1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật “phỏng truyền kỳ” trong văn xuôi việt nam nửa đầu thế kỷ xx

131 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghệ Thuật “Phỏng Truyền Kỳ” Trong Văn Xuôi Việt Nam Nửa Đầu Thế Kỷ XX
Tác giả Huỳnh Phước Lê
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Phong Nam
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 16,66 MB

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (10)
  • 2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu (11)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (16)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (17)
  • 5. Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài (18)
  • 6. Bố cục luận văn (18)
  • CHƯƠNG 1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRUYỆN “PHỎNG TRUYỀN KÌ” TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX (19)
    • 1.1. Từ truyện truyền kì trong văn xuôi trung đại đến truyện “phỏng truyền kì” nửa đầu thế kỷ xx (0)
      • 1.1.1. Truyện truyền kì và vấn đề mô phỏng trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX (0)
      • 1.1.2. Hiện tượng “phỏng truyền kỳ” trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỷ XX (0)
    • 1.2. Con đường vận động của truyện “phỏng truyền kì” qua các trường hợp tiêu biểu (30)
  • CHƯƠNG 2. NGHỆ THUẬT “PHỎNG TRUYỀN KÌ” TRONG VĂN XUÔI VIỆT (45)
    • 2.1. Hình tượng không - thời gian trong truyện phỏng truyền kì (45)
      • 2.1.1. Không - thời gian kỳ ảo, linh dị (45)
      • 2.1.2. Không - thời gian dung hợp yếu tố hiện thực và kỳ ảo (47)
    • 2.2. Hình tượng nhân vật trong truyện “Phỏng truyền kì” (55)
      • 2.2.1. Hình tượng “kỳ nhân”, “dị nhân” (55)
      • 2.2.2. Hình tượng yêu quái, ma mị (56)
    • 3.1. Thủ pháp trần thuật trong truyện “phỏng truyền kì” (63)
      • 3.1.1. Đưa yếu tố có tính lịch sử, hiện thực vào truyện (63)
      • 3.1.2. Đa dạng hóa điểm nhìn trần thuật qua hình tượng người kể chuyện (64)
    • 3.2. Thủ pháp mô phỏng trong xây dựng cốt truyện “phỏng truyền kì” (67)
      • 3.2.1. Phương thức mô phỏng motif (67)
      • 3.2.2. Phương thức mô phỏng type truyện (70)
    • 3.3. Các thủ pháp gây kinh dị trong truyện “phỏng truyền kỳ” (77)
      • 3.3.1. Truyền kì trung đại phương Đông không chú ý tạo ra sự kinh dị (77)
      • 3.3.2. Tính chất “kinh dị” trong truyện có yếu tố truyền kì phương Tây (79)
      • 3.3.3. Yếu tố kinh dị trong truyện “phỏng truyền kì” (81)
    • 3.4. Thủ pháp tạo ra sự “phân vân” (83)
      • 3.4.2. Sự “phân vân” trong truyện phương Tây và truyện “phỏng truyền kì” (86)
  • KẾT LUẬN (90)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (93)
  • PHỤ LỤC (42)

Nội dung

Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Truyện “phỏng truyền kì” là một thể loại văn xuôi độc đáo, kết hợp giữa truyền thống văn chương truyền kì trung đại, truyện kể dân gian và tinh hoa văn học cận đại phương Tây Thể loại này không chỉ mở ra lối đi mới cho văn học Việt Nam, mà còn giúp giải quyết bế tắc của văn học trung đại, đồng thời hòa nhập vào dòng chảy chung của văn học thế giới Chính vì lý do này, “phỏng truyền kì” đã thu hút sự quan tâm đặc biệt từ giới nghiên cứu.

Khi nghiên cứu mảng văn xuôi "phỏng truyền kì", vấn đề đầu tiên nổi bật là sự đa dạng trong tên gọi của thể loại tác phẩm này Các nhà văn thường sử dụng những thuật ngữ khác nhau để mô tả tác phẩm của mình, như Nguyễn Tuân với “Yêu ngôn” hay Lan Khai cùng các tác giả khác với “Đường rừng” Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng có những cách định nghĩa khác nhau như “Truyền kì đời mới”, “Kì ảo”, “Kinh dị” hay “Quái đản” Điều này cho thấy sự phức tạp trong việc xác định tên gọi cho thể loại văn học này.

- Truyện “Đường rừng” Nhà nghiên cứu Nguyễn Vĩ, trong Văn thi sĩ tiền chiến

Tên gọi "Đường rừng" không phải do Lan Khai tự đặt, mà được các nhà văn Bắc Kỳ vào thập niên 30 của thế kỷ XX gán cho ông, vì ông chuyên viết về các vùng thượng du Bắc Việt, nơi ông sinh ra Giới phê bình văn học thời đó đồng nhất gọi "Đường rừng" để chỉ một bộ phận tác phẩm của Lan Khai, bao gồm cả truyện ngắn và tiểu thuyết Vũ Ngọc Phan trong cuốn "Nhà văn Việt Nam" cũng khẳng định rằng Lan Khai xứng đáng nổi tiếng với thể loại tiểu thuyết "Đường rừng".

Nhiều nghiên cứu gần đây, bao gồm cả các luận văn Thạc sĩ và Tiến sĩ, đã chỉ ra rằng một phần tác phẩm của Lan Khai được gọi là truyện Đường rừng, như được đề cập bởi các tác giả Trần Mạnh Tiến, Nguyễn Thanh Trường và Vũ Thị Nhất.

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng một số nhà văn như Lan Khai, Nguyễn Tuân, Đái Đức Tuấn, Thanh Tịnh và Thế Lữ được liên kết với thể loại "phỏng truyền kỳ", thông qua việc sử dụng tên truyện "Đường rừng" để mô tả các tác phẩm ngắn của họ Cách gọi này không chỉ làm nổi bật đặc trưng của thể loại mà còn phản ánh sự sáng tạo trong văn học.

Trong những năm 30, thể loại văn xuôi mới mang tên truyện Đường rừng đã xuất hiện và thu hút sự quan tâm mạnh mẽ từ độc giả ba miền Trung, Nam, Bắc Nhiều tác giả nổi tiếng như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Tchya, Nhất Linh, Hồ Dzếnh, Vũ Bằng, Lan Khai và Lý Văn Sâm đã tham gia viết thể loại này, tạo ra một làn sóng dư luận sôi nổi và sự hưởng ứng nhiệt tình từ bạn đọc.

Truyện “Yêu ngôn” là tên mà Nguyễn Tuân dự định đặt cho một tập sách trước Cách mạng tháng Tám Theo Nguyễn Đăng Mạnh trong chương “Nguyễn Tuân viết yêu ngôn” của tập sách Những bài giảng về tác gia văn học trong tiến trình văn học hiện đại Việt Nam (tập 1), ông đã có kế hoạch tập hợp một số truyện ngắn từ “Vang bóng một thời” hoặc từ các bài viết trên báo chí đương thời về chủ đề ma quỷ kiểu Liêu trai để xuất bản dưới tên gọi Yêu ngôn Tuy nhiên, kế hoạch này chưa kịp thực hiện do sự kiện Cách mạng tháng Tám diễn ra.

Nguyễn Đăng Mạnh đã công bố thông tin quan trọng, dẫn đến việc nhóm Nguyễn Huệ Chi đặt tên “Yêu ngôn” cho một tập truyện trong cuốn “Truyện truyền kì Việt Nam” (tập Ba) Tập truyện này bao gồm các tác phẩm nổi bật như Báo oán, Trên đỉnh non Tản, Rượu bệnh, Xác ngọc lam, Đới Roi và Loạn âm của tác giả Nguyễn Tuân.

- Truyện “Quái đản” Khái niệm này được Trọng Đạt dùng để gọi tên cho truyện

“Tâm sự của nước độc” là một tác phẩm của Nguyễn Tuân, trước năm 1945 được biết đến với tên gọi “Chùa Đàn” Sau năm 1945, tác giả đã đổi tên thành tập sách “Chùa Đàn”, bao gồm ba truyện: “Dựng”, “Tâm sự của nước độc” và “Mưỡu cuối” Bài viết của Trọng Đạt mang tiêu đề “Chùa Đàn - truyện quái đản cuối cùng của Nguyễn Tuân” cho thấy rằng, theo Trọng Đạt, Nguyễn Tuân không chỉ có một tác phẩm được xem là “quái đản”.

Truyện “Kinh dị” của tác giả Lê Hải Anh được phân tích trong bài báo “Phương thức kể chuyện đặc trưng của truyện kinh dị Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX” Nghiên cứu tập trung vào các truyện ngắn được gọi là “phỏng truyền kì” của các nhà văn nổi bật như Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Tchya, Bình Nguyên Lộc, Nhất Linh, cùng với sự mở rộng đến các tác giả Lan Khai, Lê Văn Trương và Phạm Cao Củng.

Khái niệm "truyện kỳ ảo" được nhiều tác giả nghiên cứu, như Trần Thế Mạnh với tác phẩm "Quá trình nghiên cứu văn học kỳ ảo và yếu tố kỳ ảo trong văn học Việt Nam", Bùi Thanh Truyền trong "Truyện ngắn kỳ ảo - một đóng góp của Tự lực văn đoàn cho văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX", và Trần Thanh Tùng với "Yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930-1945" Những nghiên cứu này làm nổi bật vai trò và ảnh hưởng của yếu tố kỳ ảo trong văn học Việt Nam.

Bùi Thanh Truyền nghiên cứu một số truyện ngắn tiêu biểu như "Bóng người trong sương mù", "Lan rừng" của Nhất Linh, cùng với "Ma xuống thang gác", "Tiếng hú ban đêm", "Một đêm trăng" của Thế Lữ Tương tự, Trần Thanh Tùng cũng đề cập đến các tác phẩm "phỏng truyền kỳ" của Nhất Linh, Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Tchya, và Thanh Tịnh, tất cả đều được sáng tác trước năm 1945.

Truyện “Truyền kỳ đời mới” được Vũ Thanh đề xuất để chỉ những tác phẩm ngắn “phỏng truyền kỳ” của các tác giả như Thế Lữ, Tchya, Thanh Tịnh, và Nguyễn Tuân Theo Vũ Thanh, mặc dù những truyện này không hoàn toàn thuộc thể loại truyền kỳ cổ điển, nhưng chúng vẫn mang ảnh hưởng từ các tài liệu dân gian và truyện truyền kỳ cổ, đồng thời thể hiện bút pháp truyền kỳ với yếu tố kỳ ảo là đặc trưng thẩm mỹ quan trọng, phản ánh cái nhìn của nhà văn Do đó, thuật ngữ “truyện truyền kỳ đời mới” có thể được sử dụng để mô tả những tác phẩm này.

Vũ Thanh đã sử dụng thuật ngữ “Truyền kì đời mới” để chỉ những tác phẩm truyện ngắn mang yếu tố truyền kì trong văn học Việt Nam hiện đại, bao gồm các tác giả như Nguyễn Huy Thiệp, Ngô Văn Phú, Võ Thị Hảo, Lưu Minh Sơn và Phạm Hải Vân.

“Tân truyền kì” là tên mà Trần Thị Hồng Liễu [18] đặt cho các truyện mà chúng tôi gọi là “phỏng truyền kì”…

Luận văn nghiên cứu đối tượng có nhiều tên gọi khác nhau do các nhà nghiên cứu thường chú trọng đến những đặc điểm riêng của nhóm truyện Ví dụ, một số người gọi là truyện “Đường rừng” vì tập trung vào không gian miền rừng núi, trong khi những người khác lại sử dụng thuật ngữ “Quái đản” để nhấn mạnh những yếu tố kỳ lạ trong câu chuyện.

Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn này áp dụng một số phương pháp chính Đầu tiên, phương pháp so sánh được sử dụng để chỉ ra tính chất mô phỏng và nghệ thuật của truyện “phỏng truyền kì” so với các thể loại khác, với nhiều cấp độ so sánh từ motif đến hệ thống nhân vật Thứ hai, phương pháp loại hình giúp khám phá đặc điểm riêng của truyện “phỏng truyền kì” và mối quan hệ của nó với các thể loại văn học khác Tiếp theo, phương pháp phân tích và tổng hợp thường xuyên được áp dụng khi xem xét các tác phẩm văn học liên quan Cuối cùng, do sự phong phú và đa dạng của tác giả và tác phẩm, phương pháp nghiên cứu trường hợp được sử dụng để chọn lựa các ví dụ điển hình nhằm nghiên cứu cách mô phỏng trong truyện “phỏng truyền kì” trong văn xuôi quốc ngữ đầu thế kỷ XX.

Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài

Vào đầu thế kỷ XX, văn xuôi Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc so với văn xuôi trung đại, tiến gần hơn đến quỹ đạo của văn học hiện đại thế giới Sự chuyển mình này đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam.

Sự "thần kỳ" trong văn học dân tộc Việt Nam là kết quả của nỗ lực đáng kể từ các nhà văn trong quá trình hiện đại hóa Một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình này là biện pháp mô phỏng trong sáng tác, không phải là sự bắt chước thô vụng mà là một hình thức mô phỏng nghệ thuật, sáng tạo Điều này thể hiện bản lĩnh của thế hệ văn sĩ tiền chiến, những người đã đặt nền móng cho nền văn học hiện đại Việt Nam.

Trong quá trình phát triển văn học, hiện tượng tiếp biến và mô phỏng trong sáng tác là điều tất yếu Luận văn này gợi ý mở rộng đối tượng và phạm vi nghiên cứu ở những quy mô khác nhau Từ hiện tượng “phỏng truyền kì” trong văn xuôi đầu thế kỷ XX, có thể liên hệ đến các hiện tượng mô phỏng khác trong văn học Việt Nam, từ đó nhận diện quy luật vận động của lịch sử văn học dân tộc.

Trên phương diện thực tiễn, luận văn là một trải nghiệm khoa học, giúp chúng tôi rèn luyện kỹ năng nghiên cứu văn học.

Bố cục luận văn

Luận văn được cấu trúc bao gồm Mở đầu, Nội dung, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục Phần Nội dung chia thành ba chương: Chương 1 tập trung vào quá trình hình thành và phát triển của thể loại “phỏng truyền kì” trong văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX; Chương 2 phân tích nghệ thuật “phỏng truyền kì” qua hình tượng không-thời gian và hình tượng nhân vật; Chương 3 khảo sát các thủ pháp “phỏng truyền kì” được sử dụng trong văn xuôi Việt Nam trong cùng thời kỳ.

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRUYỆN “PHỎNG TRUYỀN KÌ” TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX

Con đường vận động của truyện “phỏng truyền kì” qua các trường hợp tiêu biểu

1.2.1 “ Nam thiên trân dị tập ” và “ Dã sử ” - những tác phẩm cuối cùng của truyện truyền kì trung đại Việt Nam

Truyện truyền kì trung đại Việt Nam xuất hiện từ thế kỉ XIV với tác phẩm đầu tiên “Việt điện u linh tập” của Lý Tế Xuyên (1329) và phát triển mạnh mẽ đến thế kỉ XVI qua “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ Mặc dù bị ảnh hưởng bởi văn hóa phương Tây trong thời kỳ Pháp thuộc, thể loại này vẫn tồn tại cho đến đầu thế kỉ XX Hai tác phẩm truyền kì trung đại cuối cùng đáng chú ý là “Nam thiên trân dị tập” (1917, Khuyết danh) và “Dã sử” (khuyết danh), cho thấy sự bền bỉ của thể loại này trong bối cảnh lịch sử đầy biến động.

Hai tập truyện này được gọi là truyện truyền kì vì chúng đáp ứng các tiêu chí loại hình, bao gồm: được ghi chép bằng chữ Hán, kể những câu chuyện kỳ lạ xuất phát từ cộng đồng, và bổ khuyết lịch sử nhằm tôn vinh giá trị văn hóa Việt.

Về Nam thiên trân dị tập, nhóm Nguyễn Huệ Chi cho biết tập truyện chỉ là phần

Biên tập và phục hồi các tác phẩm nổi tiếng trong kho tàng truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam như Lĩnh Nam chích quái liệt truyện (thế kỷ XV, của Trần Thế Pháp), Công dư tiệp kí (thế kỷ XVIII, của Vũ Phương Đề) và Thính văn dị lục (thế kỷ XIX, tác giả khuyết danh) là một công việc quan trọng nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.

Tác phẩm này là sự mô phỏng của những truyện truyền kì trước đó, mặc dù không được gọi chính thức là truyện truyền kì trung đại Việc sử dụng từ “dị” trong tên tập truyện cho thấy tác giả muốn tiếp tục thể loại truyện về sự “lạ” trong truyền kì trung đại, tương tự như các tác phẩm Hát Đông thư dị của Nguyễn Thượng Hiền và Thính văn dị lục.

Nam thiên trân dị tập, giống như các tác phẩm truyền kì khác như Truyền kì mạn lục hay Lĩnh Nam chích quái, mang trong mình những yếu tố kỳ bí và quái dị, phản ánh đặc trưng của thể loại truyện truyền kì trung đại Tác phẩm này không chỉ tái hiện những câu chuyện đã được nhắc đến trong các tập truyện trước đó, mà còn thể hiện cái nhìn của người sống ở thế kỉ XIX - XX, mặc dù cái nhìn này vẫn giữ nguyên nét tương đồng với các tác giả truyền kì của các thế kỉ trước.

Truyện “Chân nhân Phạm Viên” kể về một nhân vật tu tiên đạt đạo, sở hữu những thuật lạ và tài năng phi thường, với những hành tung huyền bí Đề tài này rất phổ biến trong thể loại truyền kỳ của văn học trung đại Việt Nam.

Truyện truyền kì Việt Nam của nhóm Nguyễn Huệ Chi đã ghi nhận trước tác phẩm "Chân nhân Phạm Viên" trong Nam thiên trân dị tập, đã có 6 truyện viết về nhân vật Phạm Viên Các tác phẩm này bao gồm "Phạm Viên" trong Lan Trì kiến văn lục của Vũ Trinh, cùng với "Ông sư tiên núi Nưa".

(Sơn cư tạp thuật - Khuyết danh) [7; 188-190]; “Thành Đạo tử” (Tang thương ngẫu lục

Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án đã ghi lại nhiều nhân vật quan trọng trong tác phẩm "Tang thương ngẫu lục", bao gồm "Ông Nguyễn Hoàn" [7; 211-213] và "Ông Nguyễn Trọng Thường" [7; 214-215] Ngoài ra, tác phẩm còn đề cập đến "Ông tiên Đông Thành", thể hiện sự đa dạng và chiều sâu trong việc khắc họa các nhân vật của thời kỳ lịch sử này.

(Thoái thực kí văn - Trương Quốc Dụng) [7; 311-314].

So sánh sáu truyện với “Chân nhân Phạm Viên” trong Nam thiên trân dị tập (Truyện 7), chúng tôi nhận thấy cả bảy tác phẩm có nội dung tương đồng Mặc dù ra đời vào đầu thế kỷ XX, “Chân nhân Phạm Viên” vẫn mang đậm ảnh hưởng của truyền kỳ trung đại Tác giả đã giữ lại các yếu tố huyền ảo và truyền kỳ, đồng thời sáng tạo ra những phép thuật và tài năng mới cho nhân vật Phạm Viên, phong phú hơn so với các phiên bản trước (Xem Phụ lục, Bảng 1.2, So sánh cốt truyện giữa “Chân nhân Phạm Viên” và các truyện về Phạm Viên trong truyền kỳ trung đại).

Cuộc đời của Phạm Viên trong truyện thứ 7 của Nam thiên trân dị tập có nhiều điểm tương đồng với các truyện truyền kỳ trước, như xuất thân, chí hướng tu tiên từ nhỏ, và việc bộc lộ các thuật lạ Tuy nhiên, tác giả đã khắc họa tài năng của Phạm Viên một cách sâu sắc hơn, giữ nguyên tính chất truyền kỳ trong văn học đầu thế kỷ XX Điều này không chỉ riêng với nhân vật Chân nhân Phạm Viên mà còn phản ánh chung trong các truyện khác của tập này Nhiều tác phẩm vẫn duy trì tư tưởng truyền kỳ với quan niệm “giai do tiền định”, nơi những trường hợp thi đỗ bất thường, dù không học giỏi, trở thành những câu chuyện thú vị trong thể loại này.

“không đĩnh ngộ, văn tứ tầm thường” nhưng rốt cuộc lại đỗ Tiến sĩ (truyện Tiến sĩ Trần

Lê Kính, người thi Hội ba lần không đỗ và không quan tâm đến việc thi cử suốt 20 năm, cuối cùng vẫn đạt được Tiến sĩ Một kẻ giết người trốn làng, lấy bốn bà vợ ở bốn nơi khác nhau và có bốn con trai, tất cả đều đỗ Tiến sĩ Những câu chuyện kỳ lạ như vậy được ghi lại trong Nam thiên trân dị tập, góp phần làm phong phú thêm truyền thuyết kỳ trung đại cho đến đầu thế kỷ XX.

Trường hợp Dã sử nổi bật với đặc điểm truyền kì mang tính ngụ ngôn Mặc dù truyền kì trung đại có ý khuyên răn người đời, nhưng mục đích chính vẫn là khám phá sự lạ thường và hư ảo Độc giả tìm đến truyền kì để tận hưởng những câu chuyện lạ, nhân vật độc đáo và những tình huống kỳ thú mà tác giả mang lại.

“phát hiện” ra chứ không phải là để thấm thía với những ngụ ý tư tưởng từ đó Nhưng

Tác giả trong dã sử chú trọng đến tính ngụ ý, sử dụng chất liệu truyền kỳ như một lớp vỏ bọc, nhằm truyền tải tư tưởng sâu sắc bên trong hoặc tạo nền tảng cho tư tưởng thăng hoa.

Chuyện lạ đáng ghi là câu chuyện truyền kì hiếm hoi đề cập đến nữ hồ ly (một

Trong văn hóa Trung Quốc, hồ nữ trong "Liêu trai chí dị" được miêu tả là đẹp, thông minh và chung thủy, mang lại hạnh phúc cho những nho sinh nghèo khổ Ngược lại, hồ ly trong văn hóa Việt Nam thường bị xem là yêu quái, dâm đãng và là nguyên nhân gây rạn nứt trong hôn nhân, trở thành một từ chửi mỉa mai Thú vị thay, vào thời điểm mà thể loại truyền kỳ đang dần mai một, hình ảnh hồ ly lại xuất hiện trong Dã sử với câu chuyện về hồ nữ ẩn mặt sống trong nhà của người khác Motif "hồ nữ ẩn mặt sống ở nhà/chỗ học của chồng/tình nhân" trở nên khá phổ biến trong những tác phẩm văn học này.

Liêu Trai chí dị không chỉ đơn thuần là một tác phẩm truyền kỳ kể về những câu chuyện huyền bí, mà còn mang đến một thông điệp sâu sắc về con người: chính đồng loại mới là điều đáng sợ nhất trong cuộc sống.

NGHỆ THUẬT “PHỎNG TRUYỀN KÌ” TRONG VĂN XUÔI VIỆT

Ngày đăng: 31/05/2022, 11:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lê Hải Anh (2017), “Phương thức kể chuyện đặc trưng của truyện kinh dị Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX”, Tạp chí Khoa học (Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh), 5 (14), tr 20-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương thức kể chuyện đặc trưng của truyện kinh dị Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX”, "Tạp chí Khoa học
Tác giả: Lê Hải Anh
Năm: 2017
[2] Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
[3] Phan Kế Bính (2016), Nam hải dị nhân liệt truyện, NXB Trẻ và NXB Hồng Bàng, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam hải dị nhân liệt truyện
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: NXB Trẻ và NXB Hồng Bàng
Năm: 2016
[4] Nguyễn Đổng Chi (2014), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (quyển Một), NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2014
[5] Nguyễn Đổng Chi (2014), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (quyển Hai), NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2014
[6] Nguyễn Huệ Chi (1999), “Tìm hiểu các dạng truyện kì ảo trong văn học trung đại và cận đại Đông Tây”, Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học, Viện Văn học, Hà Nội, tr105-139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu các dạng truyện kì ảo trong văn học trung đại và cận đại Đông Tây”, "Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 1999
[7] Nguyễn Huệ Chi (chủ biên, 2009), Truyện truyền kì Việt Nam, quyển Hai, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện truyền kì Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
[8] Nguyễn Huệ Chi (chủ biên, 2009), Truyện truyền kì Việt Nam, quyển Ba, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện truyền kì Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
[9] Trần Nghi Dung (2012), Dấu vết của truyền kỳ trong văn học 1930-1945, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu vết của truyền kỳ trong văn học 1930-1945
Tác giả: Trần Nghi Dung
Năm: 2012
[10] Trong Đạt (2014), Chùa Đàn - truyện quái đản cuối cùng của Nguyễn Tuân, https://vantuyen.net/2014/07/26/chua-dan-truyen-quai-dan-cuoi-cung-cua-nguyen-tuan-trong-dat/, 2.12.2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Đàn - truyện quái đản cuối cùng của Nguyễn Tuân
Tác giả: Trong Đạt
Năm: 2014
[11] La Mai Thi Gia (2016), Mô típ trong nghiên cứu truyện kể dân gian: Lý thuyết và ứng dụng, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô típ trong nghiên cứu truyện kể dân gian: Lý thuyết và ứng dụng
Tác giả: La Mai Thi Gia
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2016
[12] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2009), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
[13] Khái Hưng (2015), “Tựa” Vàng và máu (An Nam xuất bản cục, 1934), dẫn theo http://nhilinhblog.blogspot.com/2015/06/vang-va-mau-mot-vi-tri.html,2.12.2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tựa” Vàng và máu
Tác giả: Khái Hưng
Năm: 2015
[14] Lan Khai (2016), Chiếc nỏ cánh dâu, NXB Thế giới, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiếc nỏ cánh dâu
Tác giả: Lan Khai
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2016
[15] Lê Huy Hòa - Nguyễn Văn Bình (Tuyển chọn và giới thiệu, 2007), “Chốn u linh: Truyện ngắn quái dị chọn lọc”, NXB Lao Động - Công ty Sách Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chốn u linh: Truyện ngắn quái dị chọn lọc
Nhà XB: NXB Lao Động - Công ty Sách Hà Nội
[16] Ngô Tự Lập (Sưu tầm và giới thiệu, 1999), Truyện kì ảo thế giới (tập 1), NXB Văn học, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện kì ảo thế giới
Nhà XB: NXB Văn học
[17] Ngô Tự Lập (Sưu tầm và giới thiệu, 1999), Truyện kì ảo thế giới (tập 2), NXB Văn học, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện kì ảo thế giới
Nhà XB: NXB Văn học
[18] Trần Thị Hồng Liễu (2015), Con đường đến với thế giới liêu trai của các nhà văn tân truyền kì Việt Nam 1939-1945, dẫn theo http://vannghequandoi.com.vn/con-duong-den-voi-the-gioi-lieu-trai-cua-cac-nha-van-tan-truyen-ki-viet-nam-1939-1945.html, 2.12.2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đến với thế giới liêu trai của các nhà văn tân truyền kì Việt Nam 1939-1945
Tác giả: Trần Thị Hồng Liễu
Năm: 2015
[19] Nguyễn Đăng Mạnh (1999), Những bài giảng về tác gia văn học trong tiến trình văn học hiện đại Việt Nam, tập I, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về tác gia văn học trong tiến trình văn học hiện đại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
[20] Nguyễn Đăng Mạnh - Bùi Duy Tân - Nguyễn Như Ý (đồng chủ biên, 2012), Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

-Phân biệt được các hình thức hô hấp và lên men. - Nghệ thuật “phỏng truyền kỳ” trong văn xuôi việt nam nửa đầu thế kỷ xx
h ân biệt được các hình thức hô hấp và lên men (Trang 2)
• Điều chỉnh và kiểm định mơ hình các yếu - Nghệ thuật “phỏng truyền kỳ” trong văn xuôi việt nam nửa đầu thế kỷ xx
i ều chỉnh và kiểm định mơ hình các yếu (Trang 35)
Bảng 1.1. Một số truyện truyền kì cĩ nội dung giống với truyện cổ tích - Nghệ thuật “phỏng truyền kỳ” trong văn xuôi việt nam nửa đầu thế kỷ xx
Bảng 1.1. Một số truyện truyền kì cĩ nội dung giống với truyện cổ tích (Trang 96)
Bảng 1.3. Liệt kê những truyện giống nhau về nhân vật chủ đề giữa “Nam hải dị nhân” và truyện truyền kì trung đại Việt Nam - Nghệ thuật “phỏng truyền kỳ” trong văn xuôi việt nam nửa đầu thế kỷ xx
Bảng 1.3. Liệt kê những truyện giống nhau về nhân vật chủ đề giữa “Nam hải dị nhân” và truyện truyền kì trung đại Việt Nam (Trang 97)
Bảng 1.2. So sánh cốt truyện giữa “Chân nhân Phạm Viên” (truyện 7) - Nghệ thuật “phỏng truyền kỳ” trong văn xuôi việt nam nửa đầu thế kỷ xx
Bảng 1.2. So sánh cốt truyện giữa “Chân nhân Phạm Viên” (truyện 7) (Trang 97)
Bảng 1.4. So sánh nội dung cốt truyện “Bố Cái đại vương” của Phan Kế Bính - Nghệ thuật “phỏng truyền kỳ” trong văn xuôi việt nam nửa đầu thế kỷ xx
Bảng 1.4. So sánh nội dung cốt truyện “Bố Cái đại vương” của Phan Kế Bính (Trang 99)
Bảng 1.5. So sánh phần đầu truyện “Lương Hữu Khánh” (Phan Kế Bính) [3] - Nghệ thuật “phỏng truyền kỳ” trong văn xuôi việt nam nửa đầu thế kỷ xx
Bảng 1.5. So sánh phần đầu truyện “Lương Hữu Khánh” (Phan Kế Bính) [3] (Trang 100)
Bảng 1.6. Danhmục 10 truyện trong Trăng ma lầu Việt được phĩng tác - Nghệ thuật “phỏng truyền kỳ” trong văn xuôi việt nam nửa đầu thế kỷ xx
Bảng 1.6. Danhmục 10 truyện trong Trăng ma lầu Việt được phĩng tác (Trang 100)
Bảng 1.7. So sánh diễn biến chính của truyện - Nghệ thuật “phỏng truyền kỳ” trong văn xuôi việt nam nửa đầu thế kỷ xx
Bảng 1.7. So sánh diễn biến chính của truyện (Trang 101)
Bảng 1.8. So sánh sự khác biệt của truyện Nguyễn Dữ và truyện Quách Tấn - Nghệ thuật “phỏng truyền kỳ” trong văn xuôi việt nam nửa đầu thế kỷ xx
Bảng 1.8. So sánh sự khác biệt của truyện Nguyễn Dữ và truyện Quách Tấn (Trang 104)
NGAY ĐẦU TRUYỆN - Nghệ thuật “phỏng truyền kỳ” trong văn xuôi việt nam nửa đầu thế kỷ xx
NGAY ĐẦU TRUYỆN (Trang 106)
Bảng 3.1. Những câu chuyện cĩ dẫn nguồn ngay đầu truyện - Nghệ thuật “phỏng truyền kỳ” trong văn xuôi việt nam nửa đầu thế kỷ xx
Bảng 3.1. Những câu chuyện cĩ dẫn nguồn ngay đầu truyện (Trang 106)
Bảng 3.2: Yếu tố lịch sử trong “Truyền kì mạn lục” - Nghệ thuật “phỏng truyền kỳ” trong văn xuôi việt nam nửa đầu thế kỷ xx
Bảng 3.2 Yếu tố lịch sử trong “Truyền kì mạn lục” (Trang 107)
Bảng 3.4: Type truyện “Người hĩa hổ” trong truyện truyền kì trung đại Việt Nam - Nghệ thuật “phỏng truyền kỳ” trong văn xuôi việt nam nửa đầu thế kỷ xx
Bảng 3.4 Type truyện “Người hĩa hổ” trong truyện truyền kì trung đại Việt Nam (Trang 111)
Bảng3.5. Mơphỏng type truyện “Khách chơn của” - Nghệ thuật “phỏng truyền kỳ” trong văn xuôi việt nam nửa đầu thế kỷ xx
Bảng 3.5. Mơphỏng type truyện “Khách chơn của” (Trang 112)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w