ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là thực trạng phát triển, những thuận lợi và khó khăn trong phát triển du lịch cộng đồng tại xã Bản Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
- Phạm vi về không gian: Đề tài thực hiện trên địa bàn xã Bản Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
- Phạm vi về thời gian: từ ngày 01/02/2021 đến ngày 01/05/2021.
Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, tiềm năng, kinh tế - xã hội trên địa bàn xã Bản Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
- Đánh giá tiềm năng du lịch tại xã Bản Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
- Tình hình phát triển du lịch cộng đồng tại xã Bản Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
- Thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại xã Bản Phố
Để phát triển du lịch cộng đồng, cần đề xuất một số giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao giá trị kinh tế và thúc đẩy sự phát triển kinh tế tại địa phương Các giải pháp này bao gồm việc tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, phát triển cơ sở hạ tầng du lịch, quảng bá các sản phẩm văn hóa địa phương, và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động du lịch Đồng thời, việc xây dựng các chương trình hợp tác giữa chính quyền, doanh nghiệp và người dân cũng rất quan trọng để tạo ra những trải nghiệm du lịch độc đáo và bền vững.
Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu, thông tin
3.3.1.1 Phương pháp thu nhập thông tin thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp là loại dữ liệu đã được công bố và sẵn có, không cần phải thu thập lại, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí Loại dữ liệu này đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu tiếp thị cũng như trong các lĩnh vực khoa học xã hội khác.
Thông qua việc sử dụng sách báo, tài liệu, internet, cùng với các báo cáo thống kê và tổng kết đã được công bố của xã, chúng tôi đã thu thập được số liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên, dân sinh, hạ tầng, kinh tế xã hội, văn hóa và hoạt động du lịch cộng đồng trong khu vực nghiên cứu.
3.3.1.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Chọn địa điểm nghiên cứu
Xã Bản Phố, nằm trên địa phận Bắc Hà, Lào Cai, là một vùng cao với vẻ đẹp hoang sơ và bình dị Địa điểm này đang ngày càng thu hút du khách nhờ cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn và không khí yên bình, trở thành một điểm du lịch thú vị tại Bắc Hà.
Bản Phố, thuộc xã Bản Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, là nơi sinh sống của 500 hộ gia đình H’Mông Tên gọi Bản Phố có nguồn gốc từ tiếng Quan Hỏa, nghĩa là nơi tập trung dân cư và hàng quán Nơi đây nổi bật với phong cảnh tuyệt đẹp, bao quanh là núi rừng xanh mướt, xen lẫn những nếp nhà truyền thống của người Mông nằm bên sườn núi.
Xã Bản Phố hiện có 11 thôn với sự phát triển kinh tế đồng đều, chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, xã còn phát triển du lịch cộng đồng thông qua các hoạt động như du lịch sinh thái, du lịch làng bản và các dịch vụ du lịch như ăn uống và nghỉ ngơi.
Tại xã Bản Phố, có 31 hộ gia đình tham gia vào hoạt động du lịch Trong nghiên cứu này, tác giả đã chọn toàn bộ 31 hộ để thực hiện phỏng vấn trực tiếp, sử dụng bảng hỏi đã được chuẩn bị trước, bao gồm các nội dung liên quan đến hoạt động du lịch của họ.
- Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng của hộ
- Thuận lợi và khó khăn trong phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn nghiên cứu
3.3.2 Phương pháp phân tích xử lý số liệu
Sau khi thu thập đầy đủ số liệu điều tra từ các hộ hoạt động du lịch cộng đồng, chúng tôi sẽ tiến hành kiểm tra và rà soát thông tin Mục tiêu là loại bỏ những dữ liệu không chính xác và sai lệch, đồng thời chuẩn hóa lại các thông tin để đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy.
- Từ số liệu điều tra thu thập được trên địa bàn nghiên cứu, sau đó tiến hành tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu
Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu là cách hiệu quả để xử lý các số liệu đã thu thập Bằng cách này, người dùng có thể tổng hợp thông tin và biểu diễn chúng dưới dạng bảng biểu, giúp việc phân tích trở nên rõ ràng và dễ hiểu hơn.
Phương pháp đối chiếu so sánh là công cụ quan trọng trong nghiên cứu, giúp phản ánh chân thực hiện tượng và xác định xu hướng cũng như mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích Phương pháp này không chỉ làm cho việc phân tích tài liệu trở nên khoa học và khách quan hơn, mà còn đảm bảo rằng nội dung nghiên cứu được phản ánh một cách chính xác.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Xã Bản Phố, nằm cách thị trấn 4km về phía Tây Bắc, là nơi sinh sống của đồng bào H’Mông trên những ngọn núi cao Xã này có vị trí địa lý tiếp giáp với nhiều khu vực quan trọng xung quanh.
- Phía Bắc giáp xã Tả Van Chư
- Phía Nam giáp xã Na Hối và Cốc Ly
- Phía Đông giáp xã Lùng Phình và xã Tả Chải
- Phía Tây giáp xã Hoàng Thu Phố
Xã Bản Phố có diện tích đất tự nhiên là 1.802,12ha và được phân bố hành chính thành 11 thôn
Xã Bản Phố có địa hình đồi núi phức tạp, chủ yếu là đồi núi bao quanh xã, còn nằm ở dưới thấp hơn là những thửa ruộng bậc thang
Xã Bản Phố là một điểm đến hấp dẫn cho du khách, đặc biệt là những ai yêu thích khám phá văn hóa, phong tục và tập quán địa phương Nơi đây không chỉ nổi bật với cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp mà còn mang đến nhiều loại hình du lịch trải nghiệm phong phú.
Bảng 4.1: Diện tích đất và cơ cấu của xã Bản Phố huyện Bắc Hà
Tổng diện tích đất tự nhiên 1.802,12 100 1.802,12 100 0 1.Đất nông nghiệp 1,584.92 87,95 1.571,21 87,19 -230,91
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 1.057,68 58,69 1.057,65 58,68 -0,03
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 1.013,61 56,25 1.013,58 56,24 -0,03
1.1.1.2 Đất trồng cây hàng năm khác 780,85 43,33 780,82 43,32 -0,03
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 44,07 2,45 44,07 2,45 0
1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 0,07 0 0,07 0 0
2.2.1 Đất xây dựng trụ sở cơ quan 0,28 0,02 0,28 0,02 0
2.2.2 Đất xây dựng công trình sự nghiệp 3,18 0,18 3,18 0,18 0
2.2.3 Đất sản xuất, kinh doanh PNN 0,83 0,05 0,83 0,05 0
2.2.4 Đất có mục đích công cộng 43,39 2,41 43,39 2,41 0
2.3 Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa… 1,86 0,1 1,86 0,1 0
2.4 Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối 13,79 0,77 13,79 0,77 0
(Nguồn: UBND xã Bản Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai)
Xã Bản Phố sở hữu tổng diện tích đất tự nhiên lên tới 1.802,12ha, với sự đa dạng trong việc sử dụng đất Diện tích đất nông nghiệp, phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng đã có sự thay đổi qua các năm, chủ yếu do quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng và các chương trình nông thôn mới được triển khai.
- Đất nông nghiệp giảm đi 23,91ha nguyên nhân là do diện tích đất trồng cây lâm nghiệp giảm
- Diện tích đất phi nông nghiệp trong 2 năm k có sự thay đổi
- Đất chưa sử dụng lại có xu hướng tăng lên
4.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế
Xã Bản Phố, nằm cách trung tâm huyện Bắc Hà 2,5 km về phía Tây Bắc, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và nấu rượu để kinh doanh Những năm qua, nhờ nỗ lực của Đảng bộ và chính quyền địa phương, kinh tế xã đã có sự chuyển biến tích cực Đặc biệt, chương trình nông thôn mới giai đoạn 2015-2020 đã giúp cơ sở vật chất được cải thiện, tạo đà cho sự tăng trưởng kinh tế ổn định với tốc độ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước.
Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế của địa bàn nghiên cứu đã có sự chuyển biến tích cực, với sự gia tăng đáng kể giá trị sản xuất trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ.
4.1.2.2 Tình hình phát triển xã hội
Tình hình nhân khẩu và lao động trên địa bàn xã
Con người đóng vai trò then chốt trong việc đạt được thành công của ngành du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng Bản Phố, nơi có 11 thôn và 4 dân tộc sinh sống, bao gồm H’Mông, Kinh, Tày và La Chí, là minh chứng cho sự đa dạng văn hóa và tiềm năng phát triển du lịch.
Bảng 4.2 Tình hình dân số trên địa bàn xã Bản phố
2018 1.Tổng nhân khẩu Người 3.692 100 3.850 100 4.024 100 104,27 108,99 2.Tổng số hộ Hộ 693 100 756 100 786 100 109,09 113,41
2.1 Hộ nông nghiệp Hộ 617 89,03 662 87,56 684 87,03 107,29 110,85 2.2 Hộ phi nông nghiệp Hộ 76 10,97 94 12,44 102 12,97 123,68 134,21
3 Tổng số lao động Người 1.773 100 1.968 100 2.032 100 110,99 114,60
3.1 Lao động nông, lâm, thủy sản Người 1.435 80,9 1.704 86,6 1.769 87,0 118,74 123,27 3.2 Lao động CN-XD Người 6 0,3 7 0,4 12 0,6 116,66 200,00 3.4 Lao động TM-DV Người 145 8,3 110 5,6 184 9,1 75,86 126,89 3.4 Lao động khác Người 187 10,5 147 7,4 67 3,3 78,60 35,82
(Nguồn: Báo cáo kinh tế - xã hội xã Bản Phố)
Xã Bản Phố hiện có tổng dân số 3.850 người, trong đó tỷ lệ hộ tham gia sản xuất nông nghiệp chiếm 87,03% vào năm 2020 Số lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp cũng chiếm tới 89,6% tổng số lao động của xã Bản Phố là một xã thuần nông, với cư dân chủ yếu hoạt động trong ngành nông nghiệp.
Lao động công nghiệp đang có xu hướng gia tăng, từ 6 người (0,3%) vào năm 2018 lên 12 người (0,6%) vào năm 2020 Nguyên nhân chủ yếu là do người lao động ở độ tuổi lao động di chuyển đến các thành phố và xí nghiệp, tìm kiếm cơ hội việc làm với thu nhập cao hơn.
Lao động trong ngành dịch vụ đã tăng từ 8,3% năm 2018 lên 9,1% năm 2020, nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng Các hoạt động quảng bá hình ảnh địa phương và chính sách thúc đẩy du lịch cộng đồng đã được triển khai hiệu quả, giúp người dân nâng cao khả năng và kinh nghiệm trong lĩnh vực du lịch, từ đó tăng thu nhập và cải thiện đời sống.
Điện là nguồn năng lượng thiết yếu cho các hoạt động sản xuất và đời sống của người dân trong xã Hiện nay, toàn bộ hộ dân trong xã đã được cung cấp điện, đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt hàng ngày.
Xã có bưu điện văn hóa, cung cấp dịch vụ thông tin liên lạc, sách báo và văn hóa phẩm cho người dân Những nguồn thông tin này thường xuyên cập nhật kiến thức về khoa học, kỹ thuật mới, giống cây trồng năng suất cao và phương pháp phòng trừ bệnh Sự phát triển của thông tin liên lạc đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp vật tư, nắm bắt nhu cầu của khách hàng và tìm hiểu thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Các tuyến đường giao thông trong xã đã được mở rộng và bê tông hóa, bao gồm cả những đường liên thôn, nhờ vào sự đóng góp tích cực của người dân.
Để đảm bảo an ninh chính trị và an toàn xã hội, việc duy trì trật tự an toàn giao thông trên địa bàn xã là rất quan trọng Ban công an xã và ban chỉ huy quân sự xã sẽ phối hợp chặt chẽ, thực hiện nhiệm vụ trực 24/24 nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật Sự hợp tác giữa các lực lượng và các ban ngành sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác đảm bảo an ninh trật tự.
Văn hóa và giáo dục đang được chú trọng phát triển song song với kinh tế và xã hội, tạo nên một hệ thống giáo dục tương đối hoàn chỉnh trong cộng đồng.
Xã đẩy mạnh nhiều hình thức hoạt động văn hóa, văn nghệ ở trường và địa bàn dân cư
Trạm y tế xã được nâng cấp với cơ sở vật chất và thiết bị hiện đại, đảm bảo phục vụ tốt hơn cho người dân Đội ngũ cán bộ y tế cũng được đào tạo chuyên môn để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe, góp phần cải thiện dịch vụ y tế tại địa phương.
Tiềm năng du lịch cộng đồng xã Bản Phố
4.2.1 Tiềm năng tài nguyên tự nhiên
Xã Bản Phố và vùng Bắc Hà sở hữu khí hậu ôn hòa, mát mẻ suốt năm, là điểm đến lý tưởng cho du lịch nghỉ dưỡng Nơi đây không chỉ thu hút du khách bởi vẻ đẹp kỳ vĩ của địa hình núi đồi hiểm trở mà còn mang đến cơ hội khám phá văn hóa phong phú của các dân tộc địa phương.
Tình hình nhiệt độ xã Bản Phố được thể hiện qua các số liệu sau:
+ Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm là 20 0 C Nhiệt độ trung bình năm
+ Lượng mưa: lượng mưa trung bình năm là 1.800 – 2.200mm, tập chung chủ yếu vào các tháng 5,6,7,8 (chiếm 80% lượng mưa của cả năm)
+ Độ ẩm: Độ ẩm không khí bình quân hàng năm từ 85-90% Độ ẩm biến thiên theo từng mùa
+ Nắng: Tổng số giờ nắng trong năm là 1.500-1.540 Số giờ nắng không đều giữa các tháng, mùa hè số giờ nắng nhiều hơn
Bảng 4.3 Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người
Lượng mưa tb năm (mm)
(Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam)
Khí hậu tại xã Bản Phố rất thích hợp cho con người, đặc biệt là cho sự phát triển ngành du lịch Điều kiện khí hậu thuận lợi là yếu tố quan trọng thu hút khách tham quan, vì du khách thường tránh những nơi có thời tiết quá nóng hoặc quá lạnh Bản Phố trở thành điểm đến lý tưởng cho du khách trong và ngoài nước, nơi họ có thể tận hưởng không khí trong lành Vào đầu năm, du khách có cơ hội chiêm ngưỡng vẻ đẹp của hoa mận, hoa lê nở trắng tinh, trong khi từ tháng 9 đến tháng 11, thời tiết khô ráo và trong xanh tạo nên khung cảnh ruộng bậc thang chín vàng và cánh đồng hoa cải trắng nở rộ Với điều kiện thời tiết thuận lợi như vậy, Bản Phố hứa hẹn mang đến những trải nghiệm thú vị cho du khách, góp phần vào sự phát triển du lịch của vùng.
Xã Bản Phố là một vùng thuần nông, nơi sản xuất nông nghiệp chiếm ưu thế, và hệ thống thủy lợi đóng vai trò thiết yếu trong hoạt động sản xuất Chế độ thủy văn tại đây chủ yếu bị ảnh hưởng bởi dòng suối Bản Phố, bắt nguồn từ thôn Bản Phố 1 và chảy ra thị trấn Bắc Hà.
Các con suối nhỏ trong xã thường có lòng hẹp và dốc, với lưu lượng nước thay đổi theo mùa Mùa mưa, nước chảy mạnh có thể gây lũ ống và lũ quét, đặc biệt ở vùng thấp, trong khi mùa khô lại chứng kiến sự giảm sút lưu lượng nước Điều này gây khó khăn cho người dân trong việc chủ động nguồn nước tưới tiêu và sinh hoạt, đồng thời cũng là thách thức lớn cho chính quyền địa phương trong việc quy hoạch phát triển du lịch cộng đồng.
4.2.2 Tiềm năng về tài nguyên nhân văn
Lễ hội gầu tào của người Mông:
Lễ hội Gầu Tào của người Mông được tổ chức vào tháng Giêng hàng năm, với sự chuẩn bị bắt đầu từ cuối tháng Chạp thông qua hai nghi lễ chặt tre và dựng nêu Ngày chính hội diễn ra từ mùng 2 đến mùng 4, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước Lễ hội không chỉ mang giá trị văn hóa đặc sắc mà còn được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ tháng 12 năm 2012, khẳng định tầm quan trọng trong việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa truyền thống này.
Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng trên đại bàn xã Bản Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
4.3.1 Tình hình phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn xã Bản Phố
4.3.1.1 Lượng khách đến du lịch tại xã Bản Phố
Khách du lịch đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của các địa phương du lịch Những năm gần đây, với đời sống người dân ngày càng ổn định, du lịch đã trở thành một nhu cầu thiết yếu Xã Bản Phố đang ngày càng thu hút nhiều khách du lịch nhờ vào các tour tham quan văn hóa và đời sống của người dân nơi đây Sự gia tăng lượng khách du lịch là tín hiệu tích cực cho những người dân tham gia vào hoạt động du lịch địa phương.
Bảng 4.4 Số lượng khách du lịch đến với xã Bản Phố
Khách nội địa 47.000 47,96 70.700 49,96 80.000 41,67 Khách quốc tế 51.000 52,04 70.800 50,04 112.000 58,33
(Nguồn: số liệu điều tra tại xã Bản Phố năm 2021)
Năm 2020, xã Bản Phố đã thu hút 192.000 lượt khách, trong đó có 112.000 lượt du khách quốc tế, tăng 6,29% so với năm 2018 Lượng khách nội địa cũng có xu hướng tăng dần qua các năm.
Ngoài các hoạt động sản xuất, bản sắc văn hóa độc đáo của các dân tộc tại xã cùng với cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn là những yếu tố thu hút du khách Những trải nghiệm và kỷ niệm đáng nhớ tại đây sẽ khiến du khách muốn quay lại trong tương lai gần.
4.3.1.2 Cơ sở vật chất phục vụ du lịch cộng đồng
Cơ sở vật chất được xem là một trong những tiền đề tạo nên sự thay đổi
Các chương trình xây dựng nông thôn mới đã mang lại sự chuyển mình quan trọng cho xã, với hệ thống điện, đường, trường, trạm được nâng cấp và tu sửa khang trang Giao thông thuận tiện không chỉ hỗ trợ vận chuyển hàng hóa mà còn thúc đẩy du lịch cộng đồng phát triển Nhận thấy cơ hội này, nhiều hộ dân trong xã đã đầu tư vào du lịch, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho bản thân và gia đình.
Cơ sở lưu trú đóng vai trò quan trọng trong ngành du lịch Hiện tại, xã đã có nhiều cơ sở đăng ký kinh doanh như homestay và nhà nghỉ, góp phần phát triển du lịch địa phương.
Bảng 4.5 Tổng hợp một số cơ sở lưu trú tại xã Bản Phố
STT Cơ sở lưu trú Địa chỉ Các tổ chức kinh doanh
1 Sồ homestay Bản Phố 2 Tự kinh doanh 3 5
3 Highland homestay Bản Phố 2 Tự kinh doanh 5 5
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2021)
Hệ thống cơ sở lưu trú tại xã Bản Phố tập trung quanh trung tâm xã, dọc theo trục đường chính, với 3 cơ sở đủ khả năng đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi của du khách Nhờ vào các chính sách thông thoáng, UBND xã đã cấp giấy chứng nhận cho các hộ gia đình đủ điều kiện tham gia hoạt động du lịch cộng đồng Với quyết tâm vươn lên làm giàu bền vững, người dân đã tu sửa nhà cửa, sẵn sàng chào đón khách du lịch.
Cơ sở dịch vụ bán hàng
Trên địa bàn xã có nhiều cơ sở dịch vụ bán hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách
Bảng 4.6 Tổng hợp một số điểm bán hàng STT Điểm bán hàng Địa điểm Hình thức kinh doanh
1 Quán Quang Vinh Bản Phố 2 Bán hàng tạp hóa
2 Quán Trung Nguyệt Bản Phố 2 Dịch vụ ăn uống, bia hơi
3 Quán Quỳnh Bản Phố 2 Dịch vụ ăn uống
4 Giàng Áo Bản Phố 1 Đưa đón khách du lịch
(Nguồn: số liệu điều tra năm 2021)
Hệ thống bán hàng và dịch vụ tại xã Bản Phố rất phong phú với nhiều loại hình kinh doanh đa dạng, chủ yếu tập trung ở trung tâm xã Các điểm kinh doanh này đều đáp ứng đầy đủ tiêu chí vệ sinh an toàn thực phẩm và có đội ngũ phục vụ nhiệt tình, thân thiện.
4.3.2 Tình hình phát triển du lịch cộng đồng của các hộ điều tra
4.3.2.1 Số lao động tham vào hoạt động du lịch cộng động của các hộ điều tra
Lao động và khả năng lao động đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao đời sống cá nhân và gia đình, đồng thời gia tăng thu nhập cho các hộ gia đình Tại xã, có 31 hộ tham gia vào hoạt động du lịch cộng đồng, cho thấy sự tham gia tích cực của lao động trong lĩnh vực du lịch.
Bảng 4.7 Lao động tham gia vào hoạt động du lịch tại các hộ điều tra
Nhóm hộ khá Nhóm hộ TB Nhóm hộ nghèo – cận nghèo
(Nguồn: số liệu điều tra năm 2021)
Theo bảng thống kê, tỷ lệ hộ có từ 1 đến 2 lao động tham gia du lịch cao nhất trong ba nhóm hộ: hộ khá, hộ trung bình và hộ nghèo – cận nghèo.
Tỷ lệ hộ gia đình có từ 3-4 lao động tương đối thấp, trong khi nhóm có từ 5 lao động chỉ chiếm 6,45%, chủ yếu là hộ khá Nguyên nhân chính là do nhóm hộ trung bình và nghèo thường là người già Tỷ lệ hộ có từ 1-2 lao động chiếm phần lớn, vì các lao động khác trong gia đình tham gia vào các hoạt động tạo thu nhập khác Du lịch cộng đồng tại xã Bản Phố đang phát triển vững chắc, với hầu hết các hộ tham gia là hộ khá và hộ trung bình, tạo nền tảng cho việc cung cấp dịch vụ tốt nhất cho du khách và nâng cao tính cạnh tranh Tuy nhiên, tỷ lệ lao động phục vụ du lịch vẫn còn thấp so với nhu cầu ngày càng tăng Do đó, cần có sự tham gia tích cực của người dân và chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương, cũng như tổ chức các lớp tập huấn nâng cao kỹ thuật cho cộng đồng.
4.3.2.2 Độ tuổi tham gia vào hoạt động du lịch cộng đồng của hộ điều tra Độ tuổi của lao động rất quan trọng trong quá trình tham gia phát triển du lịch
Bảng 4.8 Độ tuổi tham gia vào hoạt động du lịch tại các hộ điều tra
Nhóm hộ khá Nhóm hộ TB Nhóm hộ nghèo
Theo số liệu điều tra năm 2021, tỷ lệ lao động dưới 15 tuổi ở cả ba nhóm hộ là tương đối thấp Nguyên nhân chủ yếu là do độ tuổi này thường vẫn đang đi học, dẫn đến việc tham gia lao động ít.
Trong độ tuổi từ 15 đến 60, tỷ lệ tham gia du lịch cộng đồng của các hộ gia đình là khá cao, với 23,33% ở nhóm hộ khá, 54,67% ở nhóm hộ trung bình và 9,33% ở nhóm hộ nghèo - cận nghèo Điều này cho thấy độ tuổi này chủ yếu tham gia vào sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch cộng đồng nhờ vào kỹ năng giao tiếp và tiếp đón khách đã được nâng cao Ngược lại, tỷ lệ tham gia của người trên 60 tuổi còn thấp do sức lao động giảm, nhưng họ lại sở hữu những kinh nghiệm quý báu Vì vậy, cần khuyến khích họ tham gia các hoạt động như biểu diễn văn nghệ và truyền thụ kinh nghiệm cho thế hệ trẻ Để phát triển du lịch cộng đồng hiệu quả, cần có chính sách tuyên truyền và khuyến khích sự tham gia đông đảo của người dân, đặc biệt là những người cao tuổi với vốn sống phong phú.
4.3.2.3 Trình độ học vấn của lao động tham gia vào hoạt động du lịch tại các hộ điều tra
Người lao động có lối sống văn minh và lành mạnh, cùng với việc áp dụng kiến thức và trình độ vào sản xuất, đã khẳng định sự hiểu biết của họ Những yếu tố này được áp dụng vào hoạt động du lịch, góp phần phát triển kinh tế hộ và cải thiện đời sống của người dân trong khu vực.
Bảng 4.9 Trình độ học vấn của lao động tham gia hoạt động du lịch cộng đồng tại các hộ điều tra
TT Trình độ Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2021)
Trong 31 hộ điều tra có 90 người tham gia vào hoạt động du lịch Trình độ học vấn của người dân tham gia hoạt động du lịch cộng đồng chỉ mới ở mức trung bình Tỷ lệ lao động mù chữ chiếm 10,0%, đây là những người dân gắn bó với nghề nông do không có điều kiện đi học Trình độ học vấn của lao động tham gia hoạt động du lịch tập trung chủ yếu nhóm học vấn cấp I, cấp II ( 21,1% và 32,2%) Tuy trình độ học vấn của nhóm lao động tham gia hoạt động du lịch chưa cao Với các chính sách đào tạo, tập huấn, nâng cao kỹ năng tại địa bàn đã giúp người dân làm giàu trên chính mảnh đất quê hương của mình
4.3.3 Doanh thu từ du lịch các hộ điều tra
Thuận lợi và khó khăn trong phát triển du lịch cộng đồng tại xã Bản Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
4.4.1 Những thuận lợi trong việc phát triển du lịch cộng đồng Ý kiến của các hộ điều tra về lợi ích của du lịch được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4.14 Lợi ích của người dân địa phương khi tham gia hoạt động du lịch
Lợi ích Số ý kiến Tỷ lệ (%)
Tăng thu nhập, cải thiện đời sống 12 38,7
Tạo công ăn việc làm 9 29,0 Được ưu đãi của chính quyền địa phương 5 16,1
Hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật mới 2 6,5
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2021)
Du lịch cộng đồng mang lại nhiều lợi ích cho người dân, đặc biệt là tăng thu nhập và cải thiện đời sống, với 38,7% hộ gia đình nhận thấy điều này Ngành du lịch được coi là có thu nhập cao, không phân biệt lứa tuổi hay thành phần tham gia, với nhiều loại hình kinh doanh đa dạng như ăn uống, bán đồ lưu niệm, lưu trú và hướng dẫn viên du lịch Theo thống kê, 29% ý kiến cho rằng hoạt động du lịch tạo ra cơ hội việc làm cho người dân địa phương, đặc biệt trong mùa du lịch.
Du lịch không chỉ mang lại lợi ích cho nền kinh tế mà còn tạo ra những ưu đãi từ chính quyền địa phương cho người dân Tham gia vào các hoạt động du lịch, người dân được hỗ trợ học tập và chia sẻ kinh nghiệm, đồng thời có cơ hội vay vốn để mở rộng quy mô kinh doanh và sản xuất.
Nhiều hộ dân đã tham gia vào hoạt động du lịch theo phong trào địa phương, và sau một thời gian, họ nhận thấy rõ ràng những lợi ích từ việc này như tăng thu nhập và tạo ra công ăn việc làm cho cộng đồng.
Du lịch cộng đồng không chỉ giúp tăng thu nhập mà còn cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân Bên cạnh đó, nó còn đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối người dân với các chính sách của nhà nước và tăng cường mối quan hệ giữa người dân và lãnh đạo địa phương.
4.4.2 Một số khó khăn trong phát triển du lịch cộng đồng
Mặc dù du lịch đem lại rất nhiều lợi ích cho người dân nhưng trong quá trình hoạt động vẫn gặp nhiều khó khăn
Bảng 4.15 Những khó khăn của người dân địa phương khi tham gia hoạt động du lịch
Khó khăn Số ý kiến Tỷ lệ (%)
Không có sự hỗ trợ 4 12,9
(Nguồn: số liệu điều tra năm 2021)
Theo bảng 4.15, khó khăn lớn nhất của người dân khi tham gia hoạt động du lịch là thiếu ngoại ngữ (35,5%), chủ yếu do họ là lao động trong ngành nông – lâm nghiệp và đồng bào dân tộc thiểu số Bên cạnh đó, 29% người dân cũng gặp khó khăn do thiếu kinh nghiệm trong du lịch cộng đồng, như trong việc tiếp đón khách, giao tiếp ứng xử và quản lý Nguyên nhân chính là do người dân địa phương chưa được tham gia các lớp tập huấn và đào tạo kỹ năng cần thiết.
Vốn là một trong những khó khăn lớn mà người dân gặp phải khi tham gia hoạt động du lịch, chiếm 22,6% Họ thiếu nguồn lực để phát triển quy mô sản xuất, kinh doanh và cơ sở lưu trú Thêm vào đó, người dân còn đối mặt với những thách thức khác như thiếu sự hỗ trợ và kỹ năng cần thiết để tham gia hiệu quả vào ngành du lịch.
Một số hộ dân vẫn gặp khó khăn do không nhận được sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương Nguyên nhân chủ yếu là vì họ không tham gia các buổi họp và tuyên truyền về du lịch, cũng như không được giới thiệu về các chính sách ưu đãi dành cho những hộ tham gia Do đó, họ không nắm bắt được các chính sách hỗ trợ có sẵn.
Trong những năm gần đây, sự bùng phát của dịch COVID-19 đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế toàn cầu và trong nước, đặc biệt là ngành du lịch Ngành du lịch Việt Nam đã chịu thiệt hại nặng nề, dẫn đến sự sụt giảm đáng kể về nguồn thu nhập.
Những giải pháp phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn xã Bản Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
4.5.1 Tăng cường cơ sở vật chất cho du lịch
Để cải thiện điều kiện sống và thu hút khách du lịch tại xã Bản Phố, cần xây dựng thêm hồ chứa nước, đập nhỏ và bể chứa nước mưa nhằm cung cấp nước cho người dân và du khách trong mùa khô Đồng thời, đầu tư mở rộng quy mô và số lượng dịch vụ lưu trú để đáp ứng nhu cầu ăn nghỉ của du khách Ngoài ra, cần tôn tạo và nâng cấp các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, văn hóa bản địa cùng các phong tục tập quán và trò chơi dân gian, với kế hoạch và biện pháp hợp lý để duy trì và làm phong phú các giá trị văn hóa này, tránh tình trạng mai một và biến dạng.
Triển khai các văn bản quản lý nhà nước về du lịch nhằm tăng cường quản lý và xây dựng môi trường du lịch an toàn, lành mạnh và thân thiện.
4.5.2 Đào tạo, tập huấn nguồn nhân lực
Mở các lớp tập huấn và đào tạo nghiệp vụ du lịch như lễ tân, thuyết minh và giao tiếp cho lao động là rất quan trọng Điều này giúp nâng cao nhận thức và kỹ năng cho cộng đồng làm du lịch tại địa phương, từ đó phát triển ngành du lịch một cách bền vững.
Mở lớp học tiếng anh giao tiếp và tổ chức thi học viên nói tiếng anh giỏi cho các hộ tham gia du lịch trong cộng đồng
Tổ chức các chuyến tham quan thực tế đến các địa phương phát triển du lịch cộng đồng và sinh thái trên toàn quốc nhằm học hỏi kinh nghiệm, từ đó thúc đẩy sự phát triển du lịch Bắc Hà và đặc biệt là du lịch tại Bản Phố.
Khuyến khích nâng cao trình độ học vấn và tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo kỹ năng cho người lao động trong lĩnh vực du lịch và các ngành nghề khác.
4.5.3 Giải pháp về môi trường
Nhiều khu du lịch hiện nay đang phải đối mặt với tác động tiêu cực từ chất thải của khách du lịch Do đó, việc xây dựng hệ thống thu gom và quản lý rác thải là cần thiết để xử lý hiệu quả lượng rác mà du khách để lại.
4.5.4 Giải pháp về tổ chức, quản lý du lịch cộng đồng
Kiểm soát cho thuê mặt bằng kinh doanh là cần thiết, đặc biệt đối với các hộ làm du lịch Cần ưu tiên người dân trong xã có đủ khả năng phát triển du lịch, đồng thời tạo điều kiện để họ nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống.
Để phát triển kinh doanh du lịch, cần nghiên cứu nhu cầu của người dân nhằm đề xuất phương án vay vốn phù hợp Hướng dẫn các hộ gia đình có khả năng kinh doanh nhưng thiếu vốn là rất quan trọng, giúp họ khai thác tiềm năng và nâng cao thu nhập.
Quy hoạch các làng nghề không chỉ nhằm cung cấp sản phẩm cho người dân mà còn phục vụ cho ngành du lịch, tạo ra điểm đến hấp dẫn và cơ hội việc làm cho cộng đồng Việc xây dựng các tuyến điểm du lịch mới sẽ thu hút sự quan tâm và khám phá của du khách, góp phần phát triển kinh tế địa phương.
4.5.5 Nâng cấp các dịch vụ phục vụ cho khách du lịch
Sưu tầm và phục hồi các giá trị văn hóa truyền thống như múa xòe, múa quạt và điệu múa cổ, cùng với các làn điệu dân ca và nhạc cụ dân tộc, là cách hiệu quả để phát huy di sản văn hóa dân gian.
Nâng cao chất lượng dịch vụ lưu trú và ẩm thực, đào tạo kỹ năng cơ bản cho hướng dẫn viên du lịch, cung cấp dịch vụ tắm lá thuốc và cải thiện phương tiện di chuyển nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của du khách.
4.5.6 Tình hình tiếp cận dịch vụ ngân hàng của các hộ khảo sát
Việc tiếp cận và sử dụng nguồn vốn từ ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nghèo và phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống hộ gia đình Khảo sát cho thấy trong 3 năm qua, phần lớn hộ gia đình đã vay vốn từ ngân hàng, chủ yếu từ ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, trong khi một số ít vay từ ngân hàng chính sách xã hội Một số hộ không vay vốn do không có nhu cầu Các hộ vay từ ngân hàng nông nghiệp thường nhận được số vốn cao hơn, nhưng yêu cầu tài sản thế chấp với lãi suất khoảng 1,08%/tháng Ngược lại, hộ vay từ ngân hàng chính sách xã hội nhận vốn cố định với lãi suất 0,66%/tháng thông qua hình thức tín chấp qua hội nông dân và hội phụ nữ.