìn khi di chuyển Nó không chỉ giúp điều hòa môi trường và dẫn gió mát, mà còn là phương tiện chính để thu lại hình ảnh của điểm dân cư Do đó, việc quy hoạch tuyến giao thông cần phải sử dụng hợp lý cảnh quan, đồng thời tạo ra những cảnh quan khống chế thị giác và đặc trưng về hình thức, trang trí cho cảnh quan.
Cảnh quan điểm dân cư là một hệ thống sống động, luôn thay đổi và phát triển Trong quá trình tiến hóa, cải tạo cảnh quan trở thành giải pháp hiệu quả để tạo ra môi trường nhân tạo phù hợp với nhu cầu phát triển của con người và các điều kiện sinh thái mới Việc này không chỉ dự báo sự phát triển của cảnh quan trong bối cảnh đô thị hóa mà còn giúp bảo vệ hiệu quả các giá trị lịch sử và văn hóa của cảnh quan.
Để tạo ra một môi trường đô thị lý tưởng cho cuộc sống con người, cần thiết phải có một tỷ lệ không gian trống nhất định trong khu vực đô thị.
QUY HOẠCH VÀ THIẾT KẾ CẢNH QUAN
Các nguyên tắc bố cục cảnh quan
3.1.1 Các cơ sở của việc bố cục cảnh quan
Khi quan sát một vật thể theo hướng ánh sáng, nó sẽ trở nên rõ ràng hơn, trong khi nếu nhìn ngược lại, các chi tiết của vật thể sẽ bị mờ đi và chỉ có đường viền của nó là nổi bật.
Khoảng cách từ điểm nhìn đến tiêu điểm nhìn, tức là vật thể được quan sát, rất quan trọng trong quang học Mắt người bình thường có khả năng nhìn rõ trong góc hình nón 28 độ Với góc này, mối quan hệ giữa khoảng cách nhìn (D) và chiều cao (H), chiều ngang (L) của vật thể là 2, cho phép mắt thu nhận toàn bộ hình ảnh của vật thể với tỷ lệ D/2L (2H).
Hình 3.1 Vị trí đứng ảnh hưởng đến góc nhìn
Để quan sát vật thể trong không gian rộng với bầu trời và cây cỏ xung quanh, cần nhìn từ góc 18 độ, tức là tỉ lệ D/3L (3H) Tỉ lệ D/L (H) là yếu tố quan trọng để xác định chất lượng không gian.
Hình 3.2 Tương quan giữa D và L(H)
Khi D/L (H) nhỏ hơn 1, tác động của các thành phần xung quanh không gian trở nên mạnh mẽ, dẫn đến cảm giác chật chội, khó thở và sợ hãi cho con người trong không gian hẹp.
D/L (H) = 1: cảm giác cân bằng và tỷ lệ với con người, gây ấn tượng thân mật, gần gũi
Khi D/L (H) = 1 – 2, con người vẫn cảm nhận được sự cân xứng trong không gian Tuy nhiên, khi D/L (H) > 2, không gian trở nên bao la và trống trải, dẫn đến sự giảm sút lực hút và mối quan hệ giữa các thành phần trong không gian trở nên lỏng lẻo.
Khi L hoặc H đạt từ 150m trở lên, để quan sát toàn bộ vật thể với tỷ lệ D/L (H) = 2, người xem cần đứng cách xa 300m Tuy nhiên, ở khoảng cách này, chi tiết và chất liệu trang trí bề mặt vật thể sẽ không thể nhìn thấy rõ Vì vậy, trong thiết kế cảnh quan hoa viên, điều này cần được lưu ý để đảm bảo trải nghiệm quan sát tốt nhất.
Theo điều tra, khoảng cách nhìn rõ và hợp lý là D ≤ 25m Các chuyên gia thiết kế cảnh quan hoa viên khuyến nghị rằng việc cải tạo mảng cây xanh nên tuân theo một module hợp lý trong thiết kế, với khoảng cách từ 21 đến 24m Khoảng cách này cũng tương ứng với một bước cột trong thiết kế công trình, là đơn vị tiêu chuẩn gần gũi với tỉ lệ của con người trong thiết kế cảnh quan.
- Là hướng nhìn vật thể Hướng nhìn liên quan đến việc di chuyển điểm nhìn Cần lưu ý thị giác của tuyến đi bộ và cơ giới
- Nếu tốc độ di chuyển nhanh, hình ảnh lưu trên võng mạc quá ngắn chưa thể nhận rõ chi tiết bên trong vật thể
- Ngược lại, tốc độ di chuyển chậm, thời gian thu nhận lâu, nhận biết chi tiết rõ nét hơn
3.1.2 Kỹ xảo tạo hình, trang trí không gian, cảnh quan a Tạo hình không gian
Không gian đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên thẩm mỹ và chức năng cho cảnh quan Việc thiết kế không gian với quy mô và hình dạng hợp lý, phù hợp với hoạt động và tâm lý con người là điều cần thiết Có ba loại không gian chính: không gian mở, không gian đóng và không gian hỗn hợp giữa mở và đóng.
Theo kinh nghiệm Nhật Bản, một module đơn vị của không gian là 21 – 24m
Kích thước không gian lý tưởng dao động từ 1 đến 5 đơn vị (21-120m), với kích thước tối đa là 10 đơn vị (240m), giúp các thành phần trong không gian hòa hợp một cách tổng thể.
Trong không gian rộng và dài như đường phố, việc có điểm dừng hoặc chuyển hướng là rất cần thiết Nếu thiếu những yếu tố này, cảnh quan sẽ trở nên nhạt nhòa và phân tán, dẫn đến sự giảm sút mức thu hút Các công trình độc đáo như Land marks 81 đóng vai trò là những điểm nhấn thị giác quan trọng, mang ý nghĩa đặc trưng cho không gian cảnh quan.
Ngoài kích thước thực, cảm giác về độ nông sâu của không gian có thể được điều chỉnh thông qua phối cảnh tuyến và phối cảnh không trung Những kỹ thuật này cho phép biến đổi cảm nhận chiều sâu không gian bằng cách thay đổi kích thước của các yếu tố hình khối trong thiết kế.
Hình 3.3 Quảng trường Piazza del Campo
Quảng trường Piazza del Campo, được xây dựng từ thế kỷ XIV đến XVII, ban đầu được dự định là nơi xây dựng nhà thờ lớn nhất thế giới nhưng đã phải dừng lại do thiếu kinh phí Nơi đây còn nổi bật với bức tượng của Michelangelo, được cho là nguồn cảm hứng cho bức tượng David nổi tiếng toàn cầu.
Hình 3.4 Quảng trường Piazza del Campo dưới góc nhìn khác
Quảng trường có hình dạng rẻ quạt, với độ dốc hợp lý từ tây bắc đến đông nam, giúp hướng người sử dụng đến trung tâm là công trình Palazzo.
Những con đường đi bộ ngắn kết nối quảng trường với con đường song song phía tây bắc có độ dốc lớn hơn độ dốc của quảng trường, với điểm thấp nhất là cốt sàn của quảng trường Mục đích của thiết kế này là nhằm định hướng người đi bộ vào trung tâm quảng trường.
Thuật phối cảnh không trung là phương pháp biến đổi cảm nhận về chiều sâu không gian thông qua việc điều chỉnh màu sắc của các yếu tố cấu thành hình khối trong không gian.
Thiết kế cảnh quan
3.2.1 Thiết kế không gian – chức năng cảnh quan vườn – công viên a Công viên
➢ Khuynh hướng chức năng hóa công viên
Trong quy hoạch mặt bằng, chức năng của công viên được phân bổ theo hai khuynh hướng, với việc phân chia khu đất công viên thành các khu vực rõ ràng, gọi là khuynh hướng chức năng hóa công viên Cơ cấu công viên trong khuynh hướng này bao gồm nhiều thành phần khác nhau.
- Các vùng chức năng được phân chia một cách rõ ràng và thường nằm ở phần đất ngoại vi công viên
Công viên trung tâm có 6 chức năng chính: biểu diễn, văn hóa giáo dục, thể thao, phục vụ thiếu nhi, nghỉ tĩnh và phục vụ Trong khi đó, công viên thú có các chức năng như trưng bày, nghỉ ngơi, nghiên cứu khoa học và phục vụ Công viên triển lãm tập trung vào hành lễ, nghỉ ngơi, văn hóa giáo dục và phục vụ, tạo nên sự đa dạng trong các hoạt động giải trí và giáo dục cho cộng đồng.
Trung tâm công viên là một hệ thống tổ chức bao gồm một trung tâm chính và các trung tâm phụ, thường được áp dụng trong những công viên quy mô lớn và phức tạp.
Hệ thống trung tâm công viên chiếm 10-15% diện tích, nằm gần cổng chính và kết nối thuận lợi với các khu vực khác Trung tâm có thể là một quần thể kiến trúc với nhiều nhà liên kết chặt chẽ với lối vào và trục chính, đồng thời phục vụ các vùng chức năng trong công viên Quy hoạch, kiến trúc và cảnh quan cần được chú trọng để làm nổi bật trung tâm, trong khi phần ngoại vi phải đảm bảo các yếu tố thiên nhiên, tận dụng tối đa vẻ đẹp của địa hình, mặt nước và cây xanh.
- Hệ thống cổng và giao thông Bao gồm cổng chính và cổng phụ Đường chính và đường liên hệ với các vùng Đường ranh giới giữa các vùng
Lối vào chính của công viên cần được thiết kế phù hợp với quy hoạch đô thị, với một quảng trường trước cổng để phân tán lượng người và làm nơi đỗ ô tô Ngoài ra, cần có thêm một số lối ra vào phụ, số lượng tùy thuộc vào quy mô và chức năng của công viên Bên trong công viên, hệ thống đường cần được kết nối liền mạch với cổng vào để thuận tiện cho du khách.
Thông thường trong công viên gồm 4 loại giao thông chính: Đường trục chính, đường giữa các vùng, đường vòng kín và đường trong từng vùng
Đường trục chính là tuyến đường quan trọng nhất, dẫn từ cổng chính và có lưu lượng người đi lại lớn nhất Chiều rộng của đường trục chính thường dao động từ 12 đến 30 mét, trong đó phần đường đi bộ không được nhỏ hơn 10 mét để đảm bảo an toàn cho người đi bộ.
Trong thiết kế đường phố rộng, việc thêm bồn hoa, cây trang trí, bể nước và vòi phun sẽ tạo điểm nhấn hấp dẫn Chia đường thành các luồng đi lại và trồng cây theo hàng đồng nhất giúp làm nổi bật hướng trục chính.
Trục đường chính có thể thẳng hoặc cong tùy thuộc vào địa hình và ý đồ bố cục Khi trục đường chính chủ yếu phục vụ giao thông trên địa hình bằng phẳng, nó thường được thiết kế thẳng và có bố cục phong cảnh cân xứng, đều đặn Ở cuối trục, có thể đặt một công trình xây dựng hoặc sân ngắm cảnh để tạo điểm nhấn cho không gian.
Nếu trục đường có chức năng dạo chơi, với mặt nước rộng gần cổng chính hoặc có di tích lịch sử được xếp hạng hay cây cổ thụ nằm chếch cổng chính, thì trục đường sẽ có hình dạng cong Cây trồng trên đường này thường đa dạng, được bố trí sinh động và có sự chú ý đến bố cục ở những chỗ rẽ nhằm báo hiệu cho người đi lại biết trước lối rẽ.
Đường vòng kín là tuyến đường kết nối tất cả các vùng chức năng trong công viên, có chiều dài lớn nhất và độ rộng từ 6-8m trở lên, chỉ sau đường trục chính về mức độ quan trọng Nó không chỉ đảm bảo mối liên hệ thuận lợi giữa các khu vực mà còn là tuyến đường dài nhất trong công viên Việc thiết kế đường vòng kín cần tận dụng địa hình bằng phẳng để tránh độ dốc cao và dễ dàng kết nối với các công trình phục vụ Để tạo cảnh quan thu hút, cần thay đổi các yếu tố cảnh vật sao cho mỗi bước đi của người xem đều mang lại cảm giác mới mẻ, sinh động và không nhàm chán.
Đường giữa các vùng trong công viên đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các khu vực với trung tâm, tạo ra một lối đi dạo và giúp phân bố đồng đều lượng người Với chiều rộng từ 10 đến 15 mét, đường này không chỉ giới hạn các vùng mà còn liên kết vùng trung tâm với các khu vực ngoại vi, đảm bảo sự hài hòa trong không gian công viên.
Vị trí và hướng đường giữa các vùng phụ thuộc không chỉ phụ thuộc vào đặc điểm địa hình mà còn liên quan đến việc phân vùng chức năng của công viên.
Đường phố có chiều rộng khác nhau tùy thuộc vào ý nghĩa, chức năng và mật độ dân cư của từng khu vực Cụ thể, đường dành cho khu vực biểu diễn văn hóa, giáo dục và thể thao có chiều rộng từ 3 đến 10m, trong khi đường ở vùng nghỉ ngơi yên tĩnh chỉ cần chiều rộng từ 1,5 đến 3m.
Khi thiết kế mạng lưới đường trong công viên, cần chú ý rằng đường không chỉ phục vụ cho giao thông mà còn là phương tiện để thưởng thức cảnh sắc Đường đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên vẻ đẹp của không gian công viên.
➢ Khuynh hướng đa hóa chức năng công viên
Khuynh hướng đa dạng hóa chức năng công viên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao tiện nghi cho hoạt động nghỉ ngơi và giải trí của con người trong thời gian ngắn nhất Điều này cho phép đáp ứng hiệu quả các nhu cầu phát triển và đa dạng hóa của cộng đồng.