1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Công nghệ sản xuất một số cây ăn quả á nhiệt đới

202 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 202
Dung lượng 1,91 MB

Cấu trúc

  • Chương 1. CÂY NHÃN (9)
    • 1.1. Giá trị dinh dƣỡng, tình hình sản xuất và tiêu thụ (9)
      • 1.1.1. Giá trị dinh dƣỡng (9)
      • 1.1.2. Tình hình sản xuất nhãn trên thế giới và ở Việt Nam (11)
    • 1.2. Nguồn gốc, phân bố, đặc điểm sinh vật học và yêu cầu sinh thái cây nhãn (17)
      • 1.2.1. Nguồn gốc, phân bố cây nhãn (17)
      • 1.2.2. Đặc điểm sinh vật học và yêu cầu điều kiện ngoại cảnh cây nhãn (20)
    • 1.3. Các giống nhãn đƣợc trồng phổ biến và kỹ thuật nhân giống (27)
      • 1.3.1. Các giống nhãn đƣợc trồng phổ biến (0)
      • 1.3.2. Kỹ thuật nhân giống nhãn (31)
    • 1.4. Kỹ thuật trồng và chăm sóc nhãn (38)
      • 1.4.1. Chọn cây giống (38)
      • 1.4.2. Mật độ và khoảng cách trồng (39)
      • 1.4.3. Làm đất, đào hố, bón phân lót (39)
      • 1.4.4. Thời vụ trồng (40)
      • 1.4.5. Chăm sóc sau trồng (40)
      • 1.4.6. Bón phân cho cây nhãn (44)
      • 1.4.7. Phương pháp cải tạo vườn nhãn già cỗi, không đúng giống . 46 1.4.8. Phòng trừ sâu bệnh cho cây nhãn (46)
      • 1.5.1. Thu hoạch nhãn (52)
      • 1.5.2. Bảo quản nhãn (53)
      • 1.5.3. Chế biến nhãn (53)
  • Chương 2. CÂY VẢI (55)
    • 2.1. Giá trị kinh tế và tình hình sản xuất vải trên thế giới và ở Việt Nam (55)
      • 2.1.1. Giá trị dinh dƣỡng và kinh tế cây vải (0)
      • 2.1.2. Tình hình sản xuất vải trên thế giới và ở Việt Nam (56)
    • 2.2. Nguồn gốc, phân loại, đặc điểm thực vật học và yêu cầu (60)
      • 2.2.1. Nguồn gốc cây vải (60)
      • 2.2.2. Phân loại cây vải (62)
      • 2.2.3. Đặc điểm thực vật học cây vải (0)
      • 2.2.4. Đặc điểm sinh vật học của cây vải (66)
      • 2.2.5. Yêu cầu về sinh thái của cây vải (66)
    • 2.3. Các giống đƣợc trồng phổ biến và kỹ thuật nhân giống (70)
      • 2.3.1. Các giống vải ở Việt Nam (70)
      • 2.3.2. Kỹ thuật nhân giống vải (76)
    • 2.4. Kỹ thuật canh tác cây vải (77)
      • 2.4.1. Chuẩn bị đất và quản lý đất trồng vải (77)
      • 2.4.2. Mật độ - khoảng cách trồng vải (77)
      • 2.4.3. Tiêu chuẩn cây vải giống (78)
      • 2.4.4. Thời vụ trồng vải (78)
      • 2.4.5. Kỹ thuật trồng vải (78)
      • 2.4.6. Chăm sóc sau trồng vải (79)
      • 2.4.7. Các biện pháp kỹ thuật làm tăng ra hoa đậu quả vải (83)
      • 2.4.8. Cắt tỉa, tạo hình cây vải (84)
      • 2.4.9. Phòng trừ sâu hại vải (86)
      • 2.4.10. Phòng trừ bệnh hại vải (88)
    • 2.5. Thu hoạch, bảo quản, chế biến vải (91)
      • 2.5.1. Thu hoạch vải (91)
      • 2.5.2. Bảo quản vải (91)
      • 2.5.3. Chế biến vải (93)
  • Chương 3. CÂY CAM (95)
    • 3.1. Giá trị dinh dƣỡng, tình hình sản xuất và tiêu thụ cam trên thế giới và ở Việt Nam (95)
      • 3.1.1. Giá trị dinh dƣỡng và ý nghĩa kinh tế (0)
      • 3.1.2. Tình hình sản xuất cây cam trên thế giới và ở Việt Nam (96)
      • 3.1.3. Tình hình tiêu thụ cam trên thế giới và ở Việt Nam (101)
    • 3.2. Nguồn gốc, phân loại, đặc điểm sinh vật học và yêu cầu (107)
      • 3.2.1. Nguồn gốc cây cam (107)
      • 3.2.2. Phân loại cam (108)
      • 3.2.3. Đặc điểm sinh vật học cây cam (0)
      • 3.2.4. Yêu cầu sinh thái cây cam (0)
    • 3.3. Các giống đƣợc trồng phổ biến và kỹ thuật nhân giống cam (121)
      • 3.3.1. Các giống đƣợc trồng phổ biến ở Việt Nam (0)
      • 3.3.2. Kỹ thuật nhân giống cam (123)
    • 3.4. Kỹ thuật canh tác cây cam (129)
      • 3.4.1. Chọn đất, lập vườn (129)
      • 3.4.2. Trồng cam (129)
      • 4.1.1. Giá trị dinh dưỡng của cây bưởi (153)
      • 4.1.2. Tình hình sản xuất, tiêu thụ bưởi trên thế giới và ở Việt Nam (154)
    • 4.2. Nguồn gốc, phân loại, đặc điểm thực vật học và yêu cầu (162)
      • 4.2.1. Nguồn gốc cây bưởi (162)
      • 4.2.2. Phân loại thực vật (163)
      • 4.2.3. Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây bưởi (164)
      • 4.2.4. Yêu cầu sinh thái cây bưởi (0)
    • 4.3. Các giống đƣợc trồng phổ biến và kỹ thuật nhân giống (173)
      • 4.3.1. Các giống đƣợc trồng phổ biến ở Việt Nam (0)
      • 4.3.2. Kỹ thuật nhân giống bưởi (176)
    • 4.4. Kỹ thuật canh tác bưởi (181)
      • 4.4.1. Kỹ thuật trồng bưởi (181)
      • 4.4.2. Chăm sóc cây bưởi (183)
      • 4.4.3. Phòng trừ sâu, bệnh hại chính (184)
      • 4.4.4. Kỹ thuật cắt tỉa, tạo tán bưởi thời kỳ kiến thiết cơ bản (187)
      • 4.4.5. Kỹ thuật xử lý ra hoa, đậu quả bưởi (189)
      • 4.4.6. Thu hoạch và bảo quản bưởi (194)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (196)

Nội dung

CÂY NHÃN

Giá trị dinh dƣỡng, tình hình sản xuất và tiêu thụ

Nhãn là một loại cây ăn quả quý giá ở Việt Nam, nổi bật với giá trị dinh dưỡng cao Phân tích cho thấy quả nhãn chứa từ 12,38% đến 22,55% đường tổng số, với đường glucoze chiếm từ 3,85% đến 10,16%, cùng với hàm lượng vitamin C từ 43,12 đến 163,7 mg/100g Ngoài ra, quả nhãn còn chứa nhiều khoáng chất cần thiết như Ca, Fe, P, K, Na và thích hợp để ăn tươi Cùi nhãn tươi có 77,15% nước, 0,13% chất béo, 1,47% protit và vitamin A, B, trong khi cùi nhãn khô chứa 0,85% nước và 79,77% chất tan trong nước Hạt nhãn chứa tinh bột, saponin, chất béo và tanin, với chất béo có axit xyclopropanoit và axit dihydrosterculic chiếm khoảng 17,4% Hạt nhãn sau khi chế biến có thể được dùng để điều trị vết thương và bỏng.

Quả nhãn tươi là nguồn cung cấp vitamin C dồi dào, rất quan trọng cho chế độ ăn uống lành mạnh Một khẩu phần nhãn có thể đáp ứng gần như toàn bộ nhu cầu vitamin C hàng ngày của chúng ta Hình dáng và hương vị đặc trưng của quả nhãn không chỉ kích thích sự thèm ăn mà còn khuyến khích chúng ta tiêu thụ nhiều trái cây hơn Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo rằng việc ăn nhiều loại trái cây giúp cung cấp đa dạng chất dinh dưỡng cho cơ thể Với hàm lượng vitamin C và các chất dinh dưỡng phong phú, quả nhãn mang lại nhiều lợi ích sức khỏe quý giá.

Vitamin C, hay còn gọi là axit ascorbic, đóng vai trò quan trọng trong sức khỏe mô và quá trình chữa lành vết thương, như khi vết cắt trên ngón tay của chúng ta phục hồi Nó giúp cơ thể sản xuất collagen, một thành phần thiết yếu của cơ, sụn, da, xương và nhiều bộ phận khác Ngoài ra, vitamin C còn giúp duy trì sức khỏe cho răng và nướu.

Vitamin C được xem là một chất chống oxy hóa quan trọng, có thể hỗ trợ sức khỏe tim mạch bằng cách giảm độ cứng của động mạch, một yếu tố liên quan đến bệnh tim Việc bổ sung vitamin C qua thực phẩm từ thực vật, như nhãn, có thể mang lại lợi ích tốt hơn cho sức khỏe tim mạch so với các loại thuốc bổ sung Nghiên cứu sâu hơn sẽ giúp làm sáng tỏ cách vitamin C bảo vệ tim mạch.

Long nhãn chứa một lượng kali dồi dào, giúp kiểm soát huyết áp hiệu quả Nhiều chuyên gia dinh dưỡng cho rằng kali là một khoáng chất mà người Mỹ thường tiêu thụ chưa đủ, chỉ đạt khoảng một nửa lượng khuyến nghị Trong khi người cổ đại tiêu thụ kali gấp 16 lần so với natri, thì hiện nay, người Mỹ lại hấp thụ natri gấp đôi kali Sự mất cân bằng này có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng cao huyết áp, một yếu tố nguy cơ chính gây đột quỵ Do đó, việc bổ sung đủ kali trong chế độ ăn uống có thể giúp giảm nguy cơ đột quỵ.

- Dinh dƣỡng: Nhãn chứa các vitamin và khoáng chất và là một nguồn cung có giá trị của: vitamin C, kali, riboflavin (vitamin B2)

Khẩu phần ăn 20 quả nhãn tươi cung cấp 38 calo, 1g chất đạm, 0g chất béo và 10g carbohydrate Mặc dù không có chỉ số đường huyết cụ thể cho quả nhãn, nhưng hàm lượng carbohydrate cao và chất xơ thấp có thể dẫn đến tăng lượng đường trong máu Do đó, nhãn có thể không phải là lựa chọn tốt nhất cho người mắc bệnh tiểu đường, mặc dù nếu tiêu thụ ở mức độ vừa phải, nó vẫn có lợi cho sức khỏe.

CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT MỘT SỐ CÂY ĂN QUẢ Á NHIỆT ĐỚI

Một nguyên tắc đƣợc đề xuất là không ăn một khẩu phần trái cây có nhiều hơn

Chỉ với 10 g carbohydrate, một phần ăn nhãn rất phù hợp cho những người mắc bệnh tiểu đường Ngoài ra, những ai muốn kiểm soát cân nặng hoặc tránh thực phẩm chứa nhiều đường cũng có thể áp dụng quy tắc tương tự để duy trì sức khỏe.

Vỏ quả, thân cây và rễ của cây nhãn chứa nhiều tanin, có thể được sử dụng làm nguyên liệu trong ngành công nghiệp nhuộm Cây nhãn không chỉ là cây ăn quả với tán lá lớn, xanh quanh năm, mà còn góp phần quan trọng trong việc cải thiện điều kiện môi sinh.

Nhãn không chỉ cung cấp phấn hoa và mật hoa cho ong, mà còn sản xuất mật ong tươi với màu vàng nhạt và hương vị thơm ngon Mật ong từ nhãn chứa thành phần hóa học có lợi cho sức khỏe con người Theo nghiên cứu của Wen - HweiMei và cộng sự (1995), mật ong có hàm lượng nước từ 14,7% đến 23,6% và tổng hàm lượng đường từ 37,8% đến 81,5%, trong đó đường glucose chiếm 17,1% - 36,2% và đường fructose từ 20,7% đến 46,8% Ngoài ra, mật ong cũng giàu khoáng chất, đặc biệt là kali với hàm lượng lên đến 533 ppm.

1.1.2 Tình hình sản xuất nhãn trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.2.1 Tình hình sản xuất nhãn trên thế giới

Trung Quốc hiện là quốc gia dẫn đầu thế giới về ngành công nghiệp sản xuất nhãn, với diện tích canh tác và sản lượng lớn, đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng từ năm 1980 Vào năm 2000, Trung Quốc đại lục đã sản xuất 608.500 tấn nhãn từ 465.600 ha Các vùng sản xuất chính bao gồm Quảng Đông với 157.500 ha (khoảng 346.000 tấn), Quảng Tây với 202.400 ha (khoảng 150.900 tấn), và Phúc Kiến với 96.000 ha (khoảng 110.400 tấn) Ngoài ra, một số địa phương như Tứ Xuyên cũng có diện tích trồng nhỏ hơn, chỉ khoảng 2.364 ha.

Vườn nhãn ở Đài Loan chủ yếu tập trung ở miền Trung và miền Nam, với diện tích khoảng 12.000 ha và sản lượng ổn định từ 53 đến 130 nghìn tấn, phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và trồng trọt Các giống nhãn chủ yếu bao gồm Fenke, Hongke và Qingke, cho trái từ giữa tháng 8 đến đầu tháng 9 Năng suất nhãn ở Đài Loan dao động từ 5 tấn/ha đến hơn 10 tấn/ha, cao hơn nhiều so với mức trung bình 2 tấn/ha ở Trung Quốc đại lục.

Có hơn 400 giống nhãn với những đặc điểm độc đáo, nhưng sản xuất thương mại chủ yếu dựa vào khoảng 10 giống, cung cấp quả từ đầu tháng 8 đến cuối tháng.

9 Việc sử dụng hóa chất để sản xuất trái vụ ở Thái Lan đã thuyết phục người trồng ở Trung Quốc thử một số sản phẩm này; tuy nhiên, chỉ đạt đƣợc thành công hạn chế Trung Quốc đại lục có lƣợng tiêu thụ nhãn lớn nhất thế giới và nhập khẩu trái cây từ Thái Lan vào thời điểm trái vụ Ngƣợc lại, Đài Loan là nước xuất khẩu ròng, trái cây chủ yếu ở dạng sấy khô được gửi đến Hồng Kông, Singapore và Mỹ Năm 1997, xuất khẩu long nhãn đạt tổng cộng 1.368 tấn, trị giá 2,8 triệu đô la Mỹ (Wong, 2000) Những khu vực trồng nhiều nhãn ở Đài Loan là Đài Nam, Đài Trung, Cao Hùng… Đài Loan là thuộc địa trước kia của Nhật Bản, ảnh hưởng nhiều những kỹ thuật chọn tạo giống và thâm canh của Nhật Bản Hiện nay ở Đài Loan có tập đoàn trồng nhãn lớn và phong phú gồm ba nhóm chín sớm, trung bình và hạ muộn Nhãn ở Đài Loan chín từ tháng 7 đến tháng 12 nên rất có giá trị về hàng hóa (Xuming, 2020)

Nhãn là cây ăn quả chủ lực tại Thái Lan, với diện tích gieo trồng khoảng 187.564 ha và sản lượng đạt 1.027.493 tấn vào năm 2017, tương đương năng suất bình quân 5,4 tấn/ha Mùa nhãn bắt đầu từ tháng 6, nhưng sản lượng cao nhất rơi vào tháng 7 và tháng 8 Thái Lan có khả năng sản xuất nhãn quanh năm nhờ vị trí địa lý thuận lợi và công nghệ tiên tiến Tỷ lệ nhãn chính vụ so với nhãn trái vụ đã tăng đáng kể trong 10 năm qua, với nhãn trái vụ hiện chiếm khoảng 50% tổng sản lượng Tỉnh Chantaburi nổi tiếng với sản xuất nhãn trái vụ, nơi người trồng chủ yếu thu hoạch trong 9 tháng từ tháng 6.

Nhãn được di thực vào Mỹ bắt đầu từ Hawai vào năm 1903, sau đó lan rộng ra California và Florida Đến đầu những năm 90 của thế kỷ 20, Florida đã trở thành nơi sản xuất nhãn quan trọng tại Mỹ, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của cộng đồng người gốc châu Á Mặc dù lịch sử trồng nhãn ở Mỹ chưa lâu, nhưng các nghiên cứu về nhãn tại đây đã cho thấy nhiều kết quả đáng chú ý Hiện nay, Florida đang trồng hơn 10 giống nhãn có giá trị hàng hóa.

Nguồn gốc, phân bố, đặc điểm sinh vật học và yêu cầu sinh thái cây nhãn

1.2.1 Nguồn gốc, phân bố cây nhãn

Cây nhãn có tên khoa học: Dimocarpus longana L (hoặc: Euphora longana; hoặc: Dimocarpus longan): Chi (genus): Dimocarpus Họ (family):

Nhãn Hƣng Yên và các tỉnh miền núi phía Bắc thuộc giống phụ

Cây nhãn, thuộc họ bồ hòn (Sapindaceae), có nhiều tên gọi khác nhau tùy theo từng địa phương và quốc gia Trong tiếng Anh, nhãn được gọi là Longan hoặc Dragoneye (quả mắt rồng), trong khi tiếng Tây Ban Nha gọi nó là Mamoncillo chino hoặc Longana Tại Malaysia và Indonesia, nhãn được biết đến với tên gọi Keng Keng Trong họ bồ hòn, nhãn cùng với vải (Litchi sinensis) và chôm chôm (Nephelium) là ba loài có giá trị nhất.

Nhãn có nguồn gốc từ Đông Nam Á, với nhiều ý kiến cho rằng nó xuất phát từ Trung Quốc đến vùng Ghats của Ấn Độ Theo RobFlecher (1995), nhãn có thể có nguồn gốc từ Trung Quốc hoặc khu vực giữa Myanma và Ấn Độ.

Nhãn, một loại trái cây có nguồn gốc từ các vùng núi Quảng Đông và Quảng Tây (Trung Quốc), đã được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các giả thuyết khác nhau về nguồn gốc của nó Theo Vũ Công Hậu, nhãn có thể bắt nguồn từ Indonesia, trong khi Menzel và các cộng sự cho rằng nguồn gốc có thể là từ Trung Quốc hoặc khu vực giữa Myanmar và Ấn Độ Jonnathan và nhóm nghiên cứu của ông chỉ ra rằng nhãn có thể xuất phát từ Bura (Myanmar), miền Nam Trung Quốc, Tây Nam Ấn Độ, Sri Lanka và bán đảo Đông Dương Tanaka mô tả sự hiện diện của rừng nhãn dại tại đảo Hải Nam, Quảng Đông, miền Bắc Việt Nam, Indonesia và vùng núi Ấn Độ, cho rằng nguồn gốc của nhãn trải dài từ Ấn Độ đến đảo Hải Nam Nhãn thuộc họ bồ hòn (Sapindaceae), với khoảng 125 chi và hơn một nghìn loài, chủ yếu phân bố ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Theo Tôn Thất Trình (1995), họ Sapindaceae có khoảng 1.000 loài thực vật có giá trị ở xứ nóng, trong đó nhãn thuộc tông Euphoria, với 7 loài chủ yếu mọc ở khu vực này Nhiều nhà nghiên cứu đồng ý rằng cây nhãn có nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc và đã được ghi chép trong sách cách đây hơn 2.000 năm, thời Hán Vũ Đế Gần đây, một nghiên cứu tại Phúc Kiến, Trung Quốc đã chỉ ra rằng trung tâm nhãn sơ khai là Vân Nam, với các trung tâm thứ hai là Quảng Đông, Quảng Tây và Hải Nam.

Theo Nakasone và PaulR (1998), nhãn có nguồn gốc từ Đông Bắc Ấn Độ, Myanma và tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Tại khu vực này, cây nhãn có thể cao từ 9 đến 12 mét và phát triển mạnh mẽ trong điều kiện môi trường thuận lợi.

Cây nhãn, một loại cây ăn quả á nhiệt đới, có yêu cầu khí hậu ít khắt khe hơn so với cây vải Theo De Candolle (1999), nguồn gốc của cây nhãn nằm ở Ấn Độ, đặc biệt là ở vùng tây Ghats với độ cao 1.600 m, nơi còn tồn tại nhiều rừng nhãn dại Ở các bang Bengal và Assam, nhãn cũng được trồng phổ biến ở độ cao 1.000 m Trung Quốc hiện là quốc gia có diện tích trồng nhãn lớn nhất và sản lượng cao nhất thế giới, bên cạnh đó, nhãn cũng được trồng ở Thái Lan, Ấn Độ, Malaysia, Việt Nam, châu Phi và Úc trong các khu vực nhiệt đới và á nhiệt đới.

1996, Đặng Vũ Lăng cho rằng Trung Quốc có 4 loài trong họ bồ hòn là:

Dimocarpus longan: loài này trồng phổ biến trong các vùng; Dimocarpus confinis: trồng nhiều ở Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và vùng Tây Nam

Hồ Nam, với độ cao từ 400 đến 1.000 m, là nơi sinh trưởng của nhiều loại cây, trong đó có Dimocarpus fumatus, được trồng ở Vân Nam tại độ cao 1.400 m trên đất đá vôi, thường mọc trong rừng và được sử dụng để lấy gỗ chất lượng cao, mặc dù hạt của nó có chứa chất độc Một loại khác, Dimocarpus yumanensis, cũng được tìm thấy ở Vân Nam, nhưng ở độ cao 1.000 m trong rừng thưa và rất hiếm gặp Tại Việt Nam, các tài liệu lịch sử ghi nhận rằng nhãn và vải đã được trồng từ thế kỷ II trước Công nguyên, như đã đề cập trong "Đại Nam nhất thống chí" và các sách cổ khác.

Lê Quý Đôn và nhiều tác giả khác đã nhấn mạnh sự quý giá của nhãn, đặc biệt là nhãn Hưng Yên, một loại cây được tiêu dùng rộng rãi và từng được dùng để tiến vua Theo Trần Thế Tục (1997), nguồn gốc trồng nhãn ở Việt Nam vẫn chưa được xác định rõ, nhưng cây nhãn lâu đời nhất được ghi nhận là ở chùa Phố Hiến, Hưng Yên, khoảng 300 năm trước Vũ Công Hậu (1990) cho rằng nhãn là đặc sản của Việt Nam, vì trong các tài liệu về trái cây, chỉ có Trung Quốc và Việt Nam được đề cập đến nhãn, cho thấy nguồn gốc của các giống nhãn có thể xuất phát từ vùng khí hậu á nhiệt đới của Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam.

1.2.1.2 Phân bố vùng trồng nhãn

Nhãn là loại trái cây được ưa chuộng và trồng phổ biến ở châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, nơi có sản lượng và diện tích trồng lớn nhất thế giới Người dân nơi đây yêu thích nhãn vì vị ngọt thanh, hương thơm dễ chịu và khả năng chế biến thành nhiều loại thuốc bổ và thực phẩm bảo quản tốt Tuy nhiên, nhãn chưa được người châu Âu và châu Mỹ đánh giá cao do vị ngọt quá đậm và thiếu độ chua cân bằng, cùng với tỷ lệ E/A cao không phù hợp với khẩu vị phương Tây Ngoài ra, trái nhãn nhỏ và cần nhiều công sức để bóc vỏ, màu sắc vàng xỉn cũng không hấp dẫn bằng các loại trái cây khác Hơn nữa, việc di thực nhãn bằng hạt đã dẫn đến sự thoái hóa giống, khiến một số đặc điểm quý giá của nhãn không còn được giữ lại.

Nhãn không được trồng phổ biến trên toàn cầu, với chỉ khoảng 20 quốc gia tham gia sản xuất, chủ yếu tập trung ở Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Việt Nam, Florida (Mỹ) và Úc Hiện nay, có khoảng 300 - 400 giống nhãn được trồng, nhưng chỉ có khoảng 40 giống thực sự có giá trị kinh tế cao.

1.2.2 Đặc điểm sinh vật học và yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cây nhãn 1.2.2.1 Đặc điểm sinh vật học cây nhãn Đặc trƣng thực vật học của cây nhãn đƣợc chia làm hai bộ phận chính trên mặt đất và dưới mặt đất Phần dưới mặt đất có bộ rễ gồm rễ chính, rễ phụ, rễ nhỏ và rễ nhánh Phần trên mặt đất có thân cây và tán cây bao gồm lá, cành, hoa, quả, hạt a Đặc điểm cấu tạo rễ cây nhãn:

Rễ cây nhãn được chia thành rễ mọc thẳng và rễ mọc ngang, với sự phát triển và phân bố của chúng phụ thuộc vào kết cấu đất, mực nước ngầm và mức độ chăm sóc Trong điều kiện đất dày, tơi xốp và mực nước ngầm thấp, rễ thẳng có thể ăn sâu đến 3 - 4 m, trong khi rễ ngang phát triển mạnh mẽ và mở rộng gấp 1 - 2 lần tán cây Rễ hút nằm ở độ sâu 15 - 20 m, giúp cây nhãn có khả năng chịu hạn cao Ban đầu, rễ có màu trắng, sau đó chuyển sang vàng và cuối cùng là màu xám hồng khi trưởng thành Bộ rễ của nhãn có chứa nấm cộng sinh, giúp tăng khả năng hút nước và hấp thụ dinh dưỡng, dẫn đến sự phát triển dài và mạnh mẽ hơn của rễ.

Công nghệ sản xuất cây ăn quả á nhiệt đới, đặc biệt là nhãn, đã cho thấy khả năng chịu hạn và phát triển tốt ở vùng đất khô cằn Sự phát triển của rễ nhãn có sự khác biệt tùy theo từng vùng sinh thái Tại Việt Nam, rễ nhãn phát triển mạnh mẽ qua ba đợt trong năm: đợt đầu từ đầu tháng 3 đến tháng 4, đợt hai từ giữa tháng 5 đến tháng 6 với sự sinh trưởng mạnh, và đợt ba từ giữa tháng 9 đến giữa tháng 10, có mức độ sinh trưởng nằm giữa hai đợt đầu.

Các cao điểm sinh trưởng của cây trồng có thể bị ảnh hưởng bởi khí hậu và thời tiết hàng năm, cũng như tình hình sinh trưởng và sản lượng quả trên cây Do đó, thời gian và mức độ sinh trưởng có thể xảy ra sớm hoặc muộn, và lượng sinh trưởng có thể nhiều hoặc ít.

Trên cây nhãn, sự ra hoa và đậu quả, hoạt động của các đợt lộc cành cùng với bộ rễ có mối liên hệ chặt chẽ và ảnh hưởng lẫn nhau Việc áp dụng kỹ thuật chăm bón phù hợp sẽ mang lại hiệu quả rõ rệt, giúp nâng cao năng suất và ổn định sản lượng.

Sự phát triển của rễ cây diễn ra song song với các bộ phận trên mặt đất, bắt đầu hoạt động hiệu quả khi nhiệt độ đạt trên 23 °C Tuy nhiên, khi nhiệt độ vượt quá 33 °C, hoạt động của rễ gần như ngừng lại Ngoài ra, mặc dù nhiệt độ có thể phù hợp, nhưng nếu độ ẩm trong đất thấp, sự phát triển của rễ vẫn bị ảnh hưởng tiêu cực.

6 - 7% thì rễ cũng kém phát triển, nhất là gặp hạn Hàm lượng nước trong đất

14 - 19% rễ sinh trưởng rất nhanh và đạt mức độ cao ở 23% Vì vậy người ta nói nhãn là cây chịu úng

Các giống nhãn đƣợc trồng phổ biến và kỹ thuật nhân giống

1.3.1 Các giống nhãn được trồng phổ biến

Hiện nay, việc xác định giống nhãn chủ yếu dựa vào đặc điểm hình thái, gây khó khăn trong nhân giống và bảo tồn Để cải thiện quá trình này, nghiên cứu đã sử dụng dấu hiệu microatellite (SSRs) để phân tích sự đa dạng di truyền của 29 giống nhãn tại Viện Nghiên cứu Cây trồng miền Nam (SOFRI) Các giống nhãn này bao gồm 26 giống từ 7 tỉnh Việt Nam, một từ Malaysia, một từ Trung Quốc và một từ Thái Lan, với tổng cộng 84 đoạn khuếch đại và trung bình 2,9 alen trên mỗi locus SSR Kết quả cho thấy, trong 8 locus SSR phân tích, dị hợp tử mong đợi là 0,46 nhưng quan sát được chỉ 0,04, cho thấy sự tồn tại của 28 cấu hình di truyền khác nhau trong các giống nhãn.

Nghiên cứu về giống nhãn "Bảy Tơ" và "Sóc Trăng" đã cung cấp thông tin quan trọng về đặc điểm phân tử và sự đa dạng di truyền của các giống nhãn tại Việt Nam (Yen và cs, 2020) Trong đó, giống nhãn Lồng nổi bật với những đặc điểm riêng biệt, góp phần vào sự phong phú của giống nhãn trong nước.

Nhãn Lồng là giống nhãn nổi tiếng, chủ yếu được trồng ở Hưng Yên, với kích thước quả lớn hơn nhiều giống khác Khối lượng trung bình của quả đạt từ 11 - 12 g, trong khi quả lớn có thể nặng tới 14 - 15 g, và quả nhỏ từ 7 - 8 g Khối lượng quả phụ thuộc vào sức sống và sinh trưởng của cây Nhãn Lồng có hai múi thịt lồng vào nhau ở đỉnh quả, với bề mặt có nếp nhăn và múi nhẵn bóng Hạt có màu đen, khả năng dóc vỏ và cùi tốt, tỷ lệ cùi đạt 62,7%, đường tổng số từ 18 - 19% Khi chín, quả ăn giòn, ngọt và đậm, thường có kích thước đều nhau, rất được người tiêu dùng ưa chuộng.

Nhãn Cùi có trọng lượng trung bình khoảng 8,5 g/quả, với quả lớn có thể đạt tới 11 g Quả có hình cầu hơi dẹt, vỏ màu nâu không sáng Độ ngọt và hương thơm của Nhãn Cùi kém hơn so với nhãn Lồng và nhãn Đường phèn, tỷ lệ ăn được khoảng 58% và tổng đường hơn 16% Giống nhãn này rất phổ biến tại Hưng Yên và Hải Dương, chủ yếu được sử dụng để xuất khẩu tươi và làm long nhãn, nhưng giá trị kinh tế thấp hơn so với nhãn Lồng và nhãn Đường phèn.

Giống nhãn Hương Chi, có nguồn gốc từ vườn nhà cụ Hương Chi ở phường Hồng Châu, TP Hưng Yên, hiện đang được trồng rộng rãi ở miền Bắc Đặc điểm nổi bật của giống nhãn này là cây thấp, lá xanh đậm với mép lá quăn xuống Cây ra hoa nhiều đợt, và nếu một đợt hoa gặp thời tiết khắc nghiệt, nó sẽ tiếp tục ra hoa ở đợt sau khi điều kiện thuận lợi trở lại, giúp năng suất quả ổn định qua các năm Quả nhãn Hương Chi có kích thước lớn (15 - 16 g/quả), cùi dày dễ tách, vị ngọt đậm, hạt nhỏ và vỏ mỏng.

Giống nhãn Nước có màu sắc vỏ quả và kiểu chùm tương tự như nhãn Lồng, nhưng quả có hình dạng tròn hơn và khối lượng trung bình từ 7 - 12 g Vỏ quả màu nâu nhạt, dày và giòn, trong khi hàm lượng nước trong cùi cao hơn so với nhãn Lồng Cùi quả tương đối dày với các cục u nhỏ như đường phèn, dịch nước quả màu trong hoặc hơi đục Tỷ lệ cùi so với quả khoảng 60%, có hương thơm và vị ngọt sắc, quả chín sớm hơn nhãn Cùi từ 10 - 15 ngày.

Giống nhãn này có quả nhỏ với khối lượng trung bình 6,15 g/quả, hạt lớn và cùi mỏng trong, độ dày khoảng 2,7 mm Phần ăn được chiếm 31%, chỉ bằng một nửa so với các giống nhãn Cùi khác Hàm lượng đường tổng số thấp, chỉ 11,7% Nhãn Nước thường được sử dụng để sản xuất long nhãn hoặc làm gốc ghép cho các giống nhãn khác.

CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT MỘT SỐ CÂY ĂN QUẢ Á NHIỆT ĐỚI f Giống nhãn Thóc:

Nhãn trơ, hay còn gọi là nhãn cỏ, có những đặc điểm tương tự như nhãn Nước Quả nhãn trơ có khối lượng bình quân đạt 5,32 g, với tổng lượng đường khoảng 11%, và tỷ lệ cùi trên quả rất thấp, chỉ đạt 24,7% Đây là giống nhãn có chất lượng quả kém nhất trong các loại nhãn hiện có, dẫn đến việc giống này đang bị loại bỏ trong các vườn hộ Tuy nhiên, hạt của giống này vẫn có thể được sử dụng để gieo cây làm gốc ghép.

* Một số giống nhãn phổ biến ở miền Nam: a Giống nhãn Tiêu da bò:

Giống nhãn "Nhãn tiêu Huế" có lá kép với 10-13 lá chét, mũi lá bầu, mép lá gợn sóng và mặt lá xanh đậm Quả chín có màu vàng da bò sẫm, trọng lượng trung bình 10 g, cùi dày, hạt nhỏ, phần ăn được chiếm hơn 60%, vỏ hạt không nứt, độ ngọt vừa phải và thường dùng để ăn tươi Giống nhãn Tiêu lá bầu có đầu lá tròn hơn, lá có 10-11 lá chét, trọng lượng quả trung bình khoảng 13 g, tỷ lệ ăn được 68% và đường tổng số 21,1% Quả có màu vàng, thịt quả khô giòn và ngọt đậm, cũng được tiêu thụ tươi Giống nhãn Xuồng cơm vàng nổi bật với những đặc điểm riêng biệt, thích hợp cho việc tiêu thụ.

Giống nhãn Long được trồng phổ biến ở Vũng Tàu và đã giành giải nhất trong cuộc thi cây ăn quả do Cục Khuyến nông - khuyến lâm, Trung tâm Cây ăn quả Long Định và Hội làm vườn tổ chức vào năm 1997 Với lá quăn, mặt dưới có lông mịn, quả to trung bình nặng khoảng 16,5g, tỷ lệ ăn được đạt 60%, hàm lượng đường tổng số là 26,2% Vỏ quả có màu nâu nhạt, thịt quả khô giòn, cuống quả có rãnh nhỏ và hai đầu hơi nhỏ cao giống như chiếc xuồng.

Lá nhãn Long có 6 - 9 lá chét, hình bầu tròn, dày và cứng, với màu xanh nhẵn và gân lá nổi rõ Quả nhãn có trọng lượng trung bình khoảng 15 g, vỏ màu vàng sáng hoặc vàng ngà với đường ráp đỏ, hạt màu đen và thường có nứt ở vỏ Cùi quả mềm, mỏng, tỷ lệ ăn được chỉ khoảng 30%, nhưng có nhiều nước ngọt và thơm Nhãn Long thích nghi tốt với nhiều vùng, có diện tích và sản lượng lớn tại Nam Bộ Ngoài vụ thu hoạch chính vào tháng 5 - 6, nhãn còn có quả trái vụ, thường được sấy khô thành long nhãn.

Ở Việt Nam, ngoài những giống nhãn phổ biến, còn có một số giống nhãn ít được trồng như "Nhãn Cùi điếc" ở miền Bắc và "Nhãn giống Da bò" ở miền Nam Ngoài ra, còn có các giống nhãn nhập khẩu từ Trung Quốc, bao gồm "Đại ô viên", "Trữ lương" và "Thạch Hiệp".

* Một số giống nhãn lai mới: a Nhãn chín muộn PH-M99-1.1:

Giống nhãn chín muộn HTM-1 có nguồn gốc từ xã Hàm Tử, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên Đặc điểm nổi bật của giống này là lá màu xanh nhạt, ít bóng, với mép lá hơi lượn sóng và phiến lá rộng, mỏng, cùng lộc có màu tím nhạt Quả có hình tròn, màu vàng sáng, với bề mặt vỏ quả có nhiều gai nổi rõ, cùi dày, giòn, ráo nước, ít thơm và màu trắng đục Trung bình có 85 quả/kg, tỷ lệ phần ăn được trên 70%, thời gian thu hoạch từ 25/8 đến 5/9 Năng suất quả của cây 4 năm tuổi đạt 8 - 10 kg/cây, với chất lượng tốt và độ Brix trung bình đạt 20,1% (Viện Nghiên cứu Rau quả, 2021).

Giống nhãn này có nguồn gốc từ xã Đại Thành, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, với đặc điểm sinh trưởng nổi bật như lá màu xanh đậm, ít bóng, mép lá lượn sóng và phiến lá rộng, mỏng Quả nhãn có màu vàng sáng, cùi dày, giòn, nhiều nước, thơm và có màu trắng trong với vỏ mỏng Trung bình có 105 quả/kg, tỷ lệ phần ăn được đạt 67,0% Thời gian thu hoạch kéo dài từ 25/8 đến 20/9, là giống có thời gian thu hoạch dài và muộn nhất trong các giống nhãn chín muộn được tuyển chọn bởi Viện Nghiên cứu Rau quả Cây 4 năm tuổi cho năng suất từ 7 - 9 kg/quả, với chất lượng rất tốt, thơm và độ Brix trung bình đạt 21,9% (Viện Nghiên cứu Rau quả, 2021).

CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT MỘT SỐ CÂY ĂN QUẢ Á NHIỆT ĐỚI c Nhãn chín muộn HTM-2:

Giống cây này có nguồn gốc từ xã Song Phương, huyện Hoài Đức, Hà Nội Đặc điểm nổi bật của cây là lá màu xanh nhạt, ít bóng, phiến lá rộng và mỏng Quả tròn, màu vàng sáng, cùi dày, hơi dai và có màu trắng đục, với vỏ dày Trung bình, mỗi kg chứa khoảng 75 quả, tỷ lệ phần ăn được đạt 68% Thời gian thu hoạch kéo dài từ 25/8 đến 15/9 Cây sinh trưởng khỏe, năng suất của cây 4 năm tuổi đạt từ 8 đến 10 kg mỗi cây, với chất lượng tốt và độ Brix trung bình đạt 21%.

Nghiên cứu Rau quả, 2021) d Nhãn chín muộn PH-M99-2.1:

Kỹ thuật trồng và chăm sóc nhãn

Lựa chọn cây giống có nguồn gốc rõ ràng và được phép sản xuất tại Việt Nam hoặc giống địa phương đã được sử dụng lâu năm là rất quan trọng Nên chọn giống có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, năng suất cao, chất lượng ổn định, cho quả nhanh, kháng sâu bệnh Sử dụng hạt giống và cây giống khỏe mạnh, sạch bệnh sẽ giúp giảm thiểu việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT MỘT SỐ CÂY ĂN QUẢ Á NHIỆT ĐỚI

1.4.2 Mật độ và khoảng cách trồng Đối với đất tốt vùng đồng bằng trồng với khoảng cách 8 × 8 m hoặc 7 × 7 m

(156 - 204 cây/ha) Đối với đất đồi núi trồng với khoảng cách 5 × 6 m hoặc 6 × 7 m (238 -

Hiện nay xu hướng người ta trồng dày hơn (3 × 3 m, 4 × 4 m, 5 × 5 m) kết hợp cắt tỉa chăm sóc tốt, sau này tán quá dày người ta bỏ bớt 1/2 số cây

1.4.3 Làm đất, đào hố, bón phân lót

Tùy thuộc vào loại đất và mực nước ngầm, việc đào hố hoặc lên liếp trồng cần được thực hiện một cách hợp lý Đối với đất ruộng và đất có mực nước ngầm cao, nên đào mương và lên liếp cao hoặc đắp ụ để tránh ngập úng Trong khi đó, đất vườn ở đồng bằng chỉ cần đào hố có kích thước 60 × 60 × 60 cm Đối với đất đồi núi có độ dốc cao từ 15-20 độ, cần thiết phải làm ruộng bậc thang để trồng nhãn, còn với độ dốc từ 5-25 độ, có thể trồng nhãn theo đường đồng mức, xen kẽ cây phân xanh hoặc dứa để giảm dòng chảy, giữ ẩm cho đất và chống xói mòn.

* Cách xây dựng ruộng bậc thang:

Mặt ruộng bậc thang nghiêng vào phía trong với độ dốc 2 - 5 o Bên ngoài mặt ruộng đắp bờ cao 10 - 15 cm, rộng 20 - 40 cm, phía trong khơi rãnh sâu 20

Ruộng bậc thang có kích thước 30 cm chiều cao và 20 - 30 cm chiều rộng, được thiết kế từ dưới lên với kỹ thuật đào trong đắp ngoài Mưa nhỏ giúp giữ nước, trong khi mưa lớn làm giảm tốc độ dòng chảy trên bề mặt Sau khi hoàn thành việc đắp bậc thang, đất từ mặt bậc trên được cào xuống bậc dưới, vừa cải tạo đất vừa tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng xen canh sau này Quá trình này có thể thực hiện từng cấp từ dưới lên trên, tối ưu hóa hiệu quả sử dụng đất.

Để bón phân lót cho một hố, cần sử dụng từ 30 đến 50 kg phân chuồng, 1,0 đến 1,5 kg supe lân, 0,5 đến 1,0 kg vôi và 0,1 đến 0,15 kg urê Đối với đất đồi, có thể bổ sung thêm 0,5 kg kali Sau khi trộn đều phân với lớp đất mặt, hãy cho hỗn hợp xuống đáy hố và lấp đất lên trên Để đảm bảo hố ổn định, nên hoàn thành việc lấp hố ít nhất một tháng trước khi trồng cây.

Miền Bắc thường trồng cây vào vụ xuân từ tháng 2 đến tháng 3 và vụ thu từ tháng 8 đến tháng 10, trong khi miền Nam thích hợp trồng vào đầu hoặc cuối mùa mưa Việc lựa chọn thời vụ trồng cần dựa vào điều kiện khí hậu của từng tiểu vùng sinh thái Sau khi trồng, cần tưới nước và tủ gốc để giữ ẩm, đặc biệt khi cây ra lá ổn định.

Khi mới trồng cây, cần tưới nước định kỳ 1 - 2 ngày một lần Đến tháng thứ hai, tần suất tưới giảm xuống còn 3 - 5 ngày một lần, với lượng nước từ 10 - 15 lít cho mỗi cây Tưới nước từ từ, từ ngoài vào trong gốc để tránh tình trạng đóng váng trên mặt đất Nếu cây chết, hãy trồng dặm ngay lập tức.

Tiến hành làm cỏ và phòng trừ sâu bệnh cho cây là rất quan trọng Trong giai đoạn cây chưa giao tán, nên trồng xen các loại cây họ đậu như lạc, đậu xanh, đậu tương và cây phân xanh như cốt khí, muồng để tăng thu nhập trong những năm đầu Những cây này không chỉ giúp che phủ đất và chống xói mòn mà còn cải thiện độ phì nhiêu của đất Bên cạnh đó, việc tạo hình và cắt tỉa cho cây nhãn cũng cần được thực hiện để đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho cây.

Tạo hình cho cây nhãn cần được thực hiện ngay từ những năm đầu, với yêu cầu để thân chính phân cành cách mặt đất khoảng 1m Nên duy trì từ 3 đến 4 cành chính, mỗi cành cần cách nhau ít nhất 20 cm để đảm bảo sự phát triển đồng đều và khỏe mạnh cho cây.

Hàng năm, việc tỉa bỏ những cành không cần thiết như cành vượt, cành tăm, cành sâu bệnh và cành mọc lộn xộn là rất quan trọng Nên thực hiện tỉa cành sau khi thu hoạch vào những ngày nắng Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc, biện pháp quan trọng nhất để cây nhãn ra quả đều hàng năm là giữ lại lộc Thu đúng thời điểm và khống chế lộc Đông.

Cắt tỉa cây là một bước quan trọng sau khi thu hoạch, thường diễn ra từ cuối tháng 8 đến tháng 9, tùy thuộc vào nhóm giống Trong quá trình này, cần loại bỏ các cành trong tán, cành tăm, cành sâu bệnh, cành chen chúc và cành ở đỉnh tán để tạo sự thông thoáng cho tán cây và đảm bảo các cành đều hướng ra ngoài.

Công nghệ sản xuất cây ăn quả á nhiệt đới bao gồm các bước tỉa thưa lộc, hoa và quả để tối ưu hóa năng suất Đợt 2, khi lộc dài 5-7 cm, cần tỉa bỏ cành mọc dày, giữ lại 2-3 lộc khỏe mạnh Đợt 3, tỉa bỏ chùm hoa nhỏ và chen chúc, đồng thời cắt bỏ 1-3 nhánh hoa ở gốc chùm trước khi nở Cuối tháng 5 đến đầu tháng 6, trong đợt 4, tỉa bỏ những chùm hoa không đậu quả và cắt bỏ cành có tỷ lệ đậu quả thấp Ngoài ra, áp dụng một số biện pháp kỹ thuật có thể tăng khả năng ra hoa và đậu quả cho cây.

- Khoanh vỏ: dùng dao sắc khoanh tất cả các cành cấp 1 hoặc cấp 2

(cành có đường kính 3 - 4 cm) với đường kính vết khoanh 0,2 - 0,3 cm cho những cây nhãn có khả năng sinh trưởng khỏe vào cuối tháng 11

- Xử lý Ethrel: xử lý cho những cành nhãn ra lộc Đông từ 5 - 10 cm trong thời gian từ trung tuần tháng 11 đến cuối tháng 12 với liều lƣợng là 400 -

500 ppm bằng cách phun ƣớt toàn bộ tán cây khi trời râm mát Sau 7 - 10 ngày lộc Đông bị héo và sau đó nhãn sẽ ra hoa

- Xử lý KClO 3 : xử lý vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 cho những cây nhãn không ra hoa trong điều kiện tự nhiên và lộc ở giai đoạn bánh tẻ

+ Dùng cuốc xới nhẹ xung quanh hình chiếu tán cây

+ Hòa KClO3 vào 10 lít nước, khấy đều cho tan hết và tưới đều xung quanh tán cây

+ Sau khi xử lý phải giữ ẩm liên tục cho cây trong 7 - 10 ngày để đảm bảo cho KClO3 tan hết

- Phun α-NAA: phun lên toàn bộ tán cây vào 2 thời kỳ: Sau khi tắt hoa và sau tắt hoa 1 tuần

Phun phân bón lá vào thời điểm trời râm mát, đảm bảo phun đều lên toàn bộ bề mặt tán cây Thực hiện phun định kỳ mỗi 15 ngày, bắt đầu từ khi cây nhú hoa cho đến 45 ngày trước khi thu hoạch.

Trong 3 loại cành thu (lộc thu trên cành hè, lộc thu trên cành hè cắt ngắn, lộc thu trên cành quả sau thu hoạch) thấy tỷ lệ ra hoa và đậu quả khác nhau:

Lứa lộc thu từ 5/9 đến 15/9 sẽ trưởng thành vào đầu đến giữa tháng 11 Tuy nhiên, lứa lộc này có khả năng phát sinh lộc đông, dẫn đến tỷ lệ hình thành cành mẹ để ra hoa vào vụ xuân chỉ đạt 99,5 - 31,7%.

Lứa lộc thu xuất hiện từ ngày 25/9 đến 5/10 và sẽ thành thục từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 12 Do lượng lộc đông rất ít, vụ xuân năm sau sẽ có tỷ lệ ra chùm hoa cao, dao động từ 47,5% đến 73,2%.

CÂY VẢI

CÂY CAM

Ngày đăng: 13/04/2022, 14:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ngô Hồng Bình (2004), Nghiên cứu đặc điểm và mối liên hệ sinh trưởng giữa các đợt lộc trên cây bưởi, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, sô 3/2004, trang 21 - 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm và mối liên hệ sinh trưởng giữa các đợt lộc trên cây bưởi
Tác giả: Ngô Hồng Bình
Năm: 2004
3. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2004). Tiêu chuẩn ngành 10TCN 599 - 2004: Quy trình nhân giống nhãn, vải bằng phương pháp ghép Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn ngành 10TCN 599 - 2004
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Năm: 2004
4. Đỗ Đình Ca và các cộng sự (2010), Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất bưởi Thanh Trà và khắc phục hiện tượng rụng quả non gây mất mùa bưởi Phúc Trạch, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất bưởi Thanh Trà và khắc phục hiện tượng rụng quả non gây mất mùa bưởi Phúc Trạch
Tác giả: Đỗ Đình Ca và các cộng sự
Năm: 2010
5. Đỗ Đình Ca, Nguyễn Văn Dũng, Vũ Việt Hƣng (2005), Nghiên cứu ảnh hưởng của bón phân, tưới nước đến khả năng ra hoa đậu quả, năng suất, phẩm chất bưởi Phúc Trạch tại Hương Khê - Hà Tĩnh, Kết quả nghiên cứu cây ăn quả vùng duyên hải miền Trung, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của bón phân, tưới nước đến khả năng ra hoa đậu quả, năng suất, phẩm chất bưởi Phúc Trạch tại Hương Khê - Hà Tĩnh
Tác giả: Đỗ Đình Ca, Nguyễn Văn Dũng, Vũ Việt Hƣng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
6. Phạm Văn Côn (2004), Các biện pháp điều khiển sinh trưởng và phát triển, ra hoa, kết quả cây ăn trái. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp điều khiển sinh trưởng và phát triển, ra hoa, kết quả cây ăn trái
Tác giả: Phạm Văn Côn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2004
7. Dương Trung Dũng, Trần Trung Kiên, Nguyễn Thị Thu Hoàn (2017), Kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp ghép và chăm sóc vườn cây ăn quả, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp ghép và chăm sóc vườn cây ăn quả
Tác giả: Dương Trung Dũng, Trần Trung Kiên, Nguyễn Thị Thu Hoàn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2017
9. Vũ Công Hậu (1999), Trồng cây ăn quả ở Việt Nam. NXB Nông nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng cây ăn quả ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Công Hậu
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
10. Trần Trung Kiên (2018). Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến chất lượng bưởi Đại Minh tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, Báo cáo đề tài cấp Tỉnh, Trường Đại học Nông Lâm, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến chất lượng bưởi Đại Minh tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
Tác giả: Trần Trung Kiên
Năm: 2018
11. Trần Trung Kiên, Dương Trung Dũng, Nguyễn Thị Thu Hoàn (2017), Kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch một số giống cây ăn quả có múi, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch một số giống cây ăn quả có múi
Tác giả: Trần Trung Kiên, Dương Trung Dũng, Nguyễn Thị Thu Hoàn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2017
14. Trần Trung Kiên, Nguyễn Minh Tuấn, Hà Duy Trường (2021), Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm VSV hữu hiệu EMINA đến năng suất và chất lượng của bưởi Đại Minh tại tỉnh Yên Bái, Tạp chí Rừng và Môi trường, Số 107, Tr. 90 - 95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm VSV hữu hiệu EMINA đến năng suất và chất lượng của bưởi Đại Minh tại tỉnh Yên Bái
Tác giả: Trần Trung Kiên, Nguyễn Minh Tuấn, Hà Duy Trường
Năm: 2021
17. Trần Thế Tục (1995), Cây bưởi và triển vọng phát triển ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây bưởi và triển vọng phát triển ở Việt Nam
Tác giả: Trần Thế Tục
Năm: 1995
20. Huỳnh Ngọc Tƣ, Bùi Xuân Khôi (2003), Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân và kali đến năng suất và phẩm chất bưởi Đường lá cam, Kết quả Nghiên cứu khoa học công nghệ Rau quả 2002 - 2003, Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân và kali đến năng suất và phẩm chất bưởi Đường lá cam
Tác giả: Huỳnh Ngọc Tƣ, Bùi Xuân Khôi
Năm: 2003
21. Đào Thanh Vân, Ngô Xuân Bình (2003), Giáo trình cây ăn quả (dành cho cao học), NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây ăn quả (dành cho cao học)
Tác giả: Đào Thanh Vân, Ngô Xuân Bình
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
22. Bernier, G., Kinet, J. M. and Sachs, R. M. (1981), The physiology of flowering. CRC Dress, Boca Raton Sách, tạp chí
Tiêu đề: The physiology of flowering
Tác giả: Bernier, G., Kinet, J. M. and Sachs, R. M
Năm: 1981
23. Bernier, G., Havelange, A., Houssa, C., Petijean, A. and Legeune (1993). Physiological signals that induce flowering. Plant cell 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Physiological signals that induce flowering
Tác giả: Bernier, G., Havelange, A., Houssa, C., Petijean, A. and Legeune
Năm: 1993
24. Binh Ngo Xuan (2001), Study of self in compatibility in citrus with special emphases on the pollentube growth and allelic variation, PhD thesis, Kyushu Unviersity, Japan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Study of self in compatibility in citrus with special emphases on the pollentube growth and allelic variation
Tác giả: Binh Ngo Xuan
Năm: 2001
26. Cayenne Engel, E. and Rebecca, Irwin (2003), Linking pollinator visitation rate and pollen receipt, American Journal of Botany 11(90), pp. 1612-1618 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Linking pollinator visitation rate and pollen receipt
Tác giả: Cayenne Engel, E. and Rebecca, Irwin
Năm: 2003
27. Chawalit, Niyomdham (1992), Edible fruit and nut. Indonesia, Plant resources of South - East Asia Vol. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Edible fruit and nut. Indonesia
Tác giả: Chawalit, Niyomdham
Năm: 1992
28. Chen Qiu Xia and Huang Pinhu (2004), Effects of pollination cultivars on fruit set rate and eating quality of pummelo cultivar Yongjia Zaoxiangyou, China Fruits, Zhejiang Research Institute for Subtropical Crops, Wenzhou, Zhejiang, China Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of pollination cultivars on fruit set rate and eating quality of pummelo cultivar Yongjia Zaoxiangyou
Tác giả: Chen Qiu Xia and Huang Pinhu
Năm: 2004
29. Chi N. M., P. Q. Thu, H. B. Nam, D. Q. Quang, L. V. Phong, N. D. Van, T. T. Trang, T. T. Kien, T. T. T. Tam, and B. Dell (2020). Management of Phytophthora palmivora disease in Citrus reticulata with chemical fungicides, Journal of General Plant Pathology, ISSN 1345-2630, Volume 86, Number 6, p. 494 - 502 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Management of Phytophthora palmivora disease in Citrus reticulata with chemical fungicides
Tác giả: Chi N. M., P. Q. Thu, H. B. Nam, D. Q. Quang, L. V. Phong, N. D. Van, T. T. Trang, T. T. Kien, T. T. T. Tam, and B. Dell
Năm: 2020

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng nhãn của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2020 - Công nghệ sản xuất một số cây ăn quả á nhiệt đới
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng nhãn của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2020 (Trang 15)
Bảng 1.2. Loại phân Lượng phân bón theo tuổi cây (kg/năm) - Công nghệ sản xuất một số cây ăn quả á nhiệt đới
Bảng 1.2. Loại phân Lượng phân bón theo tuổi cây (kg/năm) (Trang 44)
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu giữa hai giống vải Thanh Hà và Phú Hộ - Công nghệ sản xuất một số cây ăn quả á nhiệt đới
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu giữa hai giống vải Thanh Hà và Phú Hộ (Trang 75)
Bảng 2.2. Tuổi cây Lượng phân bón (kg/sào/năm) - Công nghệ sản xuất một số cây ăn quả á nhiệt đới
Bảng 2.2. Tuổi cây Lượng phân bón (kg/sào/năm) (Trang 82)
Bảng 3.2. Tình hình sản xuất cam của một số quốc gia trên thế giới - Công nghệ sản xuất một số cây ăn quả á nhiệt đới
Bảng 3.2. Tình hình sản xuất cam của một số quốc gia trên thế giới (Trang 98)
Bảng 3.3. Tình hình sản xuất cam của Việt Nam giai đoạn 1990 - 2019 - Công nghệ sản xuất một số cây ăn quả á nhiệt đới
Bảng 3.3. Tình hình sản xuất cam của Việt Nam giai đoạn 1990 - 2019 (Trang 100)
Bảng 3.4. Sự phân bố rễ cam Bố Hạ của cây gieo hạt và cây trồng từ cành chiết (%) - Công nghệ sản xuất một số cây ăn quả á nhiệt đới
Bảng 3.4. Sự phân bố rễ cam Bố Hạ của cây gieo hạt và cây trồng từ cành chiết (%) (Trang 110)
Bảng 3.5. Hàm lượng chất khoáng trong lá ở 5 mức độ - Công nghệ sản xuất một số cây ăn quả á nhiệt đới
Bảng 3.5. Hàm lượng chất khoáng trong lá ở 5 mức độ (Trang 120)
Hình 3.1. Quy trình tạo cây S0 bằng công nghệ vi ghép đỉnh sinh trưởng - Công nghệ sản xuất một số cây ăn quả á nhiệt đới
Hình 3.1. Quy trình tạo cây S0 bằng công nghệ vi ghép đỉnh sinh trưởng (Trang 126)
Hình 3.2. Quy trình sản xuất giống cây có múi sạch bệnh bằng hệ thống nhà lưới 3 cấp - Công nghệ sản xuất một số cây ăn quả á nhiệt đới
Hình 3.2. Quy trình sản xuất giống cây có múi sạch bệnh bằng hệ thống nhà lưới 3 cấp (Trang 128)
Bảng 3.6. Kết quả phân tích lá cam với mẫu chuẩn - Công nghệ sản xuất một số cây ăn quả á nhiệt đới
Bảng 3.6. Kết quả phân tích lá cam với mẫu chuẩn (Trang 136)
Bảng 3.7. Lượng bón với vườn chưa cho quả - Công nghệ sản xuất một số cây ăn quả á nhiệt đới
Bảng 3.7. Lượng bón với vườn chưa cho quả (Trang 137)
Bảng 3.8. Lượng bón với vườn đã cho quả - Công nghệ sản xuất một số cây ăn quả á nhiệt đới
Bảng 3.8. Lượng bón với vườn đã cho quả (Trang 138)
Bảng 4.1. Giá trị dinh dưỡng trong 200 g bưởi - Công nghệ sản xuất một số cây ăn quả á nhiệt đới
Bảng 4.1. Giá trị dinh dưỡng trong 200 g bưởi (Trang 154)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN