Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa chi tiết các vấn đề về lý thuyết số phức
- Xây dựng hệ thống các bài toán, bài tập vận dụng để thấy được tính thiết thực của số phức trong vận dụng giải toán hình học phẳng
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lý thuyết số phức và ứng dụng của nó
- Phạm vi nghiên cứu: Một số bài toán hình học phẳng
IV Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu về số phức và các bài toán hình học phẳng có liên quan đến số phức
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc giáo trình, tài liệu tham khảo để hệ thống hóa, phân dạng các bài toán
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm là việc tích lũy và nghiên cứu sâu sắc những kinh nghiệm từ bản thân, thầy cô, bạn bè và anh chị khóa trước Điều này giúp nâng cao hiểu biết và kỹ năng, từ đó cải thiện quá trình học tập và phát triển cá nhân.
- Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia: Hỏi trực tiếp thầy cô hướng dẫn các kiến thức có liên quan đến đề tài
TỔNG QUAN VỀ SỐ PHỨC
1.1 Lịch sử hình thành khái niệm số phức
Lịch sử số phức bắt đầu từ thế kỷ XVI, đánh dấu thời kỳ Phục hưng của toán học châu Âu sau thời kỳ trung cổ Các đại lượng ảo lần đầu tiên xuất hiện trong các tác phẩm của nhà toán học Italy như “Nghệ thuật vĩ đại hay là về các quy tắc đại số” của G Cardano (1545) và “Đại số” của R Bombelli (1572) Nhà toán học Đức Felix Klein đã nhận định rằng công trình của G Cardano chứa đựng mầm mống của đại số hiện đại và vượt xa tầm hiểu biết của toán học cổ đại.
Khi giải phương trình bậc hai, Cardano và Bombelli đã sử dụng ký hiệu 1 để giải thích phương trình x² + b² = 0 Họ xem xét biểu thức b 1 như là nghiệm hình thức của phương trình này Biểu thức tổng quát hơn có dạng a b 1 (với b 0) cũng có thể được coi là nghiệm hình thức của phương trình (x - a)² + b² = 0.
Biểu thức a + b - 1 (với b ≠ 0) xuất hiện trong giải phương trình bậc hai và bậc ba, được gọi là đại lượng “ảo” và sau này được Gauss định nghĩa là số phức, ký hiệu là a + ib, trong đó i = √(-1) được L.Euler đưa vào năm 1777 Đến thế kỷ XIX, Gauss đã chứng minh vững chắc khái niệm số phức và gắn liền với định lý cơ bản của Đại số, khẳng định rằng mọi phương trình đa thức trong trường số phức C đều có nghiệm Nhà toán học Đức L.Kronecker đã tổng kết rằng: “Thượng đế đã tạo ra số tự nhiên, còn tất cả các loại số còn lại đều là công trình sáng tạo của con người.”
L.Kronecker đã đặt nền móng vững chắc cho toán học, khẳng định tầm quan trọng của nó trong việc xây dựng kiến thức và hiểu biết của nhân loại.
1.2 Các kiến thức cơ bản về số phức
Số ảo được kí hiệu là i , là số mà bình phương của nó bằng -1 Ta có:
Một số phức được định nghĩa dưới dạng a + bi, trong đó a và b là các số thực Phần thực của số phức được ký hiệu là a = Re(z), trong khi phần ảo được ký hiệu là b.
Im ) z của số phức z a ib Re z i Im z
Số thực a a 0 i cũng được gọi là số phức với phần ảo bằng 0
Số bi 0 bi được gọi là số thuần ảo
Số i 0 1 i được gọi là đơn vị ảo
Mỗi số phức z = a + bi có thể được biểu diễn hình học như một điểm M(a, b) trên mặt phẳng tọa độ Descartes, với gốc O và hai vectơ đơn vị e1, e2 vuông góc tại O Điểm M(a, b) được gọi là ảnh của số phức z Ngược lại, mỗi điểm M(a, b) trên mặt phẳng tọa độ cũng tương ứng với một số phức z = a + bi, được gọi là tọa độ của M(a, b) Do đó, có một sự tương ứng một-một giữa các số phức và các điểm trên mặt phẳng Descartes.
được gọi là ảnh vectơ của z và z được gọi là tọa vị của vectơ OM
Mặt phẳng tọa độ vuông góc Descartes tương ứng với tập số phức trên mặt phẳng phức
1.3 Các phép toán trên tập số phức
Ta gọi tổng của hai số phức z 1 a 1 ib 1 , z 2 a 2 ib 2 là số phức :
( ) z a a i b b (1.1) và được kí hiệu là z z 1 z 2
Từ định nghĩa của phép cộng, chúng ta có hai tính chất quan trọng: tính kết hợp và tính giao hoán Cụ thể, tính kết hợp được thể hiện qua công thức z1 + (z2 + z3) = (z1 + z2) + z3, trong khi tính giao hoán cho thấy z1 + z2 = z2 + z1 Đặc biệt, khi z1 và z2 là hai số thực, công thức này mô tả phép cộng giữa hai số thực.
Phép cộng trên có phép toán ngược, nghĩa là với hai số phức z 1 a 1 ib 1 ,
Số phức z có thể được tìm thấy từ phương trình z² + z = z₁, trong đó z₁ và z₂ là hai số phức Hiệu của hai số phức này được ký hiệu là z = z₁ - z₂ Điều này cho thấy rằng hiệu của hai số phức được xác định từ định nghĩa đã nêu.
Ta gọi tích của hai số phức z 1 a 1 ib 1 và z 2 a 2 ib 2 là số phức xác định bởi:
( ) ( ) z a a bb i ab a b (1.3) và kí hiệu là z z z 1 2
Từ định nghĩa trên ta có tính chất sau: i Kết hợp: z 1 ( ) z z 2 3 ( ) z z 1 2 z 3 ii Giao hoán: z z 1 2 z z 2 1 iii Phép nhân có tính chất phân phối đối với phép cộng:
1 ( 2 3 ) 1 2 1 3 z z z z z z z Nếu z 1 và z 2 là hai số thực thì công thức (1.3) là phép nhân trong trường số thực Đặc biệt khi lấy z 1 z 2 i thì từ định nghĩa (1.3) ta có i i i 2 1
Với z 1 a 1 ib 1 và z 2 a 2 ib 2 l thì công thức (1.3) có được bằng cách nhân thông thường và thay i 2 1
Với hai số phức z 1 a 1 ib 1 và z 2 a 2 ib 2 ta có:
1.3.5 Căn bậc hai của số phức
Số phức w x yi là căn bậc hai của số phức z a bi khi và chỉ khi
1.3.6 Số phức liên hợp a) Định nghĩa
Cho số phức z a bi , a b , Số phức z a bi được goi là số phức liên hợp của z b) Định lý
Với các số phức z z 1 , 2 , z ta có: i z z , z ii z z , z iii z 1 z 2 z 1 z 2 iv z z a 2 b 2 0 ( z a bi , a b , ) v z z 1 2 z z 1 2
1.4 Dạng lượng giác của số phức
Với mỗi số phức z a bi , a b , luôn luôn được biểu diễn dưới dạng
Trong số phức z, công thức được biểu diễn là \( z = r \cos \phi + i \sin \phi \), trong đó \( r = \sqrt{a^2 + b^2} \) là mô đun của số phức z, ký hiệu là |z| Góc \( \phi \) được xác định qua các phương trình \( a = r \cos \phi \) và \( b = r \sin \phi \) Khi đó, \( \phi \) được gọi là lập luận của số phức z, ký hiệu là arg z.
0 z được xác định sai khác một bội nguyên của 2 Khi đó z r cos i sin được gọi là dạng lượng giác của số phức
1.4.2 Nhân chia số phức dưới dạng lượng giác
Cho 2 số phức z 1 r 1 cos 1 i sin 1 , z 2 r 2 cos 2 i sin 2 Khi đó
2 2 cos sin z r z r i Đặc biệt 1 1 cos i sin z r
Cho một số phức bất kì dưới dạng lượng giác z r cos i sin , theo công thức trên ta có:
Công thức trên được gọi là công thức Moivre
1.5 Phép khai căn số phức
1.5.1 Căn bậc hai của số phức dưới dạng lượng giác
Số phức z r cos i sin , r 0 có hai căn bậc hai là
1.5.2 Căn bậc n của số phức
Số phức z r cos i sin , r 0 có n căn bậc n là
2 CHƯƠNG II ĐẶC TRƯNG MỘT SỐ TÍNH CHẤT HÌNH HỌC QUA SỐ PHỨC
Chương này trình bày một số kết quả của hình học phẳng bằng ngôn ngữ số phức
Mỗi điểm trong hệ tọa độ vuông góc tương ứng với một số phức, tạo thành mối quan hệ một-một giữa tập hợp các số phức và tập hợp điểm trong mặt phẳng Điểm Z có tọa độ (a, b) tương ứng với số phức z = a + bi, trong đó số phức z được gọi là tọa vị của điểm Z Từ đó, mỗi điểm trong mặt phẳng được ký hiệu bằng một chữ cái in hoa, và tọa vị của nó được biểu thị bằng chữ cái thường tương ứng.
Trong mặt phẳng hệ tọa độ vuông góc Oxy, mỗi điểm Z với tọa vị z chúng ta đặt một vectơ OZ
Do đó số phức có thể biểu diễn hình học như là vectơ trong mặt phẳng
Nếu Z Z 1 , 2 là hai điểm trên mặt phẳng có tọa vị z z 1 , 2 Khi đó tổng của chúng
3 1 2 z z z biểu diễn bởi Z 3 , mà OZ 3 OZ 1 OZ 2
Khoảng cách d của điểm Z 1 đến Z 2 hoặc độ dài Z Z 1 2 là
1 2 1 2 , d Z Z z z vậy d là modun của số phức z 2 z 1
Từ quy tắc cộng vectơ suy ra rằng nếu Z là trung điểm của Z Z 1 2 , thì
OZ OZ OZ OZ hoặc tọa vị của Z biểu diễn qua z z 1 , 2 là 1 2
1 z 2 z z Để tính góc định hướng tạo bởi hai tia đi qua điểm gốc của tọa độ O, ta chọn z 1 và z 2 nằm trên mỗi tia Khi đó 2 1 2
Trong trường hợp tia xuất phát từ điểm Z 0 ta cũng làm tương tự và có:
Một cách tổng quát, cho hai vectơ Z Z 1 2
với tọa vị các điểm tương ứng là
1 , , , 2 1 2 z z u u Ta cần phải quay vectơ đơn vị của Z Z 1 2 đi một góc theo chiều dương, nghĩa là:
Vậy góc phải tìm cos , sin
Từ những đẳng thức trên suy ra vectơ Z Z 1 2 , U U 1 2 vuông góc với nhau khi chỉ khi
Và chúng song song với nhau khi và chỉ khi
Nhận xét: i) Do công thức (2.1), nếu Z 1 trùng với U 1 và z z 1 2 u u 1 2 thì khi biết tọa vị z 2 và góc với các giá trị đặc biệt thì u 2 biểu diễn theo z 2 như sau:
gọi là tỉ số đơn của các số phức z 2 , z z 1 , 0 Do đó argument của V z 2 , z z 1 , 0 chính là góc định hướng giữa các vevtơ Z Z 0 1
iii) Điều kiện cần và đủ để 3 điểm Z 0 , Z Z 1 , 2 thẳng hàng là góc định hướng giữa hai vectơ Z Z 0 1 và Z Z 0 2 bằng 0 hoặc bằng Nghĩa là tỉ số đơn 2 1 0 2 0
là một số thực iv) Điều kiện cần và đủ để đoạn thẳng Z Z 0 1 vuông góc với Z Z 0 2 là góc định hướng giữa hai vectơ Z Z 0 1 và Z Z 0 2 bằng
Nghĩa là tỉ số đơn 2 1 0 2 0
Khi làm việc với các bài toán liên quan đến đường tròn, việc chọn hệ tọa độ vuông góc với tâm đường tròn làm gốc sẽ giúp đơn giản hóa các công thức tính toán Khi coi đường tròn là đường tròn đơn vị, các công thức trở nên dễ nhớ và dễ áp dụng cho các bài toán cụ thể.
Tam giác A1A2A3 nội tiếp trong đường tròn có tâm O và bán kính R Để đơn giản hóa, ta chọn hệ tọa độ sao cho O trùng với gốc tọa độ và sử dụng bán kính R làm đơn vị độ dài, tức là R = 1 Khi đó, đường tròn này được gọi là đường tròn đơn vị.
Vậy phương trình đường tròn đơn vị có dạng z z 1
2.3 Điều kiện vuông góc, song song:
Gọi Z Z U U 1 , 2 , 1 , 2 là những điểm phân biệt có tọa vị lần lượt là z z u u 1 , 2 , 1 , 2 Khi đó:
Z Z 1 2 song song với U U 1 2 khi và chỉ khi:
Z Z 1 2 vuông góc với U U 1 2 khi và chỉ khi:
Trong trường hợp Z Z U U 1 , 2 , 1 , 2 nằm trên đường tròn đơn vị, thì những số liên hợp z z u u 1 , 2 , 1 , 2 có thể thay bằng
Z Z 1 2 song song với U U 1 2 khi và chỉ khi z z 1 2 u u 1 2
Z Z 1 2 vuông góc với U U 1 2 khi và chỉ khi z z 1 2 u u 1 2 0
2.4 Đường thẳng đi qua hai điểm Đường thẳng đi qua 2 điểm có tọa vị z 1 và z 2 là tập hợp các điểm Z sao cho
2.5 Tọa vị của một số điểm đặc biệt
Gọi B B B 1 , 2 , 3 lần lượt là trung điểm các cạnh A A A A A A 2 3 , 3 1 , 1 2 trong tam giác
Xét một điểm M có tọa vị 1 2 3
Tương tự do tính đối xứng của a a a 1 , 2 , 3 nên M cũng thuộc A B 2 2 , A B 3 3 Do đó điểm M chính là trọng tâm G của tam giác A A A 1 2 3
Nói cách khác trọng tâm G của tam giác A A A 1 2 3 có tọa vị 1 2 3
Giả sử tam giác A A A 1 2 3 nội tiếp đường tròn tâm O, với K là điểm đối xứng của O qua cạnh A A 1 2 và B 3 là giao điểm của OK và A A 1 2 Giả định rằng đường tròn này là đường tròn đơn vị và gốc tọa độ trùng với O, ta có OA KA 1 2 là hình thoi B 3 là trung điểm của A A 1 2, từ đó suy ra k 2 b 3 a 1 a 2.
Gọi H là đỉnh của hình bình hành có hai cạnh OA OK 3 , Khi đó: h k a 3 a 1 a 2 a 3
Mọi điểm H thuộc đường cao hạ từ đỉnh A3 của tam giác AAA123, do tính đối xứng của h đối với các đỉnh A1, A2, A3, cũng cho thấy H cũng thuộc đường cao hạ từ đỉnh A1, A2 của tam giác AAA123.
Vậy H là trực tâm của tam giác A A A 1 2 3 có tọa vị h a 1 a 2 a 3
Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu về số phức và các bài toán hình học phẳng có liên quan đến số phức.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc giáo trình, tài liệu tham khảo để hệ thống hóa, phân dạng các bài toán
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm là việc tích lũy và nghiên cứu sâu sắc những kinh nghiệm từ bản thân, thầy cô, bạn bè và anh chị khóa trước Qua đó, người học có thể nâng cao hiểu biết và cải thiện kỹ năng của mình.
- Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia: Hỏi trực tiếp thầy cô hướng dẫn các kiến thức có liên quan đến đề tài
Tổng quan về số phức
Lịch sử hình thành khái niệm số phức
Lịch sử số phức bắt đầu từ thế kỷ XVI, trong thời kỳ Phục hưng của toán học châu Âu sau thời kỳ trung cổ Các đại lượng ảo lần đầu tiên xuất hiện trong các tác phẩm của nhà toán học Italy như “Nghệ thuật vĩ đại hay là về các quy tắc đại số” (1545) của G Cardano và “Đại số” (1572) của R Bombelli Nhà toán học Đức Felix Klein đã đánh giá cao công trình của G Cardano, coi đó là tác phẩm quý giá chứa đựng mầm mống của đại số hiện đại, vượt xa những kiến thức toán học của thời cổ đại.
Khi giải phương trình bậc hai, Cardano và Bombelli đã đưa ra khái niệm về số âm một, biểu diễn bằng ký hiệu 1, như một lời giải thích cho phương trình x² + b² = 0 Họ xem xét biểu thức b 1 như là nghiệm hình thức của phương trình x² + b² = 0 Từ đó, biểu thức tổng quát hơn có dạng a b 1, với b khác không, có thể được coi là nghiệm hình thức của phương trình (x - a)² + b² = 0.
Biểu thức a + b - 1, với b ≠ 0, đã xuất hiện trong quá trình giải phương trình bậc hai và bậc ba, được gọi là đại lượng “ảo” và sau này được Gauss định nghĩa là số phức, ký hiệu là a + ib, trong đó i = √(-1) được L Euler giới thiệu vào năm 1777 như là đơn vị “ảo” Đến thế kỷ XIX, Gauss đã chứng minh vững chắc khái niệm số phức, với tên tuổi gắn liền với định lý cơ bản của Đại số, khẳng định rằng mọi phương trình đa thức trong trường số phức C đều có nghiệm Nhà toán học Đức L Kronecker đã tổng kết quá trình phát triển khái niệm số bằng câu nói: “Thượng đế đã tạo ra số tự nhiên, còn tất cả các loại số còn lại đều là công trình sáng tạo của con người.”
L.Kronecker đã đặt nền móng vững chắc cho nền toán học, tạo ra một di sản quý giá cho nhân loại.
Các kiến thức cơ bản về số phức
Số ảo được kí hiệu là i , là số mà bình phương của nó bằng -1 Ta có:
Một số phức được định nghĩa dưới dạng a + bi, trong đó a và b là các số thực Trong biểu thức này, a được gọi là phần thực và ký hiệu là Re z, trong khi b được gọi là phần ảo.
Im ) z của số phức z a ib Re z i Im z
Số thực a a 0 i cũng được gọi là số phức với phần ảo bằng 0
Số bi 0 bi được gọi là số thuần ảo
Số i 0 1 i được gọi là đơn vị ảo
Mỗi số phức z = a + bi có thể được biểu diễn hình học như một điểm M(a, b) trên mặt phẳng tọa độ Descartes, với gốc tại điểm O và hai vectơ đơn vị e₁, e₂ vuông góc với nhau Điểm M(a, b) được gọi là ảnh của số phức z, và ngược lại, mỗi điểm M(a, b) trên mặt phẳng cũng tương ứng với một số phức z = a + bi, được gọi là tọa độ của M(a, b) Do đó, có mối quan hệ 1-1 giữa mỗi số phức z và một điểm M(a, b) trên mặt phẳng Descartes.
được gọi là ảnh vectơ của z và z được gọi là tọa vị của vectơ OM
Mặt phẳng tọa độ vuông góc Descartes tương ứng với tập số phức trên mặt phẳng phức.
Các phép toán trên tập số phức
Ta gọi tổng của hai số phức z 1 a 1 ib 1 , z 2 a 2 ib 2 là số phức :
( ) z a a i b b (1.1) và được kí hiệu là z z 1 z 2
Phép cộng có hai tính chất quan trọng: thứ nhất là tính kết hợp, nghĩa là z1 + (z2 + z3) = (z1 + z2) + z3; thứ hai là tính giao hoán, tức là z1 + z2 = z2 + z1 Đặc biệt, khi z1 và z2 là hai số thực, công thức này trở thành phép cộng của hai số thực.
Phép cộng trên có phép toán ngược, nghĩa là với hai số phức z 1 a 1 ib 1 ,
Số phức z có thể được tìm thấy từ phương trình z² + z = z₁, trong đó z₁ và z₂ là hai số phức Hiệu của hai số phức z₁ và z₂ được ký hiệu là z = z₁ - z₂ Từ định nghĩa này, chúng ta có thể nhận thấy rõ ràng mối liên hệ giữa các số phức.
Ta gọi tích của hai số phức z 1 a 1 ib 1 và z 2 a 2 ib 2 là số phức xác định bởi:
( ) ( ) z a a bb i ab a b (1.3) và kí hiệu là z z z 1 2
Từ định nghĩa trên ta có tính chất sau: i Kết hợp: z 1 ( ) z z 2 3 ( ) z z 1 2 z 3 ii Giao hoán: z z 1 2 z z 2 1 iii Phép nhân có tính chất phân phối đối với phép cộng:
1 ( 2 3 ) 1 2 1 3 z z z z z z z Nếu z 1 và z 2 là hai số thực thì công thức (1.3) là phép nhân trong trường số thực Đặc biệt khi lấy z 1 z 2 i thì từ định nghĩa (1.3) ta có i i i 2 1
Với z 1 a 1 ib 1 và z 2 a 2 ib 2 l thì công thức (1.3) có được bằng cách nhân thông thường và thay i 2 1
Với hai số phức z 1 a 1 ib 1 và z 2 a 2 ib 2 ta có:
1.3.5 Căn bậc hai của số phức
Số phức w x yi là căn bậc hai của số phức z a bi khi và chỉ khi
1.3.6 Số phức liên hợp a) Định nghĩa
Cho số phức z a bi , a b , Số phức z a bi được goi là số phức liên hợp của z b) Định lý
Với các số phức z z 1 , 2 , z ta có: i z z , z ii z z , z iii z 1 z 2 z 1 z 2 iv z z a 2 b 2 0 ( z a bi , a b , ) v z z 1 2 z z 1 2
Dạng lượng giác của số phức
Với mỗi số phức z a bi , a b , luôn luôn được biểu diễn dưới dạng
Số phức z được biểu diễn dưới dạng z = r (cos φ + i sin φ), trong đó r = √(a² + b²) được gọi là modulus của số phức z, ký hiệu là |z| Góc φ được xác định bởi a = r cos φ và b = r sin φ, và được gọi là argument của số phức z, ký hiệu là arg z Các giá trị của argument cho số phức này có thể khác nhau.
0 z được xác định sai khác một bội nguyên của 2 Khi đó z r cos i sin được gọi là dạng lượng giác của số phức
1.4.2 Nhân chia số phức dưới dạng lượng giác
Cho 2 số phức z 1 r 1 cos 1 i sin 1 , z 2 r 2 cos 2 i sin 2 Khi đó
2 2 cos sin z r z r i Đặc biệt 1 1 cos i sin z r
Cho một số phức bất kì dưới dạng lượng giác z r cos i sin , theo công thức trên ta có:
Công thức trên được gọi là công thức Moivre.
Phép khai căn số phức
1.5.1 Căn bậc hai của số phức dưới dạng lượng giác
Số phức z r cos i sin , r 0 có hai căn bậc hai là
1.5.2 Căn bậc n của số phức
Số phức z r cos i sin , r 0 có n căn bậc n là
2 CHƯƠNG II ĐẶC TRƯNG MỘT SỐ TÍNH CHẤT HÌNH HỌC QUA SỐ PHỨC
Chương này trình bày một số kết quả của hình học phẳng bằng ngôn ngữ số phức
Mỗi điểm trong hệ tọa độ vuông góc tương ứng với một số phức, tạo thành một mối quan hệ một-một giữa tập hợp các số phức và tập hợp điểm trong mặt phẳng Điểm Z có tọa độ (a, b) tương ứng với số phức z = a + bi, trong đó số phức z được gọi là tọa vị của điểm Z Từ đây, một điểm trong mặt phẳng được ký hiệu bằng chữ cái in hoa, trong khi tọa vị của nó được biểu thị bằng chữ cái thường tương ứng.
Trong mặt phẳng hệ tọa độ vuông góc Oxy, mỗi điểm Z với tọa vị z chúng ta đặt một vectơ OZ
Do đó số phức có thể biểu diễn hình học như là vectơ trong mặt phẳng
Nếu Z Z 1 , 2 là hai điểm trên mặt phẳng có tọa vị z z 1 , 2 Khi đó tổng của chúng
3 1 2 z z z biểu diễn bởi Z 3 , mà OZ 3 OZ 1 OZ 2
Khoảng cách d của điểm Z 1 đến Z 2 hoặc độ dài Z Z 1 2 là
1 2 1 2 , d Z Z z z vậy d là modun của số phức z 2 z 1
Từ quy tắc cộng vectơ suy ra rằng nếu Z là trung điểm của Z Z 1 2 , thì
OZ OZ OZ OZ hoặc tọa vị của Z biểu diễn qua z z 1 , 2 là 1 2
1 z 2 z z Để tính góc định hướng tạo bởi hai tia đi qua điểm gốc của tọa độ O, ta chọn z 1 và z 2 nằm trên mỗi tia Khi đó 2 1 2
Trong trường hợp tia xuất phát từ điểm Z 0 ta cũng làm tương tự và có:
Một cách tổng quát, cho hai vectơ Z Z 1 2
với tọa vị các điểm tương ứng là
1 , , , 2 1 2 z z u u Ta cần phải quay vectơ đơn vị của Z Z 1 2 đi một góc theo chiều dương, nghĩa là:
Vậy góc phải tìm cos , sin
Từ những đẳng thức trên suy ra vectơ Z Z 1 2 , U U 1 2 vuông góc với nhau khi chỉ khi
Và chúng song song với nhau khi và chỉ khi
Nhận xét: i) Do công thức (2.1), nếu Z 1 trùng với U 1 và z z 1 2 u u 1 2 thì khi biết tọa vị z 2 và góc với các giá trị đặc biệt thì u 2 biểu diễn theo z 2 như sau:
gọi là tỉ số đơn của các số phức z 2 , z z 1 , 0 Do đó argument của V z 2 , z z 1 , 0 chính là góc định hướng giữa các vevtơ Z Z 0 1
iii) Điều kiện cần và đủ để 3 điểm Z 0 , Z Z 1 , 2 thẳng hàng là góc định hướng giữa hai vectơ Z Z 0 1 và Z Z 0 2 bằng 0 hoặc bằng Nghĩa là tỉ số đơn 2 1 0 2 0
là một số thực iv) Điều kiện cần và đủ để đoạn thẳng Z Z 0 1 vuông góc với Z Z 0 2 là góc định hướng giữa hai vectơ Z Z 0 1 và Z Z 0 2 bằng
Nghĩa là tỉ số đơn 2 1 0 2 0
Khi làm việc với đường tròn trong hệ tọa độ vuông góc, việc chọn tâm đường tròn làm gốc tọa độ và coi đường tròn là đường tròn đơn vị giúp đơn giản hóa các công thức tính toán Điều này không chỉ làm cho các công thức dễ nhớ mà còn dễ dàng áp dụng vào các bài toán cụ thể liên quan đến đường tròn.
Tam giác A1A2A3 nội tiếp trong đường tròn có tâm O và bán kính R Để đơn giản hóa, chúng ta chọn hệ tọa độ sao cho tâm O trùng với gốc tọa độ và lấy bán kính R làm đơn vị độ dài, tức là R = 1 Khi đó, đường tròn này được gọi là đường tròn đơn vị.
Vậy phương trình đường tròn đơn vị có dạng z z 1
2.3 Điều kiện vuông góc, song song:
Gọi Z Z U U 1 , 2 , 1 , 2 là những điểm phân biệt có tọa vị lần lượt là z z u u 1 , 2 , 1 , 2 Khi đó:
Z Z 1 2 song song với U U 1 2 khi và chỉ khi:
Z Z 1 2 vuông góc với U U 1 2 khi và chỉ khi:
Trong trường hợp Z Z U U 1 , 2 , 1 , 2 nằm trên đường tròn đơn vị, thì những số liên hợp z z u u 1 , 2 , 1 , 2 có thể thay bằng
Z Z 1 2 song song với U U 1 2 khi và chỉ khi z z 1 2 u u 1 2
Z Z 1 2 vuông góc với U U 1 2 khi và chỉ khi z z 1 2 u u 1 2 0
2.4 Đường thẳng đi qua hai điểm Đường thẳng đi qua 2 điểm có tọa vị z 1 và z 2 là tập hợp các điểm Z sao cho
2.5 Tọa vị của một số điểm đặc biệt
Gọi B B B 1 , 2 , 3 lần lượt là trung điểm các cạnh A A A A A A 2 3 , 3 1 , 1 2 trong tam giác
Xét một điểm M có tọa vị 1 2 3
Tương tự do tính đối xứng của a a a 1 , 2 , 3 nên M cũng thuộc A B 2 2 , A B 3 3 Do đó điểm M chính là trọng tâm G của tam giác A A A 1 2 3
Nói cách khác trọng tâm G của tam giác A A A 1 2 3 có tọa vị 1 2 3
Giả sử tam giác A A A 1 2 3 nội tiếp đường tròn tâm O, với K là điểm đối xứng của O qua cạnh A A 1 2 Gọi B 3 là giao điểm của OK và A A 1 2 Nếu coi đường tròn này là đường tròn đơn vị và gốc tọa độ trùng với O, thì OA KA 1 2 tạo thành hình thoi B 3 là trung điểm của A A 1 2, từ đó suy ra k = 2 b 3 = a 1 + a 2.
Gọi H là đỉnh của hình bình hành có hai cạnh OA OK 3 , Khi đó: h k a 3 a 1 a 2 a 3
Trong tam giác A A A1 2 3, điểm H nằm trên đường cao hạ từ đỉnh A3 Nhờ vào tính đối xứng của h đối với các đỉnh A A1, 2, 3, ta có thể kết luận rằng H cũng nằm trên đường cao hạ từ đỉnh A A1, 2 của tam giác này.
Vậy H là trực tâm của tam giác A A A 1 2 3 có tọa vị h a 1 a 2 a 3
Gọi A và B là hai điểm khác nhau trên đường tròn đơn vị, M là một điểm bất kỳ và K là hình chiếu vuông góc của M lên dây cung AB Tọa độ k của điểm K được xác định bởi công thức a + k = (a + b)k.
Mặt khác MK AB nên ta có: m k a b a b m k 0
Theo đó ta có k m m k ab , thay k vào a b k abk , ta được
2.5.4 Điểm nằm trên đường tròn: Điểm M nằm trên đường tròn tâm A bán kính R, có tọa vị m thỏa mãn:
Đặc trưng một số tính chất hình học qua số phức
Góc định hướng
Mỗi điểm trong hệ tọa độ vuông góc tương ứng với một số phức, tạo ra mối quan hệ một – một giữa tập hợp các số phức và tập hợp điểm trong mặt phẳng Điểm Z có tọa độ (a, b) tương ứng với số phức z = a + bi, trong đó z được gọi là tọa vị của điểm Z Từ đó, một điểm trong mặt phẳng được ký hiệu bằng chữ cái in hoa, và tọa vị của nó được biểu diễn bằng chữ cái thường tương ứng.
Trong mặt phẳng hệ tọa độ vuông góc Oxy, mỗi điểm Z với tọa vị z chúng ta đặt một vectơ OZ
Do đó số phức có thể biểu diễn hình học như là vectơ trong mặt phẳng
Nếu Z Z 1 , 2 là hai điểm trên mặt phẳng có tọa vị z z 1 , 2 Khi đó tổng của chúng
3 1 2 z z z biểu diễn bởi Z 3 , mà OZ 3 OZ 1 OZ 2
Khoảng cách d của điểm Z 1 đến Z 2 hoặc độ dài Z Z 1 2 là
1 2 1 2 , d Z Z z z vậy d là modun của số phức z 2 z 1
Từ quy tắc cộng vectơ suy ra rằng nếu Z là trung điểm của Z Z 1 2 , thì
OZ OZ OZ OZ hoặc tọa vị của Z biểu diễn qua z z 1 , 2 là 1 2
1 z 2 z z Để tính góc định hướng tạo bởi hai tia đi qua điểm gốc của tọa độ O, ta chọn z 1 và z 2 nằm trên mỗi tia Khi đó 2 1 2
Trong trường hợp tia xuất phát từ điểm Z 0 ta cũng làm tương tự và có:
Một cách tổng quát, cho hai vectơ Z Z 1 2
với tọa vị các điểm tương ứng là
1 , , , 2 1 2 z z u u Ta cần phải quay vectơ đơn vị của Z Z 1 2 đi một góc theo chiều dương, nghĩa là:
Vậy góc phải tìm cos , sin
Từ những đẳng thức trên suy ra vectơ Z Z 1 2 , U U 1 2 vuông góc với nhau khi chỉ khi
Và chúng song song với nhau khi và chỉ khi
Nhận xét: i) Do công thức (2.1), nếu Z 1 trùng với U 1 và z z 1 2 u u 1 2 thì khi biết tọa vị z 2 và góc với các giá trị đặc biệt thì u 2 biểu diễn theo z 2 như sau:
gọi là tỉ số đơn của các số phức z 2 , z z 1 , 0 Do đó argument của V z 2 , z z 1 , 0 chính là góc định hướng giữa các vevtơ Z Z 0 1
iii) Điều kiện cần và đủ để 3 điểm Z 0 , Z Z 1 , 2 thẳng hàng là góc định hướng giữa hai vectơ Z Z 0 1 và Z Z 0 2 bằng 0 hoặc bằng Nghĩa là tỉ số đơn 2 1 0 2 0
là một số thực iv) Điều kiện cần và đủ để đoạn thẳng Z Z 0 1 vuông góc với Z Z 0 2 là góc định hướng giữa hai vectơ Z Z 0 1 và Z Z 0 2 bằng
Nghĩa là tỉ số đơn 2 1 0 2 0
Đường tròn đơn vị
Khi làm việc với các bài toán liên quan đến đường tròn, việc chọn hệ tọa độ vuông góc với tâm đường tròn làm gốc giúp đơn giản hóa các công thức tính toán Khi coi đường tròn là đường tròn đơn vị, các công thức trở nên dễ nhớ và dễ áp dụng cho các bài toán cụ thể.
Cho tam giác A1A2A3 nội tiếp trong đường tròn tâm O và bán kính R Chọn hệ tọa độ sao cho O trùng với gốc tọa độ và lấy R làm đơn vị độ dài, tức là R = 1 Khi đó, đường tròn này được gọi là đường tròn đơn vị.
Vậy phương trình đường tròn đơn vị có dạng z z 1.
Điều kiện vuông góc, song song
Gọi Z Z U U 1 , 2 , 1 , 2 là những điểm phân biệt có tọa vị lần lượt là z z u u 1 , 2 , 1 , 2 Khi đó:
Z Z 1 2 song song với U U 1 2 khi và chỉ khi:
Z Z 1 2 vuông góc với U U 1 2 khi và chỉ khi:
Trong trường hợp Z Z U U 1 , 2 , 1 , 2 nằm trên đường tròn đơn vị, thì những số liên hợp z z u u 1 , 2 , 1 , 2 có thể thay bằng
Z Z 1 2 song song với U U 1 2 khi và chỉ khi z z 1 2 u u 1 2
Z Z 1 2 vuông góc với U U 1 2 khi và chỉ khi z z 1 2 u u 1 2 0
Đường thẳng đi qua hai điểm
Đường thẳng đi qua 2 điểm có tọa vị z 1 và z 2 là tập hợp các điểm Z sao cho
Tọa vị của một số điểm đặc biệt
Gọi B B B 1 , 2 , 3 lần lượt là trung điểm các cạnh A A A A A A 2 3 , 3 1 , 1 2 trong tam giác
Xét một điểm M có tọa vị 1 2 3
Tương tự do tính đối xứng của a a a 1 , 2 , 3 nên M cũng thuộc A B 2 2 , A B 3 3 Do đó điểm M chính là trọng tâm G của tam giác A A A 1 2 3
Nói cách khác trọng tâm G của tam giác A A A 1 2 3 có tọa vị 1 2 3
Giả sử tam giác A A A 1 2 3 nội tiếp đường tròn tâm O, với K là điểm đối xứng của O qua cạnh A A 1 2, và B 3 là giao điểm của OK và A A 1 2 Nếu coi đường tròn này là đường tròn đơn vị và chọn gốc tọa độ trùng với O, thì OA KA 1 2 sẽ tạo thành hình thoi, trong đó B 3 là trung điểm của A A 1 2 Từ đó, ta có k = 2 b 3 = a 1 + a 2.
Gọi H là đỉnh của hình bình hành có hai cạnh OA OK 3 , Khi đó: h k a 3 a 1 a 2 a 3
M trong tam giác A1A2A3 có điểm H thuộc đường cao hạ từ đỉnh A3 Nhờ tính đối xứng của H đối với A1, A2, A3, ta cũng có thể kết luận rằng H nằm trên đường cao hạ từ đỉnh A1, A2 của tam giác A1A2A3.
Vậy H là trực tâm của tam giác A A A 1 2 3 có tọa vị h a 1 a 2 a 3
Gọi A và B là hai điểm khác nhau trên đường tròn đơn vị, M là một điểm bất kỳ và K là hình chiếu vuông góc của M lên dây cung AB Tọa độ k của điểm K thỏa mãn phương trình a + b = k + abk.
Mặt khác MK AB nên ta có: m k a b a b m k 0
Theo đó ta có k m m k ab , thay k vào a b k abk , ta được
2.5.4 Điểm nằm trên đường tròn: Điểm M nằm trên đường tròn tâm A bán kính R, có tọa vị m thỏa mãn:
MỘT SỐ BÀI TẬP ÁP DỤNG
Chương này sẽ trình bày một số ứng dụng của số phức vào việc giải một số lớp bài toán về hình học phẳng
Một số bài toán khi giải bằng phương pháp số phức sẽ đơn giản, thuận tiện hơn khi giải bằng các phương pháp khác, chẳng hạn:
Ba điểm A, B, C nằm trên một đường thẳng theo thứ tự A, B, C Từ đó, ta dựng các tam giác đều ABE và BCF trong cùng nửa mặt phẳng bờ AC Gọi M và N lần lượt là trung điểm của AF và CE Cần chứng minh rằng tam giác BMN là tam giác đều.
Cách 1: Sử dụng phương pháp hình học phẳng
Xét ABF và EBC có:
AB EB (vì ABE đều)
BF BC (vì BFC đều)
ABF EBC (cạnh – góc – cạnh)
BAF BEC BCE , BFA và AF CE
Xét BNC và BMF có
NC MF (vì AF CE và M, N là trung điểm AF, CE)
BCN BFM (chứng minh trên)
BNC BMF (cạnh – góc – cạnh)
BN BM và CBN FBM (1)
Mà ta có CBN FBM CBF FBN FBE EBM
Ta có MBN MBE EBN FBN EBN 60 0 (2)
Vậy từ (1) và (2) ta có BMN là tam giác đều
Cách 2: Sử dụng phương pháp số phức hóa
Chọn điểm B trùng với gốc tọa độ O Giả sử các điểm A, C, E, F, M, N có tọa vị lần lượt là a, c, e, f, m, n
Ta có BAE , BFC đều nên: cos sin
M, N là trung điểm AF, CE nên:
Tam giác BMN cân (vì BM BN ) có góc
nên là tam giác đều
Về phía ngoài tứ giác ABCD dựng các hình vuông ABEF, BCGH, CDKL, DAMN
Gọi P, Q, R, S lần lượt là tâm của các hình vuông trên Chứng minh rằng PR QS và
Cách 1: Sử dụng phương pháp hình học phẳng
Xét BEC và BAH có
BEC BAH (cạnh – góc – cạnh)
Gọi K là giao điểm của EC và AH Ta có BEC = BAH nên BEC BAH do đó tứ giác EKBA nội tiếp, suy ra EKA EBA 90 0
Từ (1) và (2) suy ra AH EC EC , AH
Gọi I là trung điểm AC, khi đó ta có IP là đường trung bình của EAC và IQ là đường trung bình của ACH
Mà AH EC EC , AH suy ra IP IQ IP , IQ
Một cách tương tự ta chứng minh được IS IR IS , IR
Từ đó ta có IPR IQS (cạnh – góc – cạnh)
Gọi J là giao điểm của PR và QS thì ta có tứ giác IJRS nội tiếp
Suy ra SJR SIR 90 0 hay PR QS
Cách 2: Sử dụng phương pháp số phức hóa
Giả sử các điểm A, B, C, D, P, Q, R, S có tọa vị lần lượt là a, b, c, d, p, q, r ,s Khi đó ta có
PA PB PA PB nên a p b p i
Để chứng minh PR QS và PR QS ta chỉ cần chứng minh r p q s i
1 1 1 i b ic i d ia ib c id a c id a ib i q s r p i i i
Vậy ta có điều phải chứng minh
Cho đường tròn O bán kính R, BC là dây cung cố định, điểm A chuyển động trên cung lớn BC Tìm quỹ tích trọng tâm G của tam giác ABC
Cách 1: Sử dụng phương pháp hình học phẳng
Gọi I là trung điểm của BC Trên OI lấy điểm O’ sao cho ' 2
Theo tính chất trọng tâm trong tam giác ta có 2
Từ (1) và (2) suy ra O’G//OA Áp dụng định lý Talét ta có ' 1
Mà A chuyển động trên cung lớn BC, do đó G chuyển động trên cung lớn B C 1 1 của đường tròn tâm O’ bán kính
Phương pháp số phức hóa có thể được áp dụng bằng cách đặt tâm của đường tròn tại gốc tọa độ, trong khi dây cung BC được cố định song song với trục thực Giả sử các điểm A, B, C, I, G có tọa độ lần lượt là a, b, c, y, g.
A chạy trên cung lớn BC của đường tròn O, bán kính R
Suy ra a R cos t i sin t với t , trong đó OC Ox , , Ox OB ,
G là trọng tâm ABC suy ra 1 g 3 a b c 1 1
I là trung điểm BC nên b c 2 y ,
Vậy quỹ tích điểm G là cung B C 1 1 của đường tròn tâm có tọa vị 2
Nhận xét về bài toán 1 cho thấy rằng phương pháp số phức hiệu quả hơn so với phương pháp hình học phẳng, vì nó cho phép rút ngắn quá trình chứng minh bằng cách sử dụng phép quay gốc B và tính chất trung điểm Đối với bài toán 2, phương pháp hình học phẳng cung cấp lời giải dễ hiểu nhưng dài dòng và khó xác định đường đi, trong khi phương pháp số phức hóa mang lại đường đi rõ ràng hơn, giúp chứng minh rằng PR = QS.
PR QS thì chỉ cần chứng minh r p q s i
Bằng một số bước biến đổi cơ bản, ta có thể chứng minh điều cần thiết Đối với bài toán 3, phương pháp số phức mang lại lời giải dễ hiểu và ngắn gọn Chỉ cần xác định quỹ tích điểm A và mối quan hệ giữa trọng tâm G và điểm A, ta sẽ tìm được quỹ tích điểm G.
Qua 3 bài toán trên, ta thấy việc đưa bài toán hình học vào xét trong mặt phẳng phức và gọi tọa vị của các điểm có trong bài toán, áp dụng đặc trưng một số tính chất hình học qua số phức sẽ cho ta lời giải ngắn gọn, rõ ràng cũng như dễ dàng tìm được hướng đi của bài toán
Các mục tiếp sau đây sẽ trình bày những ứng dụng của số phức để giải một số lớp bài toán trong hình học phẳng
3.1 Ứng dụng số phức vào giải các bài toán chứng minh, tính toán
Bài toán 4: (Saint Petersburg 2000 – [3] trang 169)
Trong tam giác nhọn ABC, có một đường thẳng d tiếp xúc với đường tròn ngoại tiếp tại điểm B K là chân đường cao từ trực tâm H của tam giác xuống đường thẳng d, trong khi L là trung điểm của cạnh AC Cần chứng minh rằng tam giác BLK là tam giác cân.
Chọn gốc tọa độ O trùng với tâm đường tròn ngoại tiếp tam giác ABC, B thuộc trục ảo Oy sao cho B i , A, C, G có tọa vị lần lượt là a c g , , với a x 1 iy c 1 , x 2 iy 2 ,
Không mất tính tổng quát, ta chỉ cần xét ABC nội tiếp đường tròn đơn vị
G là trọng tâm tam giác ABC, ta có:
Khi đó vì OH3OG
, nên ta có tọa độ của trực tâm H là
Vì HK / /OB nên điểm K có tọa vi k x 1 x 2 i Điểm L trung điểm AC nên có tọa vị 1 2 1 2
Bài toán 5: ([7] Ví dụ 2, trang 23)
Cho lục giác đều ABCDEF, K là trung điểm của BD, M là trung điểm của EF Chứng minh AMK đều
Chọn gốc tọa độ O tại đỉnh A của lục giác đều ABCDEF, với đoạn AD nằm trên trục Ox Các đỉnh A, B, C, D, E, F có tọa độ lần lượt là a, b, c, d, e, f trong mặt phẳng phức.
Gọi I là tâm lục giác đều ABCDEF có tọa vị y Ta nhận thấy BCDI là hình thoi nên K là trung điểm IC Ta có c e
cos arg sin arg cos 6 sin 6 c c c i c c i
cos arg sin arg e cos 6 sin 6 e e e i e i
3 3 6 6 3 3 cos sin cos sin cos sin c i c i i
Vì M là trung điểm EF, K là trung điểm IC nên:
Suy ra m k tức là AM = AK và
Cho tam giác A1A2A3 với trực tâm H, vẽ đường tròn có đường kính AH3 Đường tròn này cắt các cạnh A2A3 và A1A3 tại các điểm P và Q Cần chứng minh rằng các tiếp tuyến tại P và Q đối với đường tròn cắt nhau tại điểm giữa của đoạn A1A2.
Chọn hệ tọa độ với đường tròn ngoại tiếp tam giác A A A 1 2 3 làm đường tròn đơn vị giả sử các điểm A A A P Q H C M 1 , 2 , 3 , , , , 3 , 3 có tọa vị lần lượt là a a a 1 , 2 , 3 , , , , p q h c m 3 , 3
Do P và Q chính là chân đường cao của tam giác từ đỉnh A 1 và A 2 , vì
HPA HQA (góc nội tiếp chắn nửa đường tròn), ta có:
Tâm của đường tròn ta vẽ là C 3 , đó là trung điểm của A H 3 , nên
M 3 là trung điểm của A A 1 2 , ta có 3 1 2
Những tỉ số trên hoàn toàn ảo vì 2 1 2 1
M Q C Q, nghĩa là M P 3 và M Q 3 là tiếp tuyến tại P và Q của đường tròn ngoại tiếp tam giác A A A 1 2 3
Cho ba điểm A 1 , A 2 , A 3 cùng thuộc một đường tròn Lấy điểm C 3 đối xứng với điểm
A 3 qua trung điểm của cạnh A A 1 2 , lấy điểm D 3 đối xứng với A 3 qua tâm đường tròn Chứng minh A A 1 2 vuông góc với C D 3 3
Chọn tâm O trùng với gốc tọa độ để không làm mất tính tổng quát, chúng ta sử dụng đường tròn ngoại tiếp của tam giác A1A2A3 làm đường tròn đơn vị Giả sử các điểm A1, A2, A3, C, D có tọa độ lần lượt là a1, a2, a3, c, d.
Gọi M là trung điểm của A A 1 2 có tọa vị m
Ta có 2m a 3 c 3 và 2m a 1 a 2 do đó ta có c 3 a 1 a 2 a 3
hoàn toàn ảo Thật vậy,
Cho tam giác ABC, trực tâm H chia đường cao BD với tỉ số 3:1 (tính từ đỉnh B) Còn
K là trung điểm của đường cao này Chứng minh rằng AKC 90 0
Chọn đường tròn đơn vị là đường tròn ngoại tiếp tam giác ABC Giả sử các điểm A,
B, C, D, H, K có tọa vị lần lượt là a, b, c, d, h, k
Ta có H là trực tâm tam giác ABC nên h a b c
D là chân đường cao hạ từ B nên d 1 2 a b c acb
K là trung điểm BD nên k 1 2 b d 1 2 b 1 2 a b c acb
3 3 a b acb c ab b ac bc bc b ac ab c b acb a
3 3 3 3 0 ab b bc ac ab b bc ac b c c b b c c b
hoàn toàn ảo, vậy AKC 90 0
Bài toán 9 (Định lí Sti – oa – tơ, [4] – Bài 58, trang 11)
Giả sử điểm D nằm trên cạnh BC của tam giác ABC Chứng minh rằng
AB DC AC BD AD BC BC DC BD Lời giải:
Giả sử các điểm A, B, C, D có tọa vị lần lượt là a, b, c, d khi đó ta có D nằm trên BC nên
VT = AB DC 2 AC BD 2 AD BC 2
1 1 1 1 c b bb ba ab aa cc aa ca aa bb bc ba bc cc ca ab ac aa
2 c b bb bb ba ba ab ab aa aa cc ac ca aa bb bb bb bc bc ba ba bc bc cc ca ab ab ac aa
c b bb cc cc bb bc cb bc cb
Từ (1) và (2) ta có điều phải chứng minh
Bài toán 10: ( [10], ví dụ 1, trang 156 )
Cho tam giác ABC với điểm D trên cạnh BC và điểm M trên đoạn AD Gọi L và K lần lượt là trung điểm của MB và MC Tia DL cắt AB tại P, tia DK cắt AC tại Q Cần chứng minh rằng PQ song song với LK.
Chọn điểm A trùng với gốc tọa độ, giả sử các điểm B, C, D, L, K, H, M, P, Q có tọa vị b, c, d, l, k, h, m, p, q
Ta có: L là trung điểm BM nên 1 l 2 b m
K là trung điểm CM nên 1 k 2 c m
Gọi H là trung điểm AM, có tọa vị
Ta có LH//PA, KH//QA, đặt AP AQ AD
3.2 Ứng dụng số phức vào giải các bài toán thẳng hàng, đồng quy
Bài toán 11: ( [11], ví dụ 18, trang 67 )
Cho tam giác ABC, từ các đỉnh A, B, C, ta vẽ ba đường thẳng song song cắt đường tròn ngoại tiếp tam giác tại các điểm D, E, F Cần chứng minh rằng trực tâm của các tam giác ABF, BCD và CAE nằm trên một đường thẳng.
Chọn hệ tọa độ sao cho đường tròn ngoại tiếp tam giác ABC là đường tròn đơn vị Giả sử các điểm A, B, C, D, E, F có tọa vị lần lượt là a, b, c, d, e, f
Ta có AD//BE//CF do đó:
Gọi H 1 , H 2 , H 3 lần lượt là trực tâm tam giác ABF, BCD, CAE, có tọa vị h h h 1 , 2 , 3
Tỉ số đơn là số thực Vậy H 1 , H 2 , H 3 thẳng hàng
Từ các đỉnh của tứ giác ABCD nội tiếp đường tròn tâm O, ta xây dựng các đường tiếp tuyến với đường tròn, tạo thành tứ giác PQRS khi các đường này cắt nhau Cần chứng minh rằng trung điểm của các đường chéo của tứ giác PQRS nằm trên một đường thẳng đi qua tâm O của đường tròn.
Ta chọn đường tròn đã cho làm đường tròn đơn vị gốc tọa độ tại O Giả sử các điểm
A, B, C, D, N, M, P, Q, R, S có tọa vị lần lượt là a, b, c, d, m, n, p, q, r, s
Ta có PA OA và PB OB do đó:
Thay p p ab vào pa a p 2 ta được 2ab p a b
Tương tự ta cũng có 2 2 2
M, N là trung điểm PR và QS nên ta có
Điều này chứng tỏ rằng tỉ số đơn m n là một số thực