1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

cong-an-thien

131 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công Án Thiền
Tác giả Gyomay M. Kubose
Người hướng dẫn Dương Đình Hỷ
Thể loại sách
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 0,94 MB

Cấu trúc

  • Quyển I Sự Thăng Hoa của Nhị Nguyên (11)
    • 2- Không lạnh, không nóng (12)
    • 3- Cây gậy ngắn (12)
    • 4- Chữ Vô của Triệu Châu (12)
    • 5- Thiến Nữ có hai hồn (13)
    • 6- Nghe chuông, mặc áo (14)
    • 7- Hai bữa của Nham Đầu (15)
    • 8- Bồ Đề Đạt Ma và Lương Vũ Đế (16)
    • 9- Trở lại đời thường (17)
    • 10- Không râu (17)
    • 11- Mọi vật đều tốt nhất (18)
    • 12- Văn Thù vào cửa (18)
    • 13- Gặp nhau ở đâu sau khi chết (18)
    • 14- Một triết gia hỏi Đức Phật (19)
    • 15- Phật giáo của Địa Tạng (19)
    • 16- Phía Nam núi (20)
    • 17- Thiếu Nữ xuất định (20)
    • 18- Đại Đạo không khó (21)
    • 19- Con rùa trong vườn (22)
    • 20- Thiền viện (22)
    • 21- Nụ sen và lá sen (23)
  • Quyển II Sự tỉnh thức (24)
    • 22- Cửa thiên đàng (24)
    • 23- Thoại Nham gọi chủ (24)
    • 24- Lời khuyên của Tông Nguyên (25)
    • 25- Đạp đổ tịnh bình (26)
    • 26- Khuôn mặt xưa nay (26)
    • 27- Cây gậy của Vân Môn (27)
    • 28- Văn hoá hướng nội (27)
    • 29- Vô Vị chân nhân (28)
    • 30- Lỗ Tổ quay mặt vào vách (28)
    • 31- Hoàng Bá và những kẻ ăn hèm (29)
    • 32- Bánh xe của Hề Trọng (29)
    • 33- Ba cửa của Đâu Suất (30)
    • 34- Quy Sơn gọi hai ông tăng (30)
    • 35- Tượng Phật Quán Thế Âm (31)
    • 36- Ba gậy (31)
    • 37- Ba lần gọi của quốc sư Huệ Trung (32)
    • 38- Ngưỡng Sơn chào hỏi (33)
    • 39- Triệu Châu khám phá bà lão (33)
    • 40- Một ông tăng bị chối bỏ (34)
    • 41- Cao Đình đánh một ông tăng (34)
    • 42- Làm sao thấy Phật tánh (35)
    • 43- Giải quyết vấn đề của một ông tăng (35)
    • 44- Thiền bản (36)
    • 45- Bóp mũi (36)
    • 46- Ba giới không pháp (37)
    • 47- Hoa Dược lan (37)
    • 48- Kho Báu nhà ông (38)
    • 49- Tánh khí (38)
    • 50- Kiếm vị của Vũ Tạng (39)
    • 51- Đối nhất thuyết (40)
    • 52- Thân bầy gió vàng (40)
  • Quyển III Vô Chấp (41)
    • 53- Không phải gió, không phải cờ (41)
    • 54- Phật là gì (41)
    • 55- Người cho phải cám ơn (42)
    • 56- Câu nói của Thủ Sơn (42)
    • 57- Không thể trộm mặt trăng (43)
    • 58- Tâm là Phật (43)
    • 59- Tâm không phải (44)
    • 60- Thanh thoát cô bần (44)
    • 61- Đạp đổ chậu nước (44)
    • 62- Que cứt khô (45)
    • 63- Một vị Phật (45)
    • 64- Cà sa chùm đầu (46)
    • 65- Chén trà đầy rồi (46)
    • 66- Bài giảng của La Sơn (46)
    • 67- Giấc mộng của Tống Thái Tông (47)
    • 68- Nam Tuyền Bác bỏ tu sĩ và cư sĩ (47)
    • 69- Tên mít đặc (48)
    • 70- Bế gái qua suối (48)
    • 71- Cây gậy của Ba Tiêu (49)
    • 72- Phật đá (49)
    • 73- Trước thời Đức Phật (50)
    • 74- Hoa mẫu đơn (50)
    • 75- Đại ý của Phật pháp (50)
    • 76- Đốn cây (51)
    • 77- Thổi tắt nến (51)
    • 78- Trời xanh cũng phải ăn gậy (52)
    • 79- Con chồn của Bách Trượng (53)
    • 80- Triệu Châu khám phá hai am chủ (54)
    • 81- Hai ông tăng vén rèm (54)
    • 82- Ngưỡng Sơn vẽ một vạch (55)
    • 83- Cử động của một ông tăng (55)
    • 84- Cây gậy lớn của Cảnh Thanh (56)
    • 85- Am cỏ của Nam Tuyền (56)
    • 86- Đệ tam toà nói pháp (57)
    • 87- Vô nghiệp (57)
    • 88- Thượng thư Trần Tháo (58)
    • 89- Viết chữ Tâm (59)
    • 90- Đúng giờ của Tuyết Phong (59)
    • 91- Bí truyền (60)
    • 92- Giáo lý cao hơn (60)
    • 93- Giảng pháp (61)
    • 94- Đại Điên bao nhiêu tuổi (62)
    • 95- Phật thân (63)
    • 96- Nhập thánh (64)
    • 97- Bỏ xuống đi (64)
    • 98- Bàn tay của Nhật Trí Mặc Tiên (65)
    • 99- Không nước, không trăng (65)
  • Quyển IV Thiên Nhiên (70)
  • Quyển V Thế nào là Thiền ? (80)
  • Quyển VI Không bắt chước (110)
  • Quyển VII Vượt lên suy luận (115)
  • Quyển VIII Sống và Chết (128)

Nội dung

1 Công Án Thiền Nguyên tác Gyomay M Kubose Dịch giả Dương Đình Hỷ 2 Mục Lục Tiểu sử Gyomay M Kubose 10 Quyển I Sự Thăng Hoa của Nhị Nguyên 11 2 Không lạnh, không nóng 12 3 Cây gậy ngắn 12 4 Chữ Vô của[.]

Sự Thăng Hoa của Nhị Nguyên

Không lạnh, không nóng

Một ông tăng hỏi Động Sơn :

-Làm sao tránh được nóng, lạnh ?

-Sao không tới nơi không nóng, không lạnh

-Có một chỗ như vậy sao ?

-Đó là nơi khi lạnh làm ông chết cóng, khi nóng làm ông chết thiêu

Nóng và lạnh có thể khiến chúng ta cảm thấy không thoải mái, tượng trưng cho những rắc rối trong cuộc sống Khi gặp khó khăn, thay vì lẩn tránh, chúng ta nên học cách chấp nhận và hòa nhập với chúng Thiền dạy rằng, khi đối diện với khó khăn, thay vì than phiền, hãy chấp nhận và trở thành một với nó Bằng cách này, chúng ta không còn là nạn nhân mà trở thành chủ nhân của tình huống, từ đó tìm ra cách giải quyết hiệu quả hơn.

Cây gậy ngắn

Thủ Sơn giơ lên một cây gậy ngắn và nói :

Nếu các bạn gọi đây là một cây gậy ngắn, điều đó sẽ đi ngược lại với thực tế Ngược lại, nếu các bạn không gọi đây là một cây gậy ngắn, các bạn đang phớt lờ sự thật Vậy, các bạn sẽ gọi nó là gì?

Khi đồ đệ xác định một cây gậy ngắn, họ chấp nhận danh tính của nó, nhưng nếu họ phủ nhận điều đó, họ đang lờ đi thực tại Không thể vừa khẳng định vừa phủ định cùng một lúc Chỉ khi họ đối diện với mâu thuẫn và tự hỏi "đây là cái gì?" thì mới có thể đạt được giác ngộ Hãy trải nghiệm thay vì chỉ nói về nó.

Chữ Vô của Triệu Châu

Triệu Châu (778-897) là một thiền sư nổi tiếng Trung Quốc, sống tại thành Triệu Châu Một ngày, một ông tăng gặp rắc rối đã đến tìm Triệu Châu để nhờ chỉ dẫn Trong lúc đó, một con chó đi ngang qua, khiến ông tăng hỏi Triệu Châu về ý nghĩa của tình huống này.

-Con chó có Phật tánh không ? Ông tăng vừa dứt lời, Triệu Châu hét :

Công án chữ Vô của Triệu Châu là một trong những công án nổi tiếng nhất trong Phật giáo, thường được các thiền sư sử dụng để thử thách các tăng sinh Khi tham cứu về Vô, các tăng sinh sẽ cảm nhận được nó như một cục sắt nóng, không thể nuốt vào hay nhổ ra Khái niệm Vô không chỉ biểu thị bản chất của Phật giáo mà còn là một khái niệm cơ bản trong triết học phương Đông, với nghĩa là "không" trong tiếng Trung.

Vô tương đối và Vô tuyệt đối là hai khái niệm quan trọng trong Thiền Phật giáo, trong đó Vô tương đối là đối nghịch với Hữu, còn Vô tuyệt đối vượt lên trên có và không Để hiểu rõ công án này, cần nhận thức rằng mọi chúng sinh đều có Phật tánh, như Triệu Châu đã chỉ ra khi trả lời câu hỏi về con chó Ông dùng chữ Vô như một cách để phá tan sự chấp trước của người hỏi về giáo lý Cốt lõi của giáo lý Phật là vô chấp, vì mọi đau khổ đều phát sinh từ sự chấp trước, kể cả sự chấp vào sự vô chấp Triệu Châu mong muốn người hỏi vượt lên thế giới tương đối, để đạt được sự tự do và độc lập trong thế giới giác ngộ Cuộc sống thường gắn liền với những khái niệm tương đối như đúng sai, tốt xấu, nhưng thực tế lại luôn thay đổi Do đó, Vô là khái niệm nền tảng, nó tạo ra một không gian mà trí thông minh không thể bám vào và cần được trải nghiệm.

Thiến Nữ có hai hồn

Trương Giật có một cô con gái xinh đẹp tên là Thiến Nữ và một cháu trai điển trai gọi là Vương Trụ Ông thường đùa rằng họ là một cặp vợ chồng hoàn hảo, nhưng thực sự ông dự định gả Thiến Nữ cho người khác Tuy nhiên, Thiến Nữ và Vương Trụ lại yêu nhau và coi đó là một lời hứa Khi Trương Giật thông báo sẽ gả Thiến Nữ cho người khác, Vương Trụ cảm thấy tiếc nuối và tuyệt vọng.

Vương Trụ rời bỏ quê hương bằng thuyền và sau vài ngày, anh bất ngờ phát hiện Thiến Nữ cũng có mặt trên thuyền Họ cùng nhau đến một thành phố gần đó, sinh sống trong vài năm và đã có hai đứa con Tuy nhiên, Thiến Nữ luôn nhớ về cha của mình, điều này khiến Vương Trụ trăn trở.

Vương Trụ quyết định trở về với vợ để xin lỗi và nhận sự chúc phúc Anh để Thiến Nữ ở lại trên thuyền và một mình tới nhà bố vợ Tại đây, Vương Trụ xin lỗi Trương Giật vì đã mang con gái ông đi và cầu xin sự tha thứ Trương Giật đã phản ứng mạnh mẽ trước lời xin lỗi này.

-Nói chuyện điên rồ gì vậy ?

Sau khi Vương Trụ rời đi, Thiến Nữ rơi vào trạng thái bệnh tật, không còn ý thức và nằm liệt giường cho đến nay Vương Trụ tin rằng ông Trương đã mắc sai lầm và quyết định đưa Thiến Nữ trở về Khi họ bước vào nhà, Thiến Nữ từ trong buồng bước ra đón tiếp, hai Thiến Nữ ôm nhau và hòa quyện thành một.

Ngũ tổ Pháp Diễn cho rằng Thiến Nữ có hai hồn: một hồn là Thiến Nữ đang bệnh nằm trên giường, hồn kia là người phụ nữ có hai con ở một thành phố khác Vậy, hồn nào mới là hồn thật?

Khi một người đạt được giác ngộ, họ vượt qua nhị nguyên đối đãi và nhận thức được chân lý của mọi sự vật Chân lý là một thực thể không thể bị chia cắt, trong khi ảo tưởng và hiện thực chỉ là những khái niệm tương đối, không thể tách rời Mọi thứ đều tồn tại trong mối quan hệ tương hỗ; cái mới chỉ xuất hiện khi có cái cũ Không có sự phân chia giữa Đông và Tây, và vấn đề về có và không không phải là điều quan trọng Sinh và tử chỉ là hai giai đoạn trong vòng đời Hãy tận hưởng tất cả các mùa: Xuân, Hạ, Thu và Đông, vì chân lý vừa đơn nhất vừa đa dạng.

Nghe chuông, mặc áo

Thiền sư Vân Môn nói :

-Thế giới rộng lớn bao la, sao nghe tiếng chuông lại mắc áo thất điều ?

Trong một thiền viện, đời sống của các ông tăng đã được quy định

Khi nghe tiếng chuông reo, mọi người cần mặc áo thất điều và đến Thiền đường, nhưng Vân Môn thắc mắc lý do Có một câu cổ ngữ rằng: "Những gì qua cửa thì đều là vật lạ", với "cửa" đại diện cho các giác quan như nhìn, nghe, ngửi, nếm, chạm Nếu chúng ta hành động theo bản giác, tức là tuân theo lệnh bên ngoài, chúng ta sẽ cảm thấy áp lực và lo lắng Điều này là đặc tính của đời sống mới Tuy nhiên, nếu ta giữ vững nội tâm, mọi hành động và cảm giác sẽ phát sinh từ bên trong Người không giác ngộ hành động vì nghĩa vụ, trong khi người giác ngộ hành động theo mong muốn của mình Tự do thực sự nằm ở trung tâm của cuộc sống, và Vân Môn đã chỉ ra điều này một cách rõ ràng.

Hai bữa của Nham Đầu

Kỳ Sơn đến thăm Nham Đầu sống ẩn dật và hỏi :

-Đạo huynh có thường có hai bữa không ?

-Lão tứ của Trương gia ủng hộ tôi Tôi rất cảm ơn ông ta

-Nếu ông làm tốt, kiếp sau ông sẽ làm trâu bò để trả ơn trong kiếp này Nham Đầu không nói chỉ để hai nắm đấm trên đầu

-Nếu ông muốn trỏ sừng thì ông phải ruỗi ngón tay ra chứ

Trước khi Kỳ Sơn dứt lời, Nham Đầu hét lớn Kỳ Sơn không hiểu ý nghĩa đó và hỏi :

-Nếu ông hiểu sâu hơn, sao ông không giải nghĩa cho tôi ?

-Ông đã học Phật 30 năm như tôi mà ông còn đi vòng vèo Tôi không ăn nhậu gì với ông cả Đi ra !

Nói xong Nham Đầu đóng cửa lại

Lão tứ của Trương gia ngẫu nhiên đi qua, thương hại dẫn Kỳ Sơn về nhà

Ba mươi năm trước, chúng tôi từng là bạn thân, nhưng giờ đây ông ấy đã đạt được những điều vượt xa sự hiểu biết của tôi Đêm đó, Kỳ Sơn không thể ngủ, và ông đã quyết định rời khỏi nhà để đến am của Nham Đầu.

-Đạo huynh, xin hãy từ bi và giảng pháp cho tôi

Nham Đầu mở cửa và tiết lộ giáo pháp

Sáng hôm sau Kỳ Sơn về nhà sung sướng với sự giác ngộ

Khi Kỳ Sơn hỏi Nham Đầu về việc ông có sống một đời sống tăng lữ bình thường với hai bữa ăn hay không, điều này phản ánh tập tục của chư tăng Nham Đầu bày tỏ lòng biết ơn đối với Trương gia và cho rằng cách duy nhất để đền ơn là trở thành một ông tăng tốt Kỳ Sơn cảnh báo Nham Đầu không nên nhận quá nhiều đặc ân, vì điều đó có thể dẫn đến kiếp sau ông sẽ phải tái sinh làm người hầu hoặc trâu bò để trả ơn Nham Đầu chỉ biết để hai nắm đấm trên đầu, thể hiện sự suy nghĩ và trăn trở của mình.

-Nếu ông nhìn đời 50/50, cho và nhận thì tôi nhận nhiều hơn cho Tuy nhiên tôi đã là một con bò rồi

Nhưng Kỳ Sơn không hiểu quan điểm đó về cuộc đời Do đó, ông tiếp tục quan điểm nhị nguyên :

-Nếu ông chỉ sừng, thì ông phải làm thế này (ruỗi những ngón tay ra) Lúc đó Nham Đầu rất chán ghét cái nhìn thiển cận của Kỳ Sơn

-Ông đã học Phật 30 năm, mà vẫn chấp vào hình thức Đi ra !

Tình bạn, chân thật là thành thật và trực tiếp, cởi mở và không thoả hiệp

Nham Đầu rất tốt, nhưng cần phải làm trống rỗng ly trước khi rót đầy Đôi khi, chúng ta phải đến đường cùng để tìm ra con đường mới Sự tái sinh cần thiết để trở thành một con người mới Đêm đó, Kỳ Sơn đã sẵn sàng trải nghiệm chân lý không thể diễn đạt.

Bồ Đề Đạt Ma và Lương Vũ Đế

Vua Lương của Trung Quốc là một người ủng hộ lớn cho Phật giáo, đã xây dựng nhiều chùa chiền và hỗ trợ nuôi dưỡng các tăng ni Ông cũng thực hiện nhiều hoạt động Phật sự có ý nghĩa Trong một cuộc trò chuyện, ông đã hỏi Bồ Đề Đạt Ma về những vấn đề liên quan đến đạo Phật.

-Trẫm làm nhiều Phật sự có công đức gì không ?

-Thế nào là đệ nhất thánh đế ?

-Chẳng có thánh gì cả

-Chẳng biết trước mặt trẫm là ai ?

Vì Lương Vũ Đế không hiểu lời dạy của Bồ Đề Đạt Ma, nên Ngài đã quyết định rời bỏ triều đình Sau đó, vua đã kể lại cuộc đối thoại này với một vị cố vấn, và Chí Công đã bày tỏ sự tiếc nuối về việc Bồ Đề Đạt Ma ra đi.

Ma là một bậc thầy lớn đã đạt chân lý Vua Lương Vũ Đế tiếc nuối, truyền sứ giả mời Đạt Ma trở về, nhưng Chí Công nói :

-Dù người cả nước đi mời, ông cũng không trở lại

Bồ Đề Đạt Ma, một người Ấn Độ, đã đến Trung Quốc vào khoảng năm 520, khi Phật giáo đã được thành lập Vua Lương Vũ Đế mời ông vào triều, nhưng câu trả lời của Đạt Ma đã gây sốc lớn Câu hỏi của vua về công đức của mình và thực tại không liên quan đến bản ngã, cho thấy sự khác biệt trong tư duy giữa Phật tử và quyền lực Để tìm kiếm sự giác ngộ, Đạt Ma đã lên núi Thiếu Thất, nơi ông tĩnh tâm trong suốt 9 năm mà không nói lời nào, từ đó trở thành người sáng lập Thiền tông Trung Hoa.

Trở lại đời thường

Một ông tăng hỏi Hoa Nghiêm :

-Một đấng giác ngộ trở lại đời thường thì thế nào ?

-Một gương vỡ không phản chiếu, những hoa rơi không bao giờ trở lại cành

Trong đời sống Thiền, không có khái niệm nếu và nhưng; mọi thứ luôn diễn ra ở đây và bây giờ Nhiều người sống trong thế giới của những giả định, chỉ nghĩ mà không hành động, như "nếu việc không thành" hay "nếu tôi bị thương." Những người này thường tự biện minh cho mình bằng những lý do như "tôi muốn làm việc đó nhưng " Khi một vị tăng hỏi về cách tiếp xúc với đời thường, câu trả lời không phải là tìm kiếm giác ngộ qua kinh nghiệm cá nhân mà là nhận ra Phật tánh trong chính mình, hòa nhập với cuộc sống hàng ngày Đối với các Bồ Tát, cuộc sống thường nhật chính là cuộc đời giác ngộ, và mọi sự việc, dù là gương vỡ hay hoa rụng, đều có giá trị riêng của nó.

Không râu

Hoặc Am phàn nàn khi thấy bức tranh vẽ Bồ Đề Đạt Ma rậm râu :

-Sao tên rợ Hồ này lại rậm râu ?

Bồ Đề Đạt Ma, người Ấn Độ mang Thiền đến Trung Quốc vào thế kỷ thứ 6, luôn được hình dung với hình ảnh rậm râu Khi nhắc đến Đạt Ma, chúng ta lập tức có một khái niệm rõ ràng về ông, tương tự như khi nói về Phật Sự từ chối diện mạo của Bồ Đề Đạt Ma giúp chúng ta vượt qua những nhị nguyên giữa hình ảnh rậm râu và không râu, từ đó nhận ra bản chất thật sự của ông.

Mọi vật đều tốt nhất

Một ngày Bàn Sơn đi ngang chợ, ông nghe một người khách nói :

-Bán cho tôi một cân thịt thượng hạng

Người Bán thịt trả lời :

-Ở đây thịt nào cũng là thượng hạng cả

Nghe những câu nói này, Bàn Sơn hoát nhiên giác ngộ

Công án này thể hiện cốt lõi của Thiền, nhấn mạnh giá trị tuyệt đối thay vì tương đối Một bông hoa hồng là đẹp nhất trong loài hoa hồng, và một bông hoa Lily là đẹp nhất trong loài hoa Lily, mỗi loại đều tỏa sáng với vẻ đẹp riêng Mỗi cá nhân cần nỗ lực để thể hiện điều tốt nhất của bản thân trong cuộc sống.

Văn Thù vào cửa

Một ngày, Văn Thù Sư Lợi đứng ở ngoài cửa Đức Phật gọi ông và bảo : -Văn Thù sao ông không vào ?

-Con không thấy mình ở ngoài, sao phải đi vào ?

Trong công án này, câu hỏi quan trọng là "cửa" là gì? Thông thường, cửa là nơi vào hay ra, phân chia giữa bên trong và bên ngoài Tuy nhiên, trong thế giới của Pháp, khái niệm về trong và ngoài không tồn tại Chân lý là một thực tại phổ quát Khi Đức Phật bảo Văn Thù Sư Lợi, biểu trưng cho trí tuệ, vào cửa, Ngài đang xem xét sự hiểu biết của Văn Thù Nhân loại cảm nhận có một cái cửa, nhưng đó là "cửa không cửa", khó vào mặc dù luôn mở Mỗi người phải đi qua cái cửa riêng của mình, giống như sự đa dạng của con người.

Gặp nhau ở đâu sau khi chết

Đạo Ngô đến thăm bạn đồng môn bị ốm là Vân Nham hỏi :

-Tôi sẽ gặp ông ở đâu sau khi ông chết và chỉ để lại cái xác này ?

-Tôi sẽ gặp ông ở nơi không có sống và chết Đạo Ngô chỉ trích câu trả lời của Vân Nham và nói :

-Ông nên nói là không có chỗ nào không sống, không chết và chúng ta cũng chẳng cần gặp nhau

Trong cuộc sống, có những người cùng chia sẻ bữa ăn và giấc ngủ nhưng thực sự không bao giờ gặp nhau Vậy Đạo Ngô và Vân Nham có thực sự gặp nhau không? Có nhiều xác sống di chuyển xung quanh, nhưng sự gặp gỡ chân thật chỉ xảy ra khi chúng ta có sự thấu hiểu lẫn nhau Nếu Đạo Ngô và Vân Nham đã đạt được giác ngộ, thì sự đối thoại tinh tế không còn cần thiết; chỉ cần nắm tay nhau là đủ Huyền Lộ đã thể hiện điều này qua bài kệ về công án.

Cây mận già nở hoa Cành phía Nam có cả mùa Xuân Cành phía Bắc cũng vậy mà.

Một triết gia hỏi Đức Phật

Một vị Bà La Môn hỏi Đức Phật :

Khong hỏi có lời hay không, xin Ngài cho tôi biết chân lý Đức Phật ngồi im lặng, không đáp lại Vị Bà la Môn cúi chào và cảm ơn Đức Phật.

-Cám ơn lòng từ bi của ông đã soi sáng ảo giác của tôi và giúp tôi đạt chân lý

Sau khi vị Bà La Môn đi rồi, Anan hỏi Phật :

-Vì Bà La Môn đạt được gì ?

-Con ngựa hay thấy bóng roi đã chạy

Sự im lặng của Phật mang lại động lực sâu sắc, khiến vị Bà La Môn nhanh chóng nhận ra và bày tỏ lòng biết ơn Tuy nhiên, Anan lại không hiểu được điều này Chân lý thực sự vượt xa những gì có thể diễn đạt bằng lời nói, và chỉ có thể được cảm nhận qua chính trải nghiệm sống.

Phật giáo của Địa Tạng

Một ngày Địa Tạng tiếp một đệ tử của Bảo Phước và hỏi :

-Thầy ông dạy ông thế nào ?

-Thầy tôi dạy tôi nhắm mắt không nhìn những chuyện xấu, bịt tai không nghe những tiếng xấu, tâm ngừng hoạt động và không tạo những ý xấu

Tôi không yêu cầu ông phải nhắm mắt, nhưng ông lại không thấy điều xấu Tôi cũng không bảo ông bịt tai, nhưng ông không nghe thấy âm thanh nào Tôi không yêu cầu tâm trí ông ngưng hoạt động, nhưng ông không tạo ra một ý nghĩ xấu nào.

Mục đích giảng dạy trong Phật giáo là giúp Thiền sinh khám phá ý nghĩa thật sự của cuộc sống, từ đó mang lại bình an, tinh khiết, niềm vui và sự sáng tạo Một vị thầy chân chính sẽ hướng dẫn học trò sát sao, giúp họ nhận thức rằng việc chấp vào những gì thấy, nghe và nghĩ chỉ cản trở sự phát triển tâm linh Bài học căn bản là tránh chấp vào những cảm nhận này, để mở rộng tầm nhìn và hiểu rằng thực tại không có màu sắc hay hình dạng cố định Khi nhìn nhận mọi thứ như chúng là, cuộc sống sẽ trở nên sinh động và luôn tiến triển.

Phía Nam núi

Thạch Sương sống và giảng dạy ở phía Nam núi, trong khi Quán Khê sống và dạy ở phía Bắc Một ngày nọ, một vị tăng từ thiền viện Bắc đã đến thiền viện Nam để hỏi đạo Thạch Sương Thạch Sương đã trả lời vị tăng đó.

Thiền viện phía Nam không có gì nổi bật hơn thiền viện phía Bắc Khi ông tăng không biết cách trả lời, ông đã trở về và thuật lại cho Quán Khê nghe Quán Khê đã đáp lại điều đó.

-Đáng nhẽ ông phải bảo là tôi sắp nhập Niết bàn rồi

Câu nói "Cỏ nhà hàng xóm thì luôn luôn xanh hơn" phản ánh bản chất của sự so sánh trong cuộc sống Nhân vật Thạch Sương khuyên ông tăng rằng thiền viện mà ông vừa rời bỏ vẫn có nhiều điều giá trị để học hỏi Sự không cạnh tranh trong thái độ của Thạch Sương khiến ông tăng bối rối, không biết phải đáp lại như thế nào Trong khi đó, Quán Khê lại phản ứng với lời khen bằng cách tuyên bố rằng mình sắp đạt được Niết bàn.

Cả hai bậc thầy đều cố gắng trỏ cho ông tăng biết chân lý không ở đâu cả, nó ở bên trong.

Thiếu Nữ xuất định

Một ngày, Bồ tát Văn Thù đến tham dự Pháp hội của chư Phật, nhưng khi ông đến, mọi người đã rời đi, chỉ còn lại Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và một cô gái.

Cô gái ngồi ở vị trí danh dự, đắm chìm trong trạng thái thiền định sâu sắc Văn Thù thắc mắc với Phật về cách mà cô gái có thể đạt được mức độ thiền sâu như vậy, trong khi bản thân ông lại chưa thể làm được điều đó.

-Hãy đưa cô ấy ra khỏi định mà hỏi

Văn Thù đã đi quanh cô gái ba vòng và búng ngón tay ba lần, nhưng cô vẫn chìm đắm trong thiền định Ông đã thử mọi phép mầu, thậm chí đưa cô lên chín tầng trời, nhưng cô vẫn không tỉnh Đột nhiên, từ đất Võng Minh, ông chỉ cần búng tay một lần, cô gái liền thoát khỏi trạng thái thiền.

Công án này thể hiện nguyên tắc biểu tượng, trong đó Văn Thù đại diện cho trí tuệ, còn Võng Minh là hình ảnh đối lập Điều thú vị là cô gái trong công án, biểu trưng cho vô ngã, lại không bị lay chuyển bởi Văn Thù, mặc dù cô ấy có thể bị tác động bởi Võng Minh, một kẻ vô tri Mục tiêu của Thiền là vượt qua sự đối đãi và đạt đến trạng thái vô ngã, giống như một chai nước đầy không phát ra tiếng khi lắc Chỉ khi chai nước không đầy, tiếng nước mới vang lên, tương tự như việc ngồi thiền không có tâm trí chấp trước Chân thiền được ví như chai nước đầy, nơi mà cô gái không bị ảnh hưởng bởi trí tuệ của Văn Thù Tuy nhiên, việc chấp vào trí tuệ cũng có thể dẫn đến khổ đau, cho thấy rằng vô chấp chính là con đường dẫn đến sự giác ngộ.

Đại Đạo không khó

Triệu Châu bảo đại chúng :

Đại Đạo không phức tạp, nhưng nó không chấp nhận sự tương đối Nếu có bàn luận, đó chỉ là về sự tương đối và tuyệt đối Lão tăng này không tồn tại trong tuyệt đối, vậy giá trị của nó là gì?

-Nếu thầy không ở trong tuyệt đối làm sao thầy có thể đánh giá nó ? -Tôi cũng chả biết,

-Nếu thầy không biết sao thầy lại nói thầy không ở trong tuyệt đối chứ ? -Câu hỏi của ông có hiệu quả, lễ Bái rồi lui

Mỗi người đều mang trong mình Phật tánh nguyên thuỷ và chân thật, thể hiện sự hướng nội và vẻ đẹp riêng Mọi thứ xung quanh, từ hoa hồng đến cây cối, đều tồn tại đúng như bản chất của chúng Không có điều gì là sai lầm; Đại Đạo không khó khăn, nhưng không chấp nhận sự tương đối So sánh giữa tốt và xấu, đẹp và xấu, cao và thấp chỉ tạo ra những khó khăn Ngay cả khi chúng ta bàn về tương đối và tuyệt đối, chúng ta vẫn chưa đạt tới trạng thái tuyệt đối Việc giả định về sự khó khăn là cần thiết, nhưng Đại Đạo lại tự nhiên và không cần phải tạo ra.

Con rùa trong vườn

Một ông tăng trông thấy một con rùa trong vườn của tu viện Đại Tuỳ hỏi :

Mọi súc vật đều được bảo vệ bởi thịt và da, nhưng có một con vật lại dùng xương để che chắn cho mình Đại Tuỳ đã dùng dép của mình để che con rùa, thể hiện sự phân biệt giữa xương, thịt, và da, cũng như giữa tâm và thân Tuy nhiên, những sự phân biệt này chỉ dẫn đến tranh luận mà không phản ánh đúng bản chất của cuộc sống Cuộc đời là một thực thể hữu cơ và sinh động, và hành động của Đại Tuỳ nhằm chỉ ra rằng sự hiểu biết về thực tại không thể tách rời khỏi thế giới hiện tượng xung quanh.

Thiền viện

Một ngày kia, Bảo Phước bảo đồ đệ :

Khi rời thiền viện, nếu đi ra phía sau, bạn sẽ gặp ông Trương và ông Lý, nhưng nếu đi ra phía trước, bạn sẽ không gặp ai Vậy, câu hỏi đặt ra là tại sao lại có sự khác biệt này và con đường nào là lựa chọn tốt hơn?

Một ông tăng trả lời :

-Có cái gì sai lầm với cái nhìn, nhìn mà chả được gì

Thiền sư quở ông tăng :

-Đồ ngu, thiền viện luôn như vậy

-Nếu không thấy thiền viện thì phải thấy một cái gì chứ ?

-Tôi đang nói về thiền viện chứ không nói về cái khác

Thiền viện là biểu tượng của thực tại thế giới, với thế giới hiện tượng ở phía sau và cốt tuỷ của Pháp ở phía trước Khi chúng ta bước ra sau thiền viện, sẽ gặp gỡ ông Trương, ông Lý, sông núi, nhưng khi nhìn về phía trước, không có gì nổi bật Ông tăng cho rằng việc chỉ nhìn bề ngoài không mang lại lợi ích, phản ánh quan điểm của nhiều người hiện nay rằng họ chỉ tin khi thấy Tuy nhiên, thiền viện vẫn giữ nguyên bản chất của nó, không thay đổi, và Phật giáo không phân biệt giữa được và mất.

Nụ sen và lá sen

Một ông tăng hỏi Trí Môn :

-Búp sen chưa ra khỏi nước thì thế nào ?

-Khi ra khỏi nước thì thế nào ?

Trí Môn, thuộc dòng thiền Vân Môn, mang đến những khái niệm khó hiểu cho những người mới bắt đầu học thiền, khác với các dòng thiền khác Ông tăng trong công án này đã đạt trình độ cao, đặt ra câu hỏi về mối liên hệ giữa sự tuyệt đối và hiện tượng Công án này có thể được diễn đạt qua câu hỏi: "Tôi là ai trước khi sinh ra?" và "Trước khi thế giới và vũ trụ xuất hiện thì là gì?" Câu trả lời của Trí Môn giúp chúng ta nhận thức những gì đã thấy Từ góc độ tuyệt đối, búp sen dưới nước vẫn là búp sen, và khi ra khỏi nước, nó trở thành lá sen, cho thấy dù có tên gọi khác nhau, nước đá, nước và hơi nước vẫn chỉ là một Tương tự, con người, dù là da trắng, da màu hay da đỏ, đều là người; nếu chấp vào một hiện tượng đặc biệt, chúng ta sẽ bỏ qua hiện tượng phổ quát.

Sự tỉnh thức

Cửa thiên đàng

Một vị tướng quân đến hỏi Bạch Ẩn, một vị thiền sư trứ danh :

-Có thiên đàng, có địa ngục không ?

-Ông mà là một vị kiếm khách ư ? Phủ chủ nào mướn ông ? Trông ông như một gã ăn mày

Vị kiếm khách nổi giận và rút kiếm ra

-Ồ ông còn có kiếm nữa, nhưng kiếm ông quá cùn để chặt đầu tôi

Vị kiếm khách vỗ kiếm

-Cửa địa ngục đã mở rồi đấy

Nhe lời này vị kiếm khách tra gươm vào vỏ và vái lạy

-Cửa thiên đàng đã mở rồi

Thiên đàng và địa ngục có trong đời sống thường ngày.

Thoại Nham gọi chủ

Thoại Nham tự gọi mình mỗi ngày :

-Đừng để người khác lừa dối

Gọi chủ bên trong không chỉ nhằm mục đích nội soi mà còn để hiểu động cơ tâm lý và đánh giá hành vi tốt hay xấu Thoại Nham nhấn mạnh rằng gọi chủ là để nhận diện cái đại ngã, không phải cái ngã luân lý Ông đã đề cập đến chân ngã ngay cả trước khi được sinh ra.

Lời khuyên của Tông Nguyên

Đại Huệ là một đại thiền sư nổi tiếng thời Tống ở Trung Quốc, có một đệ tử tên Đạo Khiêm Mặc dù đã học thiền nhiều năm, Đạo Khiêm không thấy tiến bộ Một ngày, thiền sư giao cho Đạo Khiêm nhiệm vụ đưa thư đến một nơi xa, khiến ông phải mất nửa năm trời để hoàn thành Đạo Khiêm cảm thấy thất vọng vì việc này làm chậm lại quá trình nghiên cứu thiền của mình Tông Nguyên, một người bạn đồng hành của Đạo Khiêm, cảm thông và an ủi ông.

-Tôi sẽ đi với ông và giúp ông làm mọi việc mà tôi có thể để ông có thể thiền trong khi di chuyển

Do đó hai người lên đường một chiều kia Tông Nguyên buồn rầu bảo Đạo Khiêm :

-Ông biết không, tôi sẵn sàng giúp ông làm mọi việc nhưng có năm việc tôi không làm được

-Đó là những chuyện gì ?

Khi ông đói hay khát, ông cần tự mình đáp ứng nhu cầu ăn uống của bản thân, vì tôi không thể làm điều đó cho ông Ông cũng phải tự mình đi tiêu và tiểu, tôi không thể can thiệp vào những việc đó Trong những lúc di chuyển, ông cũng phải tự mình đi lại.

Với những nhận xét này, tâm hồn Đạo Khiêm đã được mở rộng Ông không biết làm sao để diễn tả sự vui mừng Tông Nguyên bảo ông :

-Công việc của tôi đã xong, ông không cần sự đồng hành của tôi nữa

Nói rồi bỏ đi Khi Đạo Khiêm hoàn tất việc đưa thư và trở về tu viện, thiền sư Đại Huệ đã thấy ngay rằng ông đã giác ngộ

Giáo lý thiền nhấn mạnh việc nhận thức mọi vật như chính bản chất của chúng Đạo Khiêm đã dành nhiều năm tìm kiếm bí mật của thiền, nhưng chỉ khi nghe lời khuyên từ Tông Nguyên, ông mới khám phá ra chân lý Chân lý thiền hiện diện khắp nơi trong cuộc sống hàng ngày, và khi chúng ta trải nghiệm nó, một thế giới mới sẽ được mở ra.

Đạp đổ tịnh bình

Bách Trượng quyết định cử một vị tăng trụ trì cho thiền viện mới và thông báo với đồ đệ rằng ai có thể đưa ra câu trả lời đúng sẽ được chỉ định Để kiểm tra, ông đặt một tịnh bình trên mặt đất và đặt câu hỏi.

-Không gọi nó là tịnh bình thì gọi nó là gì ?

-Không thể gọi nó là khúc gỗ

Quy Sơn không nói, đạp đổ tịnh bình

-Thủ toạ thua mất ngọn núi rồi

Thủ toạ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc không chỉ dựa vào lý trí để giải quyết vấn đề, mà cần phải kết hợp cả tính nết con người Quy Sơn cho rằng việc dùng trí huệ để trả lời câu hỏi của cuộc đời là một cách tiếp cận sai lầm Thay vào đó, câu hỏi cần được trả lời bằng sự thấu hiểu và phẩm hạnh của mỗi cá nhân.

Khuôn mặt xưa nay

Huệ Năng, lục tổ của Thiền tông, đã được ngũ tổ truyền y Bát Để tránh sự ghen tỵ từ các ông tăng, ông đã rời tu viện vào ban đêm, mang theo y Bát Một số ông tăng, trong đó có Huệ Minh, người cao lớn và khoẻ mạnh, đã đuổi theo ông với ý định cướp lại y Bát Nhận thấy Huệ Minh đến gần, Huệ Năng đã ngồi xuống một tảng đá để nghỉ ngơi và đặt y Bát bên cạnh Khi Huệ Minh xuất hiện, Huệ Năng đã lên tiếng.

-Những y Bát này tượng trưng cho chân lý Nếu ông muốn thì cứ việc lấy mang đi

Nhưng khi Huệ Minh nhấc lên thì chúng nặng như núi Run rẩy, xấu hổ Huệ Minh nói :

-Tôi đến đây vì giáo pháp chứ không phải vì y Bát

-Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, lúc đó cái gì là khuôn mặt xưa nay của Minh thượng toạ ?

Nghe lời nói này toàn thân Huệ Minh toát mồ hôi : ông đã giác ngộ Rất biết ơn ông nói :

-Ông đã ban cho tôi bí mật và ý nghĩa của giáo pháp, còn pháp nào bí mật nào nữa không ?

-Những gì tôi nói với ông chẳng có gì là bí mật cả Khi ông thể hiện chân ngã thì bí mật thuộc về ông

Khuôn mặt chỉ là hình ảnh bên ngoài trước khi sinh, và Huệ Năng đã nỗ lực chỉ ra cho Huệ Minh về thế giới tuyệt đối Trong thế giới tương đối, chúng ta thường chấp vào những khái niệm như đẹp xấu, đúng sai, yêu ghét, và các đối lập khác Khuôn mặt xưa nay phản ánh thế giới trước khi bị chia cắt Chân ngã thực sự là vô ngã, và thiền giúp chúng ta hướng nội Khi buông bỏ cái ngã bên ngoài, chúng ta sẽ khám phá được chân ngã của chính mình.

Cây gậy của Vân Môn

Một hôm Vân Môn bảo đồ đệ :

-Cây gậy của tôi biến thành một con rồng nuốt cả vũ trụ, sơn, hà, đại địa ở đâu ?

Công án nhấn mạnh tầm quan trọng của sự nhất tâm và sức mạnh của sự chú ý Vân Môn giơ gậy lên cao, thu hút sự chú ý của các đồ đệ như nắm giữ một con rồng sống Tất cả đều tập trung vào cây gậy, thể hiện rằng sự chú ý có thể nuốt trọn cả vũ trụ Khi làm bất kỳ việc gì, chúng ta cần dồn hết sức lực và sống mỗi ngày như thể đó là một ngày duy nhất trong vũ trụ.

Văn hoá hướng nội

Đại Từ bảo đại chúng :

Nên tập trung vào việc đào sâu kiến thức trong một lĩnh vực cụ thể thay vì mở rộng ra nhiều lĩnh vực mà không có chiều sâu Văn hóa hướng nội, dù chỉ một tấc, vẫn có giá trị hơn việc giảng dạy mà không có sự hiểu biết sâu sắc Như Động Sơn đã nói, điều này giúp cân bằng và làm rõ hơn quan điểm.

-Tôi giảng dạy cái gì tôi không thực hành Tôi thực hành cái gì tôi không giảng dạy

Một chủng tử tốt có giá trị hơn 100 lời nói đẹp, vì trong cuộc sống, lời nói thường nhiều hơn hành động Đại Từ nhấn mạnh rằng hành động quan trọng hơn lời nói Động Sơn cũng cho rằng cả nói và làm đều có giá trị riêng, không thể so sánh Tuy nhiên, cả hai thiền sư đều đồng ý rằng cần phải nhìn vào bên trong để tìm ra giá trị thực sự.

Vô Vị chân nhân

Lâm Tế bảo đại chúng :

-Trong máu thịt của các ông có một Vô Vị chân nhân, thường ra vào nơi cửa mặt, ai không chứng, hãy khám phá ngay giây phút này

Có một ông tăng đứng dậy thưa :

-Ai là Vô Vị chân nhân ?

Lâm Tế bước xuống toà giảng, nắm áo ông tăng, kêu lên :

-Nói, nói ! Ông tăng im, Lâm Tế tát ông và nói :

-Vô Vị chân nhân này không tốt gì cả

Vô Vị chân nhân, không có hình dạng và màu sắc, sống giữa thịt và máu, tạo nên sự mâu thuẫn Với bản chất vô hình, Vô Vị chân nhân có khả năng đến và đi khắp nơi Tuy nhiên, Lâm Tế chỉ ra rằng sự ra vào của Vô Vị chân nhân thông qua mắt, tai, mũi, lưỡi và thân thể chúng ta lại là một mâu thuẫn sâu sắc hơn Khi một vị tăng hỏi về danh tính của Vô Vị chân nhân, Lâm Tế đã đưa ra câu trả lời.

-Tôi tưởng đây là một Vô Vị chân nhân thật, nhưng vị này vừa chấp trước, vừa ảo tưởng

Vì từ bi Lâm Tế đã cố gắng đánh thức các ông tăng đang mơ ngủ.

Lỗ Tổ quay mặt vào vách

Khi có ông tăng hoặc cư sĩ nào đến tham học, Lỗ Tổ đều xoay mặt vào vách Bạn đồng môn là Nam Tuyền chỉ trích phương pháp này :

Trước khi Đức Phật ra đời, tôi khuyên chư tăng hãy tự đặt mình vào bối cảnh đó Tuy nhiên, không nhiều người thực sự hiểu được ý nghĩa sâu sắc của thiền Họ chỉ biết thực hành bằng cách quay mặt vào vách tường mà không nắm bắt được bản chất của thiền định.

Lỗ Tổ chả mang lợi ích gì

Truyền thông luôn là một vấn đề quan trọng trong đời sống, ảnh hưởng đến cả thương mại lẫn thiền Có hai loại truyền thông: một là truyền đạt thông tin cụ thể (ví dụ: "Tôi sẽ đến vào 10 giờ sáng mai"), và hai là truyền đạt cảm giác Nam Tuyền đã chỉ trích phương pháp của Lỗ Tổ, cho rằng chỉ một số ít đồ đệ hiểu được chân lý khi ông giảng Điều này cho thấy phương pháp của Lỗ Tổ không hiệu quả Hơn nữa, con người ngày càng trở nên lười suy nghĩ và ít sáng tạo, khiến cho phương pháp này càng trở nên kém giá trị.

Lỗ Tổ có thể mang lại lợi ích lớn hơn cho thiền sinh Khi đến tham học, thiền sư thường quay mặt vào vách, buộc đệ tử phải ngồi im lặng Điều này tạo cơ hội cho họ thực hành thiền ngay tại chỗ, giúp họ nội quan và tự làm sáng tỏ tâm trí mình mà không cần phụ thuộc vào những lời giải thích bên ngoài.

Hoàng Bá và những kẻ ăn hèm

Hoàng Bá bảo đại chúng :

Hỡi những kẻ ăn hèm, nếu tôi cũng tham học như các ông để tìm kiếm thiền, liệu tôi sẽ ra sao? Các ông không nhận ra rằng nơi này cũng có những thiền sư sao?

Một ông tăng bước ra trước và nói :

-Chắc chắn có nhiều hướng dẫn đồ chúng thì sao ?

-Tôi không nói không thiền, chỉ là không có thiền sư

Hoàng Bá, đệ tử của Bách Trượng và thầy của Lâm Tế, là một thiền sư vĩ đại, nhấn mạnh rằng việc tìm kiếm thiền không chỉ là di chuyển từ tu viện này sang tu viện khác Ông cảnh báo rằng những người không thực sự tìm kiếm chân lý sẽ không bao giờ tìm thấy thiền Theo ông, không có thầy vì thực chất của thiền không thể dạy, mà cần phải khám phá bên trong chính mình Khi nhận ra thiền ở trong tâm hồn, chúng ta sẽ sống thiền và có nhiều thầy xung quanh.

Bánh xe của Hề Trọng

Nguyệt Am bảo đại chúng :

Hề Trọng, một người thợ làm xe ở nước Tần, đã chế tạo ra bánh xe với 50 nan Nếu bỏ vành bánh xe, thì bánh xe sẽ không còn nguyên vẹn Liệu Hề Trọng có còn được coi là người sáng tạo ra xe nếu ông ta thực hiện điều này?

Bánh xe chỉ có giá trị khi được giữ nguyên vẹn với vành và trục; nếu thiếu đi bất kỳ bộ phận nào, nó không còn là bánh xe nữa Tương tự, một chiếc xe không thể tồn tại nếu thiếu bánh xe, trục, thân và càng Cũng như một ngôi nhà cần có mái, tường, cửa sổ và cửa ra vào để hoàn thiện; nếu tách rời bất kỳ phần nào, nó sẽ mất đi giá trị Việc phân tích và phán đoán có thể dẫn đến việc làm mất đi cái toàn thể, và mổ xẻ các thành phần thực chất chỉ là một hình thức tiêu hủy Cuộc sống không chỉ đơn thuần là sự tập hợp của các phần tử rời rạc.

Ba cửa của Đâu Suất

Đâu Suất Duật dựng 3 cửa để chất vấn người học :

-Vạch cỏ tham huyền chỉ mong thấy tánh Ngay chính lúc này tánh ông ở đâu ?

Thấy được tánh thì mới thoát vòng sinh tử, khi ông nhắm mắt làm sao thoát ?

Thoát vòng sanh tử thì biết được chỗ về Khi tứ đại phân ly ông sẽ về đâu ?

Công án thiền đặt ra những câu hỏi cốt lõi về bản chất của con người, như "Bản chất thật của tôi là gì?" và "Làm thế nào để tôi được giải thoát?" Những câu hỏi này không chỉ liên quan đến thiền mà còn là những vấn đề căn bản trong cuộc sống Để có một cuộc sống ý nghĩa, bình yên và hạnh phúc, chúng ta cần tìm ra câu trả lời cho những thắc mắc này Thiền không tách rời khỏi thực tiễn hàng ngày; nó hướng dẫn chúng ta sống thông qua việc khám phá cái chân ngã và hiểu rõ về bản thân: "Tôi là ai?".

Quy Sơn gọi hai ông tăng

Quy Sơn gọi Viện chủ, khi ông tới, Quy Sơn nói :

-Tôi gọi Viện chủ, không phải ông

Viện chủ không biết nói gì

Quy Sơn sau đó gọi Thủ toạ, khi ông này tới, Quy Sơn nói :

-Tôi gọi Thủ toạ, không phải ông

Thủ toạ cũng không trả lời được

Thiền sư luôn thể hiện lòng từ bi, ngay cả khi đang nghiêm khắc với đồ đệ, vẫn nỗ lực giúp họ tiến bộ Khi Viện chủ và Thủ tọa hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, họ sẽ trả lời câu hỏi với sự tự tin và kiêu hãnh.

-Thầy không biết tôi là Viện chủ sao ?

Rất tiếc họ không nói gì cả Thật đáng thương , họ chỉ làm công việc.

Tượng Phật Quán Thế Âm

Một lần, dân chúng Đại Hàn nhờ một nhà điêu khắc Trung Hoa tạc một pho tượng Quán Thế Âm Khi bức tượng hoàn tất và được đưa đến hải cảng để vận chuyển về Đại Hàn, nó bỗng nhiên trở nên nặng một cách lạ thường, khiến người dân không thể di chuyển được Sau khi thảo luận, dân Đại Hàn và dân Tầu quyết định để pho tượng lại đất Tầu Ngay sau đó, trọng lượng của pho tượng trở lại bình thường và được thờ tại một ngôi chùa ở Minh Châu Một người đã đến chiêm nghiệm bức tượng và bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình.

-Trong kinh nói Bồ tát Quán Thế Âm có huyền năng có thể xuất hiện ở bất cứ nơi nào, sao pho tượng này lại không chịu đi Đại Hàn ?

Bồ tát Quán Thế Âm biểu trưng cho lòng từ bi vô hạn, không chỉ hiện diện ở Trung Hoa, Đại Hàn hay Hiệp Chủng Quốc, mà có thể tìm thấy ở bất kỳ đâu nếu tâm từ bi của con người được mở rộng Những ai tìm kiếm Quán Thế Âm chỉ ở Trung Hoa sẽ trở về tay không.

Ba gậy

Động Sơn đến tham học, Vân Môn hỏi :

-Chùa Báo Từ ở Hồ Nam

-Rời chỗ đó lúc nào ?

Hôm sau Động Sơn thưa :

-Đội ơn hoà thượng tha 3 gậy, nhưng không biết con sai chỗ nào ?

-Đồ giá áo túi cơm, Giang Tây, Hồ Nam đi đâu mà chẳng được Động Sơn do đó mà đại ngộ

Lần đầu gặp gỡ giữa Động Sơn và thầy Vân Môn diễn ra với những câu trả lời ngây thơ và vô tội của Động Sơn, khiến anh không nhận ra sai lầm của mình Ngày hôm sau, khi Động Sơn thắc mắc về chuyện này, Vân Môn đã đáp lại một cách mỉa mai: "Đồ ngu, đồ vô dụng, chỉ làm mất thì giờ."

Động Sơn chỉ đưa ra những câu trả lời máy móc, thiếu sự tỉnh thức, đáng bị chỉ trích Truyền thuyết kể rằng, sau ba ngày sinh, sư tử mẹ đã đẩy các con nhỏ từ một tảng đá, chỉ nuôi dưỡng những con sư tử con khỏe mạnh Cuộc sống mang đến những bài học khắc nghiệt, và để học hỏi, chúng ta cần phải tỉnh thức.

Ba lần gọi của quốc sư Huệ Trung

Có một ngày quốc sư Huệ Trung gọi thị giả từ sau bình phong :

Thị giả nghe thầy gọi bèn từ phòng ngủ đến phòng thầy

-Dạ thưa thầy, có con đây !

Nhưng thầy không phản ứng, ông nài nì :

Im lặng Nghĩ mình đã lầm, ông trở về phòng

Một lúc sau, Huệ Trung lại gọi :

Thị giả đứng ngoài bình phong thưa :

-Có con đây, con có thể làm gì cho thầy ?

Im lặng, nghi hoặc và bối rối, ông trở về phòng Khi chưa về tới nơi, thiền sư đã gọi lần thứ ba, với giọng to hơn các lần trước Thị giả thưa

-Thầy đã gọi 3 lần rồi, con có đây

Sau một lúc im lặng, thiền sư nói :

Ông đã tu với tôi một thời gian dài nhưng vẫn chưa ngộ ra điều gì Tôi từng nghĩ đó là lỗi của mình vì cảm thấy xấu hổ khi làm thầy mà không hiệu quả Tuy nhiên, giờ đây tôi nhận ra rằng không hoàn toàn là lỗi của tôi Thay vì tôi phải xin lỗi ông, có lẽ ông mới là người nên xin lỗi tôi.

Một số nhà chú giải khen ngợi việc thị giả trả lời ba lần một cách không máy móc, trong khi những người khác cho rằng thiền sư quá nhiệt tình với sự giác ngộ của đệ tử Khi đã hoàn thành lời nói và hành động, thiền trở thành sự tỉnh thức Việc thầy gọi tên thị giả ba lần không phải để sai bảo, mà để nhấn mạnh ý nghĩa của sự tỉnh thức Thiền sư có thể chỉ dẫn con đường đến sự tỉnh thức, nhưng chỉ có đệ tử mới có khả năng học hỏi Đừng im lặng như hến.

Ngưỡng Sơn chào hỏi

Cuối kỳ Hạ, Ngưỡng Sơn đến gặp thầy Quy Sơn hỏi :

-Cả Kỳ Hạ, tôi không thấy ông, ông làm gì ?

-Con làm ruộng và gặt được một thùng kê

-Vậy ông không uổng phí mùa Kết Hạ

-Mỗi ngày tôi ăn một bữa vào chính ngọ và ngủ vài giờ sau nửa đêm -Vậy thầy đã không uổng phí mùa Kết Hạ

Ngưỡng Sơn nói rồi thè lưỡi ra Quy Sơn nhận xét :

Mỗi thiền viện có ba tháng hè gọi là mùa Kết Hạ, trong thời gian này, chư tăng thực hành thiền và làm việc, thể hiện lối sống thiền Cuối kỳ Hạ, thiền sinh sẽ gặp thầy để kiểm tra sự hiểu biết của mình Khi Ngưỡng Sơn gặp thầy, ông tự hào về những nỗ lực của bản thân và muốn biết thầy có làm việc không, nhưng sự tự tin của ông đã trở thành vô lễ Quy Sơn, với tư cách là một thầy hiền từ, không giận mà còn khuyên Ngưỡng Sơn nên tự trọng.

Triệu Châu khám phá bà lão

Một du tăng hỏi đường bà lão đường đến Thái Sơn, nơi một tự viện phổ thông truyền Bá trí huệ cho những người thờ phượng

Khi ông tăng đi được vài bước lại nghe bà lão lẩm bẩm :

-Cũng chỉ là một ông tăng đi chùa

Vài người kể lại chuyện này cho Triệu Châu, Triệu Châu nói :

-Chờ tôi đi khám phá bà lão

Ngày hôm sau,ông cũng đi và hỏi cùng câu hỏi, bà lão cũng cho cùng câu trả lời Triệu Châu đưa ra nhận xét :

-Tôi đã khám phá bà lão

Tu viện ở núi Thái Sơn rất nổi tiếng và được nhiều khách hành hương viếng thăm Ở dưới chân núi có một quán trà do một bà lão trông coi

Bà lão này rất thiền và quan sát các ông tăng đi qua Khi thiền sư Triệu

Châu đến quán trà của bà, ăn mặc như một ông tăng và hỏi đường tới Thái Sơn Bà lão đáp lại giống như các ông tăng khác, nhưng sau khi ông đi vài bước, bà nhận ra ông cũng là một ông tăng đi chùa Cuộc đối thoại diễn ra giống như những lần trước, nhưng lần này Triệu Châu lại khám phá bà lão Mục đích của công án này là tìm hiểu bạn ở đâu, khi Triệu Châu nhắc lại hành động của các ông tăng khác nhưng vẫn theo con đường riêng của mình.

Một ông tăng bị chối bỏ

Một ông tăng lại gần Tuyết Phong và lạy Tuyết Phong đánh ông 5 gậy Ông tăng hỏi :

Tuyết Phong đánh thêm 5 gậy nữa và hét đuổi đi

Giáo huấn của thiền không dùng sách vở, vượt lên lời nói, lấy tâm truyền tâm Thiền cũng dùng gậy và hét như công án và vấn đáp Lâm

Tế nổi tiếng với tiếng hét, trong khi Đức Sơn được biết đến với việc đánh bằng gậy Khi ông tăng đến chào Tuyết Phong, ông đã tỏ lòng kính trọng nhưng lại bị đánh 5 gậy, khiến ông ngạc nhiên và thắc mắc Kết quả là ông nhận thêm 5 gậy và một tiếng hét, cho thấy rằng chào hỏi từ người giác ngộ mang ý nghĩa sâu sắc Tuy nhiên, ông tăng này, giống như nhiều người khác, chỉ thực hành nghi thức một cách hời hợt Số lần bị đánh không có ý nghĩa thực sự; 5 gậy đầu nhẹ nhàng, nhưng 5 gậy sau lại sâu sắc hơn, cùng với tiếng hét nhằm nhắc nhở ông nhanh chóng thức tỉnh.

Cao Đình đánh một ông tăng

Một học đồ của Giáp Sơn đến tham Cao Đình, vái lạy Cao Đình đánh ông Ông tăng hỏi :

-Con đến tham học và kính thầy một vái, sao thầy lại đánh con ?

Cao Đình lại đánh ông và đuổi ông ra khỏi thiền viện Ông tăng trở về thiền viện và thuật lại cho Giáp sơn nghe

-May là ông không hiểu, nếu không tôi đã câm miệng hến

Trong truyền thống thiền, khi đến thăm, người ta thường vái lạy một nhân vật nổi tiếng, và ông tăng đã thực hiện điều này với Cao Đình Thiền sư sử dụng một cây gậy nhỏ, gọi là pháp trần, không chỉ để gãi lưng mà còn để đánh thức các ông tăng Khi ông tăng thắc mắc về hành động đánh của Cao Đình, ông đã bị đuổi ra khỏi thiền viện Hành động của Cao Đình nhằm mục đích giúp ông tăng nhận thức về thực tại bên trong mình, nhưng ông đã lãng phí thời gian vào việc vái lạy người khác Giáp Sơn đã kết luận bài học mà Cao Đình khởi xướng, nhưng ông tăng vẫn chưa đạt được giác ngộ.

Làm sao thấy Phật tánh

Một ông tăng hỏi Tuyết Phong :

Một vị La Hán nhận thức Phật tánh như ánh trăng rằm trong đêm, trong khi một vị Bồ tát cảm nhận Phật tánh như ánh mặt trời giữa ban ngày Khi được hỏi về điều này, thiền sư Tuyết Phong đã đánh ông ba gậy để trả lời Tiếp theo, ông tăng đã đến hỏi Nham Đầu và nhận được ba cái tát từ ngài.

La Hán chỉ tự độ, trong khi Bồ Tát không chỉ tự độ mà còn giúp đỡ người khác Nhân vật trong công án này chỉ hỏi người khác mà không thực hành để nhận ra Phật tánh của chính mình Do đó, cần phải có sự đánh thức để ông nhận ra điều này.

Giải quyết vấn đề của một ông tăng

Sau buổi thượng đường, một ông tăng gặp Dược Sơn và thưa :

-Con có một vấn đề, xin thầy giải giùm

-Được rồi tôi sẽ giải quyết cho ông vào buổi giảng chiều

Khi mọi người tụ tập ở giảng đường chiều hôm đó, Dược Sơn nói :

-Sáng nay ông tăng bảo tôi có vấn đề hãy bước ra trước, ngay bây giờ Khi ông tăng bước ra, Thiền sư nắm chặt lấy ông và nói :

-Chư tăng nhìn đây ! Ông tăng này có vấn đề !

Nói rồi đẩy ông tăng sang một bên và đi về phòng

Cuộc sống là hành trình thực tế, và thiền là phần thiết yếu trong đó Những vấn đề cần giải quyết ngay lập tức không thể chờ đợi, giống như việc không thể chờ đợi khi đang bị dìm dưới nước Buổi giảng chiều của Dược Sơn thực sự mang đến những trải nghiệm sâu sắc và ý nghĩa.

Thiền bản

Long Nha hỏi Thiền sư Thuý Vi :

-Tại sao Bồ Đề Đạt Ma tới Trung Hoa ?

-Đưa thiền bản cho tôi

Không bao lâu Long Nha đưa thiền bản cho Thuý Vi Thuý Vi đánh vào đầu ông

-Đánh thì cứ đánh, nhưng thầy chưa trả lời câu hỏi của con

Sau đó Long Nha đi tới Lâm Tế và đặt cùng câu hỏi

-Đưa bồ đoàn cho tôi

Long Nha đưa bồ đoàn cho Lâm Tế, và Lâm Tế đánh ông với bồ đoàn

Long Nha là một ông tăng trẻ đầy nhiệt huyết muốn tìm kiếm sự giác ngộ Khi không nhận được câu trả lời từ Thuý Vi, ông đã đến Lâm Tế với cùng một câu hỏi Dù không ai trong số họ trực tiếp đề cập đến nhau, cách trả lời của Long Nha lại giống hệt nhau Điều này cho thấy hai vị thiền sư đều khuyến khích việc thiền định khi đối diện với những thách thức Tuy nhiên, Long Nha đã mang trong mình định kiến và khao khát một câu trả lời cụ thể Thực tế là không có câu trả lời nào có sẵn để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống; mỗi người cần tự mình tìm ra câu trả lời cho riêng mình.

Bóp mũi

Một ngày kia, Bách Trượng đến thăm Mã Tổ, có một đám vịt trời bay qua Mã Tổ hỏi :

Mã Tổ bỗng bóp mũi Bách Trượng, ông đau quá kêu lên Mã Tổ nói : -Ông nói chúng bay đi rồi, nhưng tôi thấy chúng vẫn ở đây

Bách Trượng ngay đó giác ngộ

Hàng ngày, chúng ta thường chỉ nhìn thấy những điều giả tạo mà không nhận ra thực chất của cuộc sống Bách Trượng chỉ thấy những con vịt trời bay đi, có thể là để tìm kiếm thức ăn hoặc tránh cái lạnh miền Bắc Ông không bày tỏ cảm xúc hay hiểu biết về cuộc đời Mã Tổ nhận thấy sự nông cạn của Bách Trượng, và thay vì chỉ bảo "Hãy tỉnh thức", ông đã bóp mũi Bách Trượng Giác ngộ thực sự là khám phá bản chất cuộc sống và sự liên kết giữa cuộc đời với mọi vật xung quanh.

Ba giới không pháp

Bàn Sơn bảo đồ đệ :

-Ba giới không pháp, cầu tâm ở đâu ?

Ba giới trong Phật giáo bao gồm dục giới, sắc giới và vô sắc giới, phản ánh sự tồn tại của mọi vật và hiện tượng trong vũ trụ Khái niệm "không pháp" thể hiện rằng pháp có mặt ở khắp nơi, và mọi sự đều mang tính pháp lý Ngay cả những điều tưởng chừng như vô nghĩa cũng có thể dẫn dắt tâm hồn chúng ta đến giác ngộ, miễn là chúng ta thành thực và có kỷ luật trong việc tìm kiếm chân lý, như tiếng dế kêu hay tiếng suối reo.

Hoa Dược lan

Một ông tăng hỏi Vân Môn :

-Thế nào là pháp thân ? (không dạng, không thời, không không)

-Đó là những gì con cần biết sao ?

-Nếu thế còn chưa đủ thì con phải thấy sư tử lông vàng

Công án của Vân Môn vừa đẹp vừa khó hiểu, thể hiện sự sâu sắc trong triết lý Khi được hỏi về thực tại tuyệt đối, Vân Môn chỉ chỉ vào hoa Dược lan gần đó, cho thấy rằng câu trả lời không nhất thiết phải liên quan trực tiếp đến câu hỏi Điều này chứng tỏ rằng lời nói đôi khi chỉ là hình thức, không phản ánh nội dung thực sự Khi Huyền Sa được đặt cùng câu hỏi, ông cũng đưa ra những câu trả lời mang tính chất tương tự.

-Tôi như thấy tượng Phật vàng trong đống rác

Pháp thân là tất cả mọi vật, bất kỳ thứ gì khi được nhìn nhận qua con mắt của sự thật Tuy nhiên, nếu một người không có khả năng nhìn nhận sự thật một cách đơn giản, thì tốt nhất họ nên tham khảo hình ảnh của sư tử lông vàng trong truyền thuyết Trung Hoa.

Kho Báu nhà ông

Đại Chân Huệ Hải đến tham Mã Tổ

-Trong nhà ông có kho Báu, sao tìm kiếm bên ngoài ?

-Kho Báu của con ở đâu ?

-Cái mà ông hỏi, chính là kho Báu nhà ông Đại Chân nghe rồi đại ngộ

Trong thế giới vật chất, việc tìm kiếm hạnh phúc và tự do là điều tự nhiên, tương tự như việc theo đuổi tiền tài và danh vọng, tất cả đều là những giá trị bên ngoài Tuy nhiên, thiền dạy chúng ta rằng hạnh phúc thực sự nằm ở việc khám phá bên trong bản thân, nơi mà Phật tánh luôn mới mẻ, sống động và vô hạn.

Tánh khí

Một thiền sinh phàn nàn với Bàn Khê :

-Bạch thầy, tánh khí của con thật bất trị, làm sao chữa được ?

-Thế thì lạ thật, hãy đưa ta coi !

-Bây giờ con không trình ra được

-Nó đến đi bất chợt

Bản chất của một người không phải là điều có thể được chỉ ra hay chứng minh bất cứ lúc nào Khi một người được sinh ra, họ không mang theo bản chất đó, vì vậy nó không thể là phần cốt lõi của họ.

Trong thiền, có một quan niệm rằng những gì đến từ bên ngoài không phải là bản chất thật của chúng ta Khi chúng ta biết cách buông bỏ những yếu tố bên ngoài, chúng ta có khả năng tự thanh tịnh và tìm thấy sự bình an trong tâm hồn.

Kiếm vị của Vũ Tạng

Liễu sinh Hựu Thụ Lang, con trai của một kiếm khách nổi tiếng, đã không thể học được kiếm thuật từ cha mình Để cải thiện kỹ năng, ông đã tìm đến Nhị Hoàng Sơn để bái kiến kiếm khách Võ Tạng, người cũng đồng tình với nhận xét của cha ông về khả năng của Liễu sinh.

-Ông muốn học kiếm thuật với tôi sao ? Nhưng ông không thoả mãn được những yêu cầu của tôi

-Nếu con cố gắng học tập, phải bao lâu mới trở thành một kiếm khách ? -Cả đời còn lại của ông

Con không thể chờ đợi lâu hơn nữa Chỉ cần thầy sẵn lòng dạy dỗ, con sẽ quyết tâm đạt được mục tiêu Nếu con trở thành một người hầu trung thành của thầy, thì thời gian để đạt được điều đó sẽ mất bao lâu?

-Cha con tuổi đã cao, không bao lâu con phải trông nom người, nếu con càng cố gắng hơn nữa thì phải bao lâu ?

-Sao vậy ? Mới đầu thầy nói 10 năm , bây giờ lại nói 30 năm Con không ngại cực khổ, chỉ muốn nhanh chóng học kiếm nghệ

-Nếu vậy thì phải 70 năm, dục tốc bất đạt

Liễu sinh Hựu Thọ nhận ra rằng sự thiếu kiên nhẫn đã cản trở quá trình học kiếm thuật của mình Dưới sự chỉ dạy của thầy, ông chỉ được giao những công việc như thổi cơm, rửa bát và quét sân, trong khi việc học kiếm vẫn chưa được đề cập Sau ba năm chăm chỉ lao động, ông cảm thấy buồn bã vì chưa bắt đầu hành trình học kiếm Tuy nhiên, mọi thứ đã thay đổi khi Võ Tạng bất ngờ tấn công ông bằng kiếm gỗ, khiến ông phải luôn cảnh giác Từ đó, ông không ngừng rèn luyện, trở thành một kiếm khách lừng danh, không ngại đối mặt với thử thách mỗi ngày.

Công án này nhấn mạnh rằng con đường thiền học đòi hỏi quyết tâm, kỷ luật, tỉnh thức, tự tin, trung thành và tôn trọng thầy Liễu sinh Hựu Thọ Lang đại diện cho tâm lý của người hiện đại, thường mong muốn đạt được kết quả nhanh chóng Trong thiền học, phương tiện chính là cứu cánh.

Đối nhất thuyết

Một ông du tăng hỏi Vân Môn :

-Thích Ca Mâu Ni dạy gì trong đời Ngài ?

Thích Ca Mâu Ni đã dạy trong suốt 45 năm và những giáo lý của Ngài được ghi chép trong 5040 bộ Kinh Mặc dù các giáo lý này rất phong phú, nhưng chúng được giảng dạy một cách riêng biệt cho từng người và từng hoàn cảnh Hiểu một giáo lý sẽ giúp ta hiểu được các giáo lý khác Ví dụ, có một vị tướng trên đường ra trận đã ghé thăm Phật để tìm kiếm sự chỉ dẫn.

Con đang trên đường ra trận và không có thời gian để học hỏi, vì vậy con xin Đức Thế Tôn tóm tắt giáo lý cả đời của Ngài Đức Phật đã đáp lại yêu cầu của con.

Thân bầy gió vàng

Một ông tăng hỏi Vân Môn :

-Khi cây héo, lá rụng thì sao ?

Dòng thiền Vân Môn mang ý nghĩa sâu xa và khó hiểu do cách biểu lộ gián tiếp, thường liên hệ giữa hai miền đất để chỉ ra chân lý của cuộc đời Khi tuổi già đến, sắc đẹp và sức trẻ đều phai mòn, dù chúng ta có cố gắng che giấu tuổi tác đi chăng nữa Sự cô độc và cuối đời gần kề là điều không thể tránh khỏi, và mỗi người đều cần phải nhận thức rõ điều này Hãy tỉnh thức và đừng giả vờ, vì gió thu đang thổi và lá rơi, thân bầy gió vàng, báo hiệu sự thay đổi không thể đảo ngược của cuộc đời.

Vô Chấp

Không phải gió, không phải cờ

Hai ông tăng đang bàn cãi về lá cờ Một ông nói :

-Cờ động Ông kia nói :

Lục tổ nhân đi qua đó nói :

-Không phải cờ động, gió động mà tâm động

Hai ông tăng đều chấp vào ngoại vật như cờ và gió, trong khi Lục tổ phủ nhận ngoại vật và khẳng định rằng tâm mới là động Tuy nhiên, Lục tổ cũng nhận thức rằng việc chấp vào tâm cũng là một sai lầm Ông chỉ ra rằng chân lý là hoàn toàn, vô chấp và bất kỳ khái niệm nào cũng không thể đại diện cho thực tại Thiền sư dạy chúng ta nhìn sự vật như chính nó, không qua sự phân tích hay khái niệm hóa.

Phật là gì

Lục Hằng hỏi Đạo Thông :

Mọi người thường đặt câu hỏi về bản chất của Phật, điều này hoàn toàn tự nhiên Tuy nhiên, việc hiểu Phật không chỉ dựa vào lời giải thích mà còn cần trải nghiệm thực tế Lục Hằng đã từng hỏi nhiều thiền sư về vấn đề này, nhưng câu trả lời của thiền sư Đạo Thông lại đơn giản và chân thật Phật là một người đã sống, và việc chấp vào những khái niệm hay lời nói chỉ như việc cầm nắm một chuỗi hạt mà chúng sẽ lăn đi.

Người cho phải cám ơn

Thành Chuyết khi trụ trì ở chùa Viên Giác, có một vị phú thương quyên

500 lạng vàng để xây một khu tự viện Vị phú thương này mang vàng trao tận tay cho thiền sư Thành Chuyết nói :

Vị phú thương bất mãn, ông ám thị :

-Trong túi này là 500 lạng vàng

-Thì chủ đã nói tôi biết rồi !

-Mặc dù con giầu có, nhưng 500 lạng vàng cũng là một số tiền lớn ! -Thí chủ muốn tôi cám ơn sao ?

-Thầy nghĩ không đáng sao ?

-Tại sao tôi phải cám ơn chứ ? Thí chủ mới chính là người phải cám ơn

Bố thí là hạnh đầu tiên trong Lục độ, mang ý nghĩa sâu sắc khi không mong đợi báo đáp hay cám ơn Hiện nay, việc tặng cúng thường xuất phát từ nghĩa vụ hoặc cảm xúc thương hại, ít khi xuất phát từ niềm hoan hỷ chân thành Sự tặng cúng mà mong chờ sự cám ơn thực ra không cao quý bằng lòng biết ơn của người cho Đức Phật đã dạy rằng việc khất thực hàng ngày giúp các tăng sĩ rèn luyện sự khiêm tốn và khuyến khích mọi người thực hành hạnh bố thí.

Câu nói của Thủ Sơn

Một lần, một ông tăng hỏi Thủ Sơn :

-Có câu nào không đúng không sai không ?

Ông Tăng muốn Thủ Sơn thể hiện cốt tuỷ của Phật giáo qua hình ảnh một đám mây trắng, biểu trưng cho thế giới vô chấp, vượt lên khái niệm đúng sai Đám mây bay lượn tự nhiên và thanh khiết, di chuyển từ nơi này đến nơi khác, phản ánh sự tự do và vô tư, đến và đi một cách tự nhiên.

Không thể trộm mặt trăng

Một buổi chiều, một tên trộm bò vào lều trên núi của Lương Khoan, nhưng chẳng có gì để trộm Lương Khoan trở về và bắt gặp

-Ông từ xa đến, không thể về tay không Hãy lấy quần áo của tôi, coi như đồ tặng

Tên trộm ngơ ngác mang quần áo đi Lương Khoan mình trần ngồi ngắm trăng và nói :

-Thật là một gã đáng thương, ước gì tôi có thể cho gã mặt trăng đẹp này

Lương Khoan là một thiền sư nổi tiếng ở Nhật Bản, sống giản dị và tốt bụng, không quan tâm đến vật chất hay thế sự Ông có tình yêu đặc biệt dành cho trẻ em và tin rằng không có sự xấu xa hay giận dữ trong cuộc sống Một câu chuyện truyền tụng cho biết, khi một mụn măng mọc dưới sàn lều của ông, ông đã khoét một lỗ để cây có thể phát triển, và khi cây tre chạm đến nóc lều, ông lại tiếp tục khoét thêm một lỗ nữa.

Tâm là Phật

Đại Mai hỏi Mã Tổ :

-Chính tâm này là Phật

Câu trả lời cho câu hỏi này có thể rất đa dạng, nhưng điều quan trọng là không chỉ chấp nhận lời nói mà cần hiểu rõ ý nghĩa sâu xa của nó Mọi người thường có hình ảnh về Phật là một thực thể hoàn hảo, cao quý và thánh thiện Tuy nhiên, Phật không phải là một vị Thượng đế tách biệt khỏi cuộc sống thường nhật Phật tánh vốn thanh tịnh nhưng cũng hiện diện trong mọi vật, kể cả những thứ ô uế và tầm thường.

Tâm không phải

-Tâm không phải là Phật, trí không phải là Đạo

Nam Tuyền, đệ tử của Mã Tổ, đã tiếp thu triết lý "Tức tâm tức Phật" từ thầy mình Câu hỏi "Phật là gì?" thường được đặt ra, nhưng việc khái niệm hóa Phật mà không có trải nghiệm sống thực sự là điều đáng tiếc trong Thiền học Để phá bỏ sự chấp trước này, Nam Tuyền khẳng định rằng "Tâm không phải là Phật, trí không phải là Đạo."

Thanh thoát cô bần

Một ông tăng tên là Thanh Thoát hỏi Tào Sơn :

-Thanh Thoát lẻ loi, và nghèo khó xin thầy cứu giúp

-Ông đã uống 3 chén rượu Thanh Nguyên rồi, còn nói chưa ướt môi

Nghèo khó là lý tưởng của thiền sinh, mang lại sự tự do tuyệt đối khi không sở hữu gì, không nương tựa vào ai và không có chỗ ở Thanh Thoát, khi nói về sự cô độc và nghèo khó, thể hiện rằng ông đang sống trong thiền Thiền sư Tào Sơn hiểu rõ Thanh Thoát, nhận ra ông đã giác ngộ nhưng vẫn còn chấp vào cái bóng của sự giác ngộ đó Tào Sơn đã giúp Thanh Thoát giải thoát bằng cách tháo gỡ lớp mặt nạ giả dối và phá bỏ những chấp trước của ông.

Đạp đổ chậu nước

Trong một lần, ba ông tăng Tuyết Phong, Khâm Sơn và Nham Đầu đang ở trong vườn thiền viện, Tuyết Phong nhìn thấy một chậu nước và chỉ vào đó Khâm Sơn đã đáp lại điều gì đó liên quan đến chậu nước.

-Nước chẳng trong, trăng chẳng hiện

Nham Đầu không nói gì và đã đạp đổ chậu nước, tạo ra một công án Khâm Sơn chỉ ra rằng nước trong chậu phản chiếu ánh trăng, nhưng Tuyết Phong lại phủ nhận điều này, cho rằng nó không đúng để diễn tả thực tại Mỗi người đều có quan điểm riêng, nhưng nếu chấp trước vào ý kiến của mình, sẽ dẫn đến rắc rối Vì vậy, Nham Đầu đã đạp đổ chậu nước, chấm dứt cuộc tranh luận và những chấp trước không cần thiết.

Que cứt khô

Một ông tăng hỏi Vân Môn :

Mọi thiền sinh đều nỗ lực để đạt được sự giác ngộ và trở thành Phật, coi Ngài là lý tưởng hoàn hảo, trong sạch và đáng kính Họ cố gắng vượt qua cái xấu, cái chết, và những ràng buộc của cuộc sống thường nhật Tuy nhiên, Vân Môn đã dùng hình ảnh của que cứt khô để phá vỡ khái niệm về Phật, nhấn mạnh rằng Phật không phải là Thượng đế mà là người đã giác ngộ về cái ngã và sống trọn vẹn với bản ngã đó.

Một vị Phật

Vân Thăng và Thản Sơn là hai thiền sư nổi tiếng tại Đông Kinh trong thời kỳ Minh Trị Một ngày, Vân Thăng đã đến thăm Thản Sơn, người đã chia sẻ những kiến thức quý báu về thiền học.

-Chào đạo huynh Ông làm một chén không ?

-Tôi không bao giờ uống rượu

-Người không biết uống rượu thì không phải là người

-Nếu tôi không phải là người thì tôi là ai ?

Vân Thăng là một ông tăng nghiêm khắc, tuân thủ chặt chẽ các giới cấm, bao gồm cả giới tửu, để trở thành một ông tăng thực thụ Ngược lại, Thản Sơn, một vị thiền sư linh động, giảng dạy triết học tại đại học Đông Kinh, thường giúp đỡ và giải quyết các vấn đề thế tục khi cần thiết Sự khác biệt trong quan điểm giữa hai ông tăng này thể hiện cách tiếp cận đa dạng trong việc thực hành và giảng dạy triết lý sống.

Cà sa chùm đầu

Một ông tăng vào phòng Triệu Châu để tham vấn và thấy Triệu Châu lấy cà sa trùm đầu Ông tăng vội lui ra Triệu Châu gọi lại :

-Đừng nói tôi không tiếp ông

Khi thiền sinh vào phòng thầy để nhận sự tiếp dẫn, gọi là độc tham, đây là một sự đụng độ gây cấn thường đi kèm với hy vọng, sợ hãi hay tuyệt vọng Trong công án, ông tăng ngạc nhiên khi thấy thầy mình trùm đầu, tự hỏi liệu thầy có bị lạnh hay đang ngủ Bị chấp vào sự mong chờ của mình, ông tăng đã thối lui Tuy nhiên, Triệu Châu không hề ngủ; giống như một ngọn núi bị che bởi mây, nhưng vẫn tồn tại vững vàng dù có bị che khuất hay không.

Chén trà đầy rồi

Một vị giáo sư từ Đại học Đông Kinh đã tham gia khóa thiền với thiền sư Nam Ẩn trong nhiều tuần liền Vào một buổi sáng, khi thiền sư rót trà cho ông, ông đã đổ đầy chén trà nhưng vẫn tiếp tục rót thêm Cuối cùng, vị giáo sư không thể kiềm chế được nữa và đã kêu lên.

-Thưa thầy, chén đã đầy rồi !

Tâm trí của chúng ta giống như một chén trà đầy, chứa đựng nhiều ý kiến và giả định, khiến không còn chỗ cho những điều mới mẻ Đôi khi, sự thông thái có thể trở thành rào cản đối với sự giác ngộ Để có thể học thiền, chúng ta cần phải làm trống rỗng tâm hồn của mình.

Bài giảng của La Sơn

Mân Vương đã xây dựng một tự viện dành cho thiền sư La Sơn và mời ông thực hiện một buổi thuyết pháp vào ngày khánh thành Khi lên giảng đàn, thiền sư đã khoác áo cà sa, sau đó cởi ra và phát biểu.

Nói rồi xuống toà giảng Mân Vương lại gần ông và nói :

-Bài giảng bữa nay của thầy cũng giống bài giảng của Đức Thế Tôn ở núi Linh Thứu

-Tôi tưởng ngài không biết gì về giáo lý, không ngờ ngài cũng biết chút ít về thiền

Bài giảng nổi tiếng nhất của Đức Phật diễn ra tại núi Linh Thứu, được biết đến qua sự tích niêm hoa vi tiếu, thể hiện sự truyền tâm ấn và khởi đầu của Thiền Mân Vương đã so sánh bài giảng của La Sơn với bài giảng của Đức Phật, nhưng thiền sư nhận ra rằng những người tìm kiếm chân lý chân thành nhất luôn đến với tâm không Việc hiểu biết một chút về thiền còn tệ hơn là không biết gì cả.

Giấc mộng của Tống Thái Tông

Tống Thái Tông một đêm nằm mộng thấy một vị thần khuyên ông nên nỗ lực để giác ngộ Sáng hôm sau, nhà vua triệu tập các vị tăng chính và hỏi: "Trẫm phải làm sao để được giác ngộ?"

Các vị tăng chính không trả lời

Tống Thái Tông khao khát giác ngộ, điều này thể hiện qua giấc mộng của ông Ông nhận ra rằng giác ngộ không phải là điều có thể tìm kiếm bên ngoài Câu hỏi của vua cho thấy ông vẫn đang trong quá trình suy nghĩ và đối đãi về vấn đề này Các vị tăng nhận thấy rằng câu hỏi của ông cần phải được bác bỏ.

Nam Tuyền Bác bỏ tu sĩ và cư sĩ

Một ông tăng trẻ đến gặp Nam Tuyền nhưng không vái chào như thường lệ Nam Tuyền phê bình :

-Ông quá cư sĩ Ông tăng bèn chắp 2 tay lại vái chào, Nam Tuyền bảo :

-Ông quá tu sĩ ! Ông tăng không biết sau đó phải làm sao Một vị thiền sư khác nghe được chuyện này bảo :

-Nếu tôi là ông tăng đó, tôi sẽ buông thõng hai tay và lui ra

Những người trẻ thường có xu hướng phá phách, và các thiền sinh trẻ ngày xưa cũng không phải là ngoại lệ Một thiền sinh trẻ đã thử thách thầy của mình bằng cách chào hỏi một cách bất thường, với suy nghĩ rằng mình có thể làm bất cứ điều gì mà không bị ràng buộc bởi quy tắc Tuy nhiên, sự tự do thực sự khác với sự tự do mà ông ta nghĩ mình có Con người từ thuở ban đầu đã vốn dĩ tự do, nhưng chính những chấp trước đã khiến họ bị trói buộc.

Khi một người không bám víu vào bất kỳ điều gì, họ sẽ không bị ràng buộc Lúc này, các quy luật sẽ không còn ảnh hưởng đến họ Việc đến và đi, cúi chào hay lùi lại đều không khác biệt đối với người thực sự tự do.

Tên mít đặc

Một lần, khi gặp một ông tăng lạ đi trên đường Mục Châu gọi :

-Thượng toạ ! Ông tăng ngoảnh đầu lại Mục Châu bảo :

Rồi bước đi Sự kiện này được vài ông tăng ghi lại Về sau một ông tăng nói :

-Mục Châu sai, ông tăng chẳng ngoảnh đầu lại là gì ? Sao gọi ông là mít đặc ?

Về sau nữa một ông tăng khác nói về lời phê bình này :

-Ông tăng điên đó đã sai Ông tăng trong chuyện đã chả ngoảnh đầu lại là gì ? Sao không gọi ông là mít đặc chứ ?

Mít đặc là hình ảnh tượng trưng cho việc chỉ nhìn một khía cạnh của sự vật Trong tiếng Trung, người ta dùng từ này để chỉ những người không có khả năng nhìn nhận toàn diện, ví dụ như một người chỉ nhìn thấy một bên của con đường khi vác tấm bảng trên vai Mục Châu cho rằng một người tự động cảm ứng với âm thanh lạ là mít đặc, trong khi ông tăng I lại cho rằng không phản ứng ngay lập tức cũng là mít đặc Điều này dẫn đến sự tranh cãi giữa Mục Châu và ông tăng II, người phê bình quan điểm của ông tăng I Thực tế, những khái niệm như tốt xấu, đúng sai, trẻ già, sống chết hay Đông Tây không phải là đối lập mà là bổ sung cho nhau Việc chỉ chấp vào một bên mà bỏ qua bên kia là biểu hiện của sự mít đặc.

Bế gái qua suối

Thản Sơn và đồ đệ đi qua một làng và đến một suối lớn sau trận mưa Tại bờ suối, họ gặp một thiếu nữ xinh đẹp, gặp khó khăn vì cầu nhỏ đã bị cuốn trôi Nhận thấy tình huống của cô, Thản Sơn đã giúp bế cô qua suối Sau đó, ông và đồ đệ tiếp tục hành trình, nhưng suốt buổi trưa, đồ đệ không ngừng suy nghĩ về hành động của thầy mình, đặc biệt là về ngũ giới cấm gần nữ sắc Cuối cùng, vào buổi chiều, anh không thể kiềm chế nữa và đã hỏi thầy về điều này.

-Sao thầy lại bế cô gái vậy ?

-Tôi đã đặt cô gái xuống bờ bên kia suối, sao ông còn bế cô ấy theo vậy

Chấp trước là việc gắn bó với một đồ vật, sự vật hoặc ý tưởng và hành động theo đó Thiền khuyên chúng ta nên sống vô chấp Ví dụ, Thản Sơn chỉ giúp cô gái qua suối mà không có sự chấp trước, trong khi đồ đệ của ông lại bị cuốn vào tình cảm với cô, mặc dù ông không hề chạm vào cô.

Cây gậy của Ba Tiêu

Ba Tiêu bảo đại chúng :

-Nếu các ông có một cây gậy, tôi sẽ cho ông gậy; nếu các ông không có gậy, tôi sẽ lấy gậy đi

Gậy có nguồn gốc từ Ấn Độ, được sử dụng bởi các ông tăng để đuổi rắn và thú dữ, cũng như để kiểm tra độ sâu của nước khi qua suối Gậy không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn là biểu tượng cho sự hướng dẫn và bảo vệ Người văn minh cần có một cây gậy để vượt qua những khó khăn trong cuộc sống Công án giúp thiền sinh tìm ra ý nghĩa sâu sắc, dẫn dắt họ đến việc nắm bắt cây gậy thật sự trong hành trình tu tập.

Phật đá

Lục Hằng bạch với Nam Tuyền :

-Trong nhà con có một tảng đá để đứng hoặc nằm, con định tạc tượng Phật có được không ?

-Con làm được thật sao ?

-Không ! Ông không làm được

Tảng đá chính là Lục hằng Ông hỏi Nam Tuyền mình có thể thành Phật không ? Nam Tuyền lập tức trả lời được Nhưng Lục hằng còn nghi ngờ

Vì vậy Nam Tuyền trả lời là không được Thiền không suy luận mà hành động.

Trước thời Đức Phật

Một hôm Nam Tuyền chậm vào phòng ăn Hoàng Bá đệ tử của ông bèn ngồi vào chỗ của thầy Nam Tuyền nói :

-Chỗ này dành cho người lớn tuổi nhất thiền viện, còn ông bao nhiêu tuổi ?

-Tuổi con đi ngược lại thời trước Đức Phật

-Vậy ông là cháu tôi, mau lui xuống !

Hoàng Bá trả chỗ, nhưng vẫn ngồi bên cạnh thầy

Công án này minh chứng rằng trong thiền viện, các tăng ni thường xuyên thử thách lẫn nhau để mài dũa trí huệ Nam Tuyền không hỏi tuổi thật của Hoàng Bá mà là trình độ tu tập của ông Hoàng Bá chỉ trả lời rằng thời không là tuyệt đối, nhấn mạnh rằng thiền là sự vượt lên mọi đối đãi, đạt được sự độc lập và tự do.

Hoa mẫu đơn

La Hán cùng hai sư huynh là Trường Khánh và Bảo Phước đi xem hoa mẫu đơn được vẽ trên một tấm bình phong Bảo Phước phê bình :

-Đừng quá tin vào thị giác của ông

-Bậy quá ! Làm hỏng cả bức hoạ !

Bảo Phước chấp nhận bức hoạ, trong khi Trường Khánh lại từ chối sự chấp nhận, dẫn đến sự chỉ trích từ La Hán Ba vị thiền sư tranh luận về việc hoa mẫu đơn là thật hay chỉ là hoa vẽ Nếu Bảo Phước tập trung vào thị giác, Trường Khánh chú ý đến thính giác, thì La Hán lại xem xét cuộc biện luận này Cuối cùng, chúng ta cần biết cách nở rộ và cũng biết im lặng.

Đại ý của Phật pháp

Một ông tăng hỏi Huyền Sa :

-Khi các vị cổ đức dạy pháp không lời bằng cách giơ thiền trượng lên có phải là họ diễn tả đại ý của Phật pháp ?

-Vậy họ diễn tả cái gì ?

Huyền Sa giơ cây thiền trượng lên Ông tăng hỏi :

-Đại ý của Phật pháp là gì ?

-Đợi tới khi ông giác ngộ !

Phật pháp luôn mang đến những đại ý sâu sắc, nhưng việc diễn tả chúng lại vô cùng khó khăn Giảng dạy chỉ có thể chỉ ra chân lý, còn mỗi người phải tự mình trải nghiệm và nhận thức Tuy nhiên, đa số chúng ta thường sa vào chấp trước vào khái niệm và tiên kiến, thay vì nhìn sự vật như chính bản thân chúng Điều này được minh họa qua công án về vị tăng chấp rằng việc giơ thiền trượng lên có thể diễn tả đại ý của Phật pháp, nhưng Huyền Sa đã phủ định quan điểm này.

Đốn cây

Tuyết Phong vào rừng đốn củi với đồ đệ Trường Sinh

-Đừng ngừng cho tới khi rìu của ông chặt tới lõi

-Cổ đức truyền tới tâm, còn ông thì sao ?

Trường Sinh ném rìu xuống đất :

Tuyết Phong giơ gậy lên và đánh gã đồ đệ

Thiền sinh không chỉ học thiền trong lúc thiền định hay nghe giảng, mà còn trong các công việc hàng ngày Tuyết Phong nhấn mạnh rằng tâm là điểm trung tâm của thiền Khi Trường Sinh thừa nhận đã "chặt," Tuyết Phong chuyển sang hỏi liệu đồ đệ có nhận được tâm ấn hay không Trường Sinh vẫn cần sự cảnh báo từ Tuyết Phong vì ông còn bám víu vào việc truyền tâm ấn Nếu ông có thể từ bỏ sự truyền tâm như đã vứt bỏ cái rìu, thì tâm phải được chặt bằng chính tâm Do đó, Tuyết Phong đã đánh đồ đệ để nhấn mạnh ý nghĩa này.

Thổi tắt nến

Đức Sơn, một học giả nổi tiếng về kinh Kim Cương, đã quyết định hành trình vào miền Nam để thử thách bản thân với thiền Ông mang theo bên mình cuốn Kim Cương sớ sao Khi đến một quán trà, ông gọi một tách trà và bánh, và bà lão chủ quán đã hỏi ông về mục đích của chuyến đi này.

-Ông mang gì trên lưng thế ?

-Kinh Kim Cương sớ sao do tôi sáng tác

Kinh Kim Cương nói: “Tâm quá khứ đã qua, tâm hiện tại không thể nắm và tâm tương lai thì không thể được.” Đức Sơn không thể trả lời câu hỏi của bà về điểm tâm, nên ông đã hỏi xem có vị thiền sư nào gần đó không Bà chỉ ông đến Long Đàm, nơi Đức Sơn đã tham vấn và đặt nhiều câu hỏi cho đến khuya Cuối cùng, Long Đàm nhắc nhở: “Trời đã khuya rồi, sao ông không lui?”

Đức Sơn nghe thấy tiếng gọi và vái lạy trước khi mở cửa bước ra ngoài, nơi bầu trời tối đen như mực Để giúp Đức Sơn tìm đường, Long Đàm đã đốt cho ông một cây nến Tuy nhiên, khi Đức Sơn nhận cây nến, Long Đàm bất ngờ thổi tắt nó, khiến tâm hồn Đức Sơn bỗng chốc trở nên rộng mở.

-Từ nay con sẽ không còn nghi ngờ lời nói của các vị thiền sư nữa

Và hôm sau ông đốt sớ sao kinh Kim Cương

Công án này so sánh trí huệ học vấn với trí huệ giác ngộ bên trong, nhấn mạnh rằng trí huệ học vấn là sự hiểu biết bên ngoài, trong khi trí huệ giác ngộ là cá nhân, độc nhất và sáng tạo Đức Sơn, một học giả của kinh Kim Cương, đã tìm kiếm ánh sáng từ ngọn nến của Long Đàm nhưng lại bị thổi tắt, cho thấy rằng chúng ta cần phát triển ánh sáng bên trong để soi đường cho chính mình, điều mà không ai có thể lấy đi hay thổi tắt.

Trời xanh cũng phải ăn gậy

Một ông tăng hỏi Thọ Chiểu :

-Khi vạn dậm không mây thì sao ?

-Trời xanh cũng phải ăn gậy

Khi chúng ta mong chờ trời mưa nhưng lại không có, hoặc khi cần một ngày đẹp trời thì thời tiết lại xấu, điều đó phản ánh sự chấp trước vào trạng thái tâm Ông tăng đã đạt được sự trong sáng như bầu trời không mây, nhưng thiền sư lại nhấn mạnh việc đánh thức chân lý bằng cách không chấp vào bất kỳ điều gì, từ tăng, sư, Phật đến vũ trụ Việc chấp vào trời đẹp hay xấu chỉ tạo ra những vấn đề không cần thiết.

Con chồn của Bách Trượng

Mỗi lần Bách Trượng thuyết pháp, luôn có một cụ già theo các sư vào pháp đường để nghe giảng Một hôm, khi mọi người đã rời đi, chỉ còn lại cụ già, Bách Trượng liền hỏi cụ là ai.

-Lão không phải là người ta, lúc tôn giả Ca Diếp còn tại thế lão là phương trượng ở chính núi này Có một đồ đệ hỏi lão :

-Người giác ngộ có chịu luật nhân quả không ?

Lão trả lời không, vì câu trả lời đó lão bị biến thành chồn, luân hồi đã

500 kiếp rồi, bây giờ xin thầy chỉ điểm, để lão thoát thân chồn này

-Ông lão muốn hỏi gì ? Ông cụ lập lại câu hỏi của đồ đệ

-Chẳng lầm nhân quả Ông cụ liền giác ngộ, vái lạy Bách Trượng và nói :

-Tôi đã không phải là chồn nữa rồi, nhưng tôi bỏ xác sau núi, làm ơn làm đám táng cho tôi như một ông tăng

Ngày hôm sau Bách Trượng sửa soạn làm đám táng cho một ông tăng -Thầy định làm gì ? Không có ông tăng nào trong bệnh xá cả

Sau bữa cơm chiều, Bách Trượng dẫn các tăng chúng ra sau núi, nơi ông phát hiện một xác chồn trong hang Ông tiến hành lễ hoả táng và chia sẻ câu chuyện về một cụ già cho mọi người nghe.

Một đồ đệ của ông là Hoàng Bá hỏi :

-Nếu một thiền sư trả lời sai, ông bị 500 kiếp làm chồn, bây giờ nếu câu hỏi nào ông cũng trả lời đúng thì sao ?

-Ông lại gần đây tôi bảo cho

Hoàng Bá lại gần Bách Trượng và cho thầy một bạt tai Bách Trượng vỗ tay cười chấp nhận

Công án này chỉ ra lỗ hổng trong sự chấp trước thông qua đối thoại về nghiệp Một vị thiền sư đã khẳng định rằng người giác ngộ không chịu luân hồi, nhưng ông đã bị trói buộc 500 kiếp do chấp vào sự tự do tuyệt đối Khi hỏi Bách Trượng, ông nhận được câu trả lời rằng người giác ngộ và nghiệp là một, từ đó ông được giải thoát Sự chấp vào điều tuyệt đối có thể trở thành xiềng xích, và nếu chấp vào nó, sẽ dẫn đến sai lầm.

Triệu Châu khám phá hai am chủ

Triệu Châu đến thăm một am chủ hỏi :

Am chủ giơ nắm đấm lên Triệu Châu nói :

-Nước cạn chẳng phải chỗ neo thuyền

Lại đến một am chủ khác hỏi :

Am chủ cũng giơ nắm đấm lên Triệu Châu nói :

-Có thể nắm có thể buông, có thể giết, có thể cứu

Hai ông tăng thực hiện một cử động, nhưng Triệu Châu nhận ra sự khác biệt giữa hai người Công án này tương tự như công án cây gậy của Ba Tiêu, cho thấy rằng chỉ khi vượt qua hình thức và cử chỉ, ta mới có thể hiểu được bản chất của sự vật Sự tồn tại của hai mặt: có và không, đây và đó, yêu mà không chiếm hữu, đói thì ăn, mệt thì nghỉ, đều phản ánh sự sâu sắc trong triết lý sống.

Hai ông tăng vén rèm

Pháp Nhãn trước khi giảng pháp nhận thấy bức rèm tre đã bị hạ xuống và không được cuốn lên để thiền Ông chỉ vào rèm, và hai vị tăng không nói một lời mà cùng cuốn rèm lên Quan sát hành động của họ, Pháp Nhãn nhấn mạnh với đại chúng: "Một được, một mất!"

Công án Pháp Nhãn thể hiện sự khác biệt giữa hai ông tăng: một người giác ngộ và một người chưa giác ngộ, mặc dù cả hai đều thực hiện cùng một hành động Điều này cho thấy sự tương đồng và sự tuyệt đối trong nhận thức Giống như nước và cốc thủy tinh, cả hai đều trong suốt và nhìn giống nhau, nhưng bản chất của chúng hoàn toàn khác biệt.

Mặt khác có lẽ Pháp Nhãn muốn thử sự hiểu biết của đồ đệ Đừng tin vào cái gì mà thầy nói thế Có thể thầy cũng lầm.

Ngưỡng Sơn vẽ một vạch

Quy Sơn bảo Ngưỡng Sơn :

-Tôi và ông cả ngày nói chuyện thiền mà có được gì ?

Ngưỡng Sơn vẽ một vạch trong không trung, và Quy Sơn nhận xét rằng ông may mắn vì đã thương lượng với Ngưỡng Sơn, trong khi người khác đã bị lừa dối Quy Sơn đang thử thách Ngưỡng Sơn; nếu Ngưỡng Sơn không đưa ra được câu trả lời, cả hai sẽ lãng phí thời gian, nhưng nếu có câu trả lời thì lại rơi vào chấp trước Ngưỡng Sơn đã khéo léo tránh được cạm bẫy này bằng cách vẽ vạch trong không, thể hiện thực tại mà không để lại dấu vết Mọi sự vật trong thế giới đều đến rồi đi, nhưng những thiền sinh thiếu kinh nghiệm có thể nhầm lẫn ngón tay với mặt trăng.

Cử động của một ông tăng

Một nhân viên thư viện thấy một ông tăng ngồi thiền trong thư viện rất lâu Cuối cùng người ấy hỏi ông tăng :

-Sao thầy không đọc kinh ?

-Sao thầy không hỏi người nào biết ? Ông tăng đứng dậy, chắp hai tay vào ngực theo tư thế thiền, cúi thấp người xuống và lễ phép hỏi :

Nhân viên thư viện không trả lời được

Nhân viên thư viện thường cho rằng thư viện chỉ là nơi để đọc sách, không phải để thiền Tuy nhiên, cuộc sống phức tạp hơn nhiều Đức Phật đã dành 6 năm để tìm kiếm giác ngộ, trong khi Triệu Châu cũng mất 6 năm để khám phá ý nghĩa của chữ Vô Những câu hỏi sâu sắc không thể được trả lời một cách đơn giản Một vị tăng đã thực hiện một động thiền và đặt câu hỏi về những điều chân thật.

Nhân viên thư viện không trả lời được vì ông ta không hiểu, Phật giáo không nhất thiết ở trong kinh điển.

Cây gậy lớn của Cảnh Thanh

Cảnh Thanh hỏi một ông tăng mới đến từ đâu Ông tăng trả lời :

-Tôi sẽ đánh ông 30 gậy lớn

-Vì ông hết đi từ thiền viện này tới thiền viện khác

Ông tăng có thể chỉ đang đi dạo để ngắm cảnh, nhưng cũng có thể ông đang tìm kiếm một vị thầy tốt Một vị thầy giỏi sẽ nhận ra bản chất của thiền sinh Kỷ luật thiền rất nghiêm ngặt, yêu cầu bỏ qua mọi chấp trước và không cho phép sự tự do tưởng tượng về cái ngã.

Am cỏ của Nam Tuyền

Một hôm, trong lúc Nam Tuyền sống trong am cỏ trên núi, ông tăng lạ ghé thăm Khi đó, Nam Tuyền đang bận ra đồng làm việc và đã chào hỏi ông tăng.

-Xin cứ tự nhiên như ở nhà Nấu nướng tuỳ thích, đồ ăn dư xin đem đến chỗ tôi làm việc

Nam Tuyền làm việc chăm chỉ suốt buổi chiều và trở về am với cái bụng đói meo Ông tăng đã nấu cơm, nhưng sau khi ăn xong, ông đã vứt bỏ mọi thực phẩm dự trữ và đập vỡ nồi niêu Khi Nam Tuyền thấy ông nằm bình thản trong am trống, anh mệt mỏi ngả người xuống bên cạnh Ông chỗi dậy và rời đi Nhiều năm sau, Nam Tuyền đã kể lại câu chuyện này cho mọi người nghe.

-Thật là một ông tăng tốt, đến nay tôi vẫn còn nhớ

Thiền sư Nam Tuyền sống một cuộc đời giản dị, yên tĩnh và tự do, thể hiện qua việc ông ở trong một am cỏ trên núi Khi một ông tăng đến thử thách ông, Nam Tuyền nhận ra rằng ngay cả tự do cũng có thể trở thành ràng buộc nếu ta không hiểu đúng về nó Ông tăng này sống một cách mộc mạc, không cầu kỳ hay giả dối, và đã phá vỡ mọi giới hạn của những khái niệm như thiền, niết bàn hay nghèo khổ Nam Tuyền thấu hiểu bản chất của thế giới không chấp trước và luôn ghi nhớ bài học từ ông tăng lạ đó.

Đệ tam toà nói pháp

Ngưỡng Sơn mơ về cung trời Đâu Suất của Phật Di Lặc, nhưng đến nơi thì chỉ còn hàng thứ ba, chỗ ngồi danh dự cao nhất gần Đức Phật tương lai, còn trống Ông quyết định ngồi xuống đó và lắng nghe một vị tôn túc đang giảng.

-Hôm nay, người ngồi ở hàng thứ 3 nói pháp Ngưỡng Sơn đứng dậy, dộng gậy xuống mà rằng :

-Nghe cho kỹ ! Nghe cho kỹ ! Giáo pháp của Đại thừa là Ly tứ cú, tuyệt Bách phi

Các triết gia và nhà thần học thường xuyên thảo luận về chân lý, nhưng giáo pháp chân thật của Đại thừa nhấn mạnh rằng Vô chấp vượt lên trên lời nói và suy nghĩ Đời sống không chỉ là một khái niệm mà là một thực thể hiện hữu trong khoảnh khắc hiện tại Giáo lý Đại thừa mà Ngưỡng Sơn giảng dạy tập trung vào việc trải nghiệm thực tại này suốt cuộc đời.

Vô nghiệp

Quốc sư Vô Nghiệp nói :

-Nếu một người còn thích thánh, ghét phàm, thì dù sự chấp này nhỏ như một sợi chỉ nó cũng đủ mạnh để kéo hắn vào nẻo súc sanh

Quốc sư, người thầy của vua, được ban tên Vô Nghiệp, nghĩa là không còn nghiệp, tượng trưng cho sự tự do thực sự Nghiệp là điều trói buộc con người, và để thoát khỏi nó, ta cần hòa làm một với nghiệp Vô Nghiệp cảnh báo rằng chỉ cần một niệm nhỏ về chấp trước, khôn ngoan, hay đúng sai cũng có thể dẫn chúng ta xuống nẻo súc sanh, nơi tham sân si chi phối, trái ngược với Phật giới Nếu ta vui mừng với những ý tưởng đó, chúng ta đã lạc hướng khỏi Phật đạo Ngay cả việc chấp vào thiền cũng có thể đưa ta vào nẻo súc sanh, vì vậy cần phải phá chấp bằng cách tìm hiểu tận gốc rễ của nó.

Thượng thư Trần Tháo

Có một lần thượng thư Trần Tháo cùng thuộc hạ lên lầu nhìn thấy một đám tăng đi dưới đường, một người trong bọn nói :

-Chắc họ là thiền tăng

-Sao biết là không phải ?

-Đợi họ đi qua sẽ biết ! Khi chư tăng tới trước lầu, Trần Tháo gọi lớn : -Thượng toạ !

Chư tăng ngửng đầu lên Trần Tháo nói :

-Tôi nói có sai đâu !

Câu chuyện này minh chứng rằng phần lớn chúng ta thường phân biệt và phán đoán dựa vào bề ngoài Xảy ra trong một tự viện, không phải công thự, đối thoại giữa Trần Tháo và các thuộc hạ hoàn toàn mang tính thiền Trần Tháo, một quan lớn và cư sĩ nổi tiếng, thường giảng thiền cho những viên chức cấp dưới mới học thiền Khi một trong số họ thấy những người bên ngoài tự viện, họ tự hỏi liệu họ có phải là thiền tăng không Trần Tháo đã nhân cơ hội này để chỉ ra tâm phân biệt của họ Khi các chư tăng tiếp cận, Trần Tháo gọi họ, và dĩ nhiên họ đều ngẩng đầu lên trước khi thuộc hạ có thể lên tiếng.

-Tôi đã chẳng nói thế sao ?

Thì Trần Tháo đã nói trước Ông nhấn mạnh

Sự đánh giá về giá trị của sự vật và con người không thể chỉ dựa vào bề ngoài Một chiếc áo không thể xác định giá trị của một vị thầy tu, và không thể so sánh con người với con ngựa hay con chó chỉ dựa trên khả năng nói Mỗi sinh vật đều có cuộc sống quý giá riêng, và không có màu sắc nào tốt hơn màu sắc khác, mỗi màu đều có giá trị riêng của nó Câu nói của Trần Tháo nhắc nhở chúng ta rằng mọi sự so sánh đều cần được xem xét một cách công bằng và sâu sắc.

Viết chữ Tâm

Một vị sư già viết chữ tâm lên cửa và vách của căn lều mà ông cư trú Pháp Nhãn sửa ông :

-Cửa phải viết chữ môn, vách phải viết chữ bích

Nhưng Huyền Giác lại bàn rằng :

-Cửa là cửa, vách là vách, không cần phải viết chữ gì cả

Trong Phật giáo, Tâm Tông nhấn mạnh rằng mọi hiện tượng đều do tâm tạo ra, và mọi sự vật mà chúng ta thấy chỉ là phản chiếu của chính tâm trí mình Vị sư già viết chữ "tâm" ở khắp nơi để tự nhắc nhở bản thân, nhưng nếu chúng ta bám víu vào bất kỳ điều gì, ngay cả chân lý, thì nó sẽ trở thành một khái niệm nặng nề Huyền giác đã chỉ ra rằng cửa chỉ là cửa, vách chỉ là vách; chúng ta cần nhìn nhận, hiểu và sử dụng chúng như chính bản chất của chúng.

Đúng giờ của Tuyết Phong

Tuyết Phong là đầu bếp trong thiền viện Đức Sơn luôn luôn đúng hẹn khi dọn bữa sáng Một ngày kia Đức Sơn hỏi :

-Làm sao mà ông giữ đúng giờ thế ?

-Nếu trời mưa hoặc sương mù thì sao ?

Tuyết Phong giữ im lặng

Công án này kể về Tuyết Phong, một thiền sư vĩ đại khi còn là thiền sinh dưới sự hướng dẫn của Đức Sơn Tại một thiền viện, mọi người cùng nhau chia sẻ công việc, và Tuyết Phong đảm nhiệm vai trò đầu bếp Dù không phải là một tăng ni tập sự, câu hỏi đầu tiên của thiền sư Đức Sơn như một nhát kiếm sắc bén, vừa mang tính thử thách vừa có ý nghĩa giáo dục sâu sắc.

-Làm sao ông đúng giờ thế ?

-Nếu trời mưa ! Chạm rồi !

Tuyết Phong thua cuộc đấu kiếm, nhưng chiến thắng của thầy đã giúp tạo thành một vị thiền sư tương lai.

Bí truyền

Một ông tăng hỏi Ba lăng :

-Thế nào là sự bí truyền ở Đông Độ và Tây Thổ ?

-Có phải ông dẫn lời của Tam tổ không ?

-Không, đó là lời của Tín Tâm Minh

-Là lỗi của tôi, tôi thật lẩm cẩm

Từ khi Đức Thế Tôn nhập Niết bàn, sự giác ngộ đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở Ấn Độ và các nước Đông Á như Trung Hoa, Nhật Bản Sự bí truyền này thực chất không phải là bí mật, mà là sự hiểu biết về chân lý, giống như quy luật tự nhiên: hoa nở vào xuân, lá vàng vào thu, mặt trời mọc ở phương Đông và lặn ở phương Tây Nhiều học giả và tăng sĩ thường quá chú trọng vào lý thuyết mà quên đi thực tại Ba Lăng không chỉ ra rằng cái nhìn trực tiếp về cuộc sống là điều quan trọng, mà còn nhấn mạnh giá trị của sự giác ngộ qua trải nghiệm thực tế.

Giáo lý cao hơn

Động Sơn bảo đại chúng :

-Các ông nên biết còn có giáo lý cao hơn Phật giáo

Một ông tăng bước ra hỏi :

-Giáo lý cao hơn Phật giáo là gì ?

Động Sơn, một thiền sư sống dưới thời nhà Đường, đã thiết lập dòng thiền Tào Động và học hỏi từ nhiều vị thiền sư khác Khác với những thiền sư thô bạo, ông nổi bật với tính hiền từ và sự hiểu biết Ông nhấn mạnh rằng thiền không chỉ là một khái niệm mà là cách sống, khuyến khích thiền sinh nhìn nhận sự vật như chính nó Câu nói "không phải là Phật" của ông hướng dẫn những người tìm kiếm giác ngộ, nhấn mạnh rằng có hai con đường học hỏi: tiến về phía trước và quay trở lại với thế giới nhân loại Mặc dù tìm kiếm giác ngộ và sự bình đẳng trong Phật giới, chúng ta vẫn cần trở về với thực tại cụ thể.

Phật tồn tại trong mỗi con người, thể hiện sự phổ quát trong sự riêng biệt, bình đẳng giữa những bất bình đẳng, và hòa hợp trong những mâu thuẫn Chúng ta là hai nhưng cũng là một, nhấn mạnh rằng không nên chỉ chấp vào Phật hay con người, đó chính là thông điệp từ Động Sơn.

Giảng pháp

Thiền sư Nghĩa Trung đã lên giảng đàn, trong khi một cư sĩ đi từ hướng Đông sang Tây, và một ông tăng thì đi từ hướng Tây sang Đông.

-Cư sĩ hiểu Thiền còn ông tăng thì không

Cư sĩ lại gần thiền sư và nói :

-Con cám ơn thầy đã chấp nhận

Trước khi ông dứt lời, ông đã bị thiền sư đánh một gậy Ông tăng lại gần thưa :

-Xin thầy chỉ dạy Ông cũng bị thiền sư đánh một gậy

-Ai kết luận công án này ? Đại chúng không ai trả lời được Thiền sư hỏi thêm hai lần nữa, nhưng vẫn không một lời đáp

Thiền sư ném thiền trượng xuống đất và trở về phòng

Phương pháp truyền pháp của Thiền tông tập trung vào việc lấy tâm ấn tâm, với sự giản dị và trực tiếp, mặc dù có vẻ kỳ lạ Cư sĩ và ông tăng đều diễn tả sự hiểu biết của mình, nhưng thiền sư khẳng định rằng cư sĩ hiểu còn ông tăng thì không Khi cư sĩ cảm ơn, ông bị đánh vì chấp vào sự chấp nhận, trong khi ông tăng cũng bị đánh khi tìm kiếm giác ngộ Thiền sư không ngần ngại nghiền nát sự chấp trước của thiền sinh, vì phần lớn rắc rối và đau khổ trong cuộc sống xuất phát từ chấp trước Chấp vào điều thuận lợi là tham, chấp vào điều nghịch là sân, và nguyên nhân của chấp là si Tham, sân, si là ba chất độc chính của cuộc đời.

Đại Điên bao nhiêu tuổi

Hàn Dũ một danh sĩ bị đày đến thăm Đại Điên, trụ trì một thiền viện ở gần đó Ông hỏi :

-Thầy bao nhiêu tuổi ? Đại Điên đưa chuỗi tràng lên hỏi :

Hàn Dũ cảm thấy bối rối vì không hiểu lời nói của vị sư già Khi trở về nhà, vợ ông nhận ra sự khác thường của chồng và đã hỏi han Danh sĩ đã chia sẻ câu chuyện của mình với vợ, bộc lộ nỗi lo lắng và sự khó hiểu của mình.

-Sao ông không quay lại và hỏi vị sư đó có ý gì ?

Sáng sớm hôm sau, danh sĩ trở lại thiền viện và gập thủ toạ ở cửa

-Sao ông đến đây sớm thế ?

-Tôi muốn gặp thiền sư

Hàn Dũ kể lại câu chuyện

-Ngày đêm 108 là có ý gì ? Để trả lời thủ toạ nghiến răng 3 lần

Sau đó, Hàn Dũ được gặp Đại Điên và đặt cùng câu hỏi Đại Điên cũng nghiến răng 3 lần

-Tôi hiểu rồi, Phật giáo là vậy

-Ông không nói thế được !

-Có chứ, lúc trước tôi gặp thủ toạ và cũng nhận được cùng câu trả lời Đại Điên gọi thủ toạ bảo:

-Tôi biết ông một lúc trước có chỉ cho vị danh sĩ này Phật giáo là gì có phải không ?

-Dạ đúng Đại Điên đánh thủ toạ và đuổi ông ra khỏi thiền viện

Hàn Dũ, một nho sĩ nổi tiếng, bị đày vì liên quan đến cái chết của vua, đã đến tham vấn Đại Điên để tìm hiểu về Phật giáo, nhưng tuổi tác chỉ là một cái cớ Khi Đại Điên giơ chuỗi tràng lên và nói rằng tuổi của ông vượt lên con số, Hàn Dũ không hiểu và cảm thấy bối rối Sáng hôm sau, khi gặp thủ toạ nghiến răng ba lần, Hàn Dũ càng thêm hoang mang Tuy nhiên, khi Đại Điên cũng trả lời bằng cách nghiến răng ba lần, Hàn Dũ nhận ra rằng Phật giáo không chỉ đơn thuần là lời nói và hành động Thực tế, cái nghiến răng của thủ toạ và Đại Điên mang ý nghĩa hoàn toàn khác nhau, và chỉ khi thủ toạ bị đánh và đuổi ra khỏi thiền viện, ông mới thực sự hiểu được bản chất của cuộc sống.

Dũ đã từng chống lại Phật giáo và bị đày, nhưng chính trong thời gian lưu đày, ông đã có cơ hội tiếp cận với Phật giáo chân chính Chân lý của Phật giáo vẫn không thay đổi, bất kể là ngày hay đêm.

108 hạt tràng Cốt tuỷ của chân lý không đổi, chỉ hình dáng là thay đổi thôi.

Phật thân

Khi Đức Phật giảng kinh Niết Bàn, Ngài để tay lên ngực và nói :

Hãy quan sát kỹ lưỡng bản thân, nếu không sẽ hối tiếc sau này Nếu bạn cho rằng Phật đã nhập vô dư niết bàn, bạn không phải là đệ tử của tôi; và nếu bạn cho rằng Phật không nhập vô dư niết bàn, bạn cũng không phải là đệ tử của tôi.

Công án này nhấn mạnh việc cắt đứt sự chấp vào lời nói, một nguyên nhân lớn gây rắc rối trong cuộc sống Khi chúng ta chấp nhận một khái niệm, như việc cho rằng ai đó xấu hay tốt, chúng ta dễ dàng bị ràng buộc bởi những định kiến đó Thực tế, tính cách con người có thể thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh Những nhận định trước đây không nhất thiết phải áp dụng cho hiện tại Vấn đề về việc Đức Phật có vào vô dư niết bàn hay không chỉ là một cuộc bàn luận vô ích; vô dư niết bàn thực chất là một trạng thái niết bàn đầy đủ mà bất cứ ai cũng có thể đạt được, nhưng vì còn sống trong thân xác, chúng ta chưa hoàn toàn đạt được điều đó Vô dư niết bàn chỉ có thể đạt được khi con người qua đời.

Ngài đã đạt đến vô dư niết bàn, đánh dấu sự hoàn thiện trong giáo lý Phật giáo Vào thế kỷ thứ 9, Đại thừa Phật giáo phát triển giáo lý 3 thân để làm rõ mối liên hệ giữa Đức Phật và nhân loại Đức Phật không chỉ là hình mẫu tuyệt đối, mà còn là con người có hơi thở, thể hiện rằng không chỉ Thích Ca Mâu Ni là Phật, mà tất cả những ai giác ngộ, kể cả những người chưa giác ngộ, đều có thể trở thành Phật.

-Pháp thân : không hình dạng, mầu sắc, là thực tại tuyệt đối

-Báo thân : là lý tưởng, như Phật A Di Đà

Hóa thân là hình thức xác thân của Đức Phật, như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Trong khi pháp thân của Phật không bao giờ vào vô dư niết bàn, thì hóa thân Phật lại có khả năng vào vô dư niết bàn.

Trong công án này Phật có nhiều nghĩa khác nhau, nếu ai chấp vào một trong các ý nghĩa này thì là thiếu hiểu biết vậy.

Nhập thánh

Một ông tăng hỏi Tuyết Phong :

-Một người làm sao để vào thánh đạo ?

-Một kẻ ngây thơ không làm được

-Nếu ông ta quên mình, thì có được không ?

-Ông ta chỉ làm được khi ông ta ý thức

-Vậy cái gì sẽ xẩy ra với ông ta ?

-Một con ong không trở lại tổ đã bỏ

Một đứa trẻ hay một người đơn giản có thể không được coi là người giác ngộ Tuyết Phong khẳng định điều này, nhưng người tăng vẫn nài nỉ rằng nếu một người quên mình và chìm đắm trong khoảnh khắc như một đứa trẻ đang chơi đùa, liệu họ có thể hòa quyện với vũ trụ hay không?

Phải, Tuyết Phong trả lời, nhưng trong một giới hạn nào đó Người đó đã thiếu sự tỉnh thức

Nhìn kìa, đẹp biết bao Những đoá hoa nhỏ, hoang dại

Bỏ xuống đi

Một thiền sinh hỏi Triệu Châu :

-Con không mang gì đến, phải làm sao ?

-Nhưng con không mang gì cả thì bỏ xuống cái gì ?

Khi ông tăng hỏi về việc bỏ cái ngã, ông đã quên rằng chính suy nghĩ của mình đã tạo ra rắc rối Cái ngã không chỉ là thứ cần bỏ xuống, mà còn là nguyên nhân gây ra sự chấp trước lớn nhất Khi nhận thức được sự chấp trước này, con người có khả năng thăng hoa và giải phóng bản thân khỏi những ràng buộc.

Bàn tay của Nhật Trí Mặc Tiên

Nhật Trí Mặc Tiên sống tại một ngôi chùa ở Đơn Ba Một trong những đệ tử của ông đã bày tỏ sự không hài lòng về tính keo kiệt của vợ mình Để giải quyết vấn đề này, Nhật Trí Mặc Tiên đã đến thăm vợ của đệ tử và bất ngờ giơ nắm đấm trước mặt bà, khiến người phụ nữ ngạc nhiên và đặt câu hỏi về hành động của ông.

-Nếu tôi luôn luôn như thế này, bà gọi là gì ?

Thiền sư lại mở bàn tay ra :

-Giả sử nó luôn luôn như thế này thì sao ?

-Nếu bà hiểu nhiều như thế, bà là một người vợ tốt

Nhật Trí Mặc Tiên nói rồi, bỏ đi Sau cuộc viếng thăm đó, bà vợ giúp chồng trong việc chi tiêu và dành dụm

Trong cuộc viếng thăm này, người đàn bà đã nhận ra sự tàn tật của chính mình Chúng ta thường dễ dàng nhận thấy khuyết điểm của người khác nhưng lại thường quên đi những khiếm khuyết của bản thân.

Không nước, không trăng

Ni cô Như Đại đã trải qua nhiều năm học hỏi với thiền sư Tố Nguyên và quốc sư Thánh Nhất nhưng vẫn chưa đạt được giác ngộ Một đêm trăng sáng, khi đi gánh nước với một thùng gỗ cũ, thùng gỗ bỗng vỡ và đáy thùng rơi ra Từ khoảnh khắc đó, cô cảm nhận được sự tự do và đã có những suy ngẫm sâu sắc về cuộc sống.

-Không nước trong thùng, không trăng trong nước

Thùng gỗ cũ tượng trưng cho sự chấp ngã trong cuộc sống của chúng ta Càng cố gắng giác ngộ, chúng ta càng nhận thức rõ hơn về cái ngã, dẫn đến việc bảo vệ nó bằng mọi giá Nỗi sợ thất bại khiến chúng ta chỉ dám đi nửa đường, không dám đặt trọn tâm trí vào bất kỳ việc gì Để hoàn thành một điều gì đó, chúng ta cần cống hiến 100% sức lực và tâm huyết, cho đến khi kiệt sức Khi cái ngã vỡ vụn, đó là lúc chân ngã bắt đầu xuất hiện, lý giải cho việc thiền thường nói về sự chết đi sống lại.

Một ông tăng hỏi Vân Môn :

-Phật Thích Ca Mâu Ni nói gì khi có người nghe và cơ hội để dạy ?

Khi ông Tăng hỏi Phật về việc dạy dỗ khi không có ai lắng nghe, Vân Môn đã đáp rằng không cần thiết phải dạy và Thích Ca sẽ không nói gì Điều này cho thấy rằng chân lý tổng quát không phải lúc nào cũng là chân lý sống, mà chân lý thực sự luôn cụ thể và độc nhất.

Vào lúc pháp nạn Phật giáo đã giảm bớt, Vô Trước đến Ngũ Đài Sơn thăm Văn Thù mà thiền viện ở miền Bắc Trung Hoa Văn Thù hỏi :

-Phật giáo ở phương Nam thế nào ?

-Chư tăng chỉ giữ giới luật

-Phàm thánh cùng sống, rồng rắn hỗn hợp

Công án này thể hiện một giấc mộng được tạo ra bởi Vô Trước, người có thể đã đến thăm Ngũ Đài Sơn ở miền Bắc Trung Hoa Cuộc đối thoại giữa Vô Trước và Văn Thù, biểu tượng cho trí huệ, bắt đầu khi Văn Thù hỏi Vô Trước về nguồn gốc của mình Vô Trước đến từ miền Nam, không chỉ mang nghĩa địa lý mà còn phản ánh cách Phật giáo được thực hành trong thời kỳ Hạ nguyên, khi mà các tăng sĩ chỉ giữ giới luật mà không đạt được chân thiền Vô Trước tiếp tục đặt câu hỏi về số lượng người trong đại chúng, nhấn mạnh rằng chân lý không phụ thuộc vào số lượng tín đồ Văn Thù đã trả lời, khẳng định rằng một tín đồ Thiên Chúa giáo tốt và một Phật tử chân chính đều có giá trị, trong khi số lượng đông đảo không mang lại ý nghĩa gì.

Có nghĩa là con số không quan trọng và không có ý nghĩa

Một hôm Tuyết Phong bảo đại chúng :

-Nam Sơn gần thiền viện này có một con rắn mũi rùa, các ông phải nhìn cho kỹ

-Hôm nay trong nhà có người chôn thân mất mạng

Có ông tăng nghe rồi chỉ Huyền Sa tỏ rằng ông này phải đi Huyền Sa từ chối :

-Để sư huynh Trường Khánh đi trước, dù ông ấy có đi chăng nữa thì tôi cũng không đi

-Vì người ta có thể chết mà không phải lên Nam Sơn

Bỗng nhiên Vân Môn ném mạnh gậy xuống đất trước mặt Tuyết Phong

Thiền viện thường tọa lạc trên núi, xung quanh là đất đồi núi, và để đến được thiền viện, người ta phải trèo lên đỉnh núi Tuyết Phong khuyến khích đồ đệ khám phá một con rắn mũi rùa gần thiền viện, tượng trưng cho những thử thách mà họ sẽ gặp Người ta có thể bị rắn cắn và mất mạng, hoặc có thể đạt được trí huệ và giác ngộ khi đối diện với nó Để đạt được chân lý, thiền sinh không chỉ gặp một con rắn mà còn nhiều thử thách khác trên đường đi Giác ngộ không thể đạt được chỉ bằng trí tuệ, mà phải trải qua kỷ luật và những thử thách khắc nghiệt Vân Môn là hình mẫu của sự vượt lên trên mọi khó khăn để tìm kiếm sự thật.

Một ngày, Cảnh Thanh hỏi một ông tăng :

-Tiếng gì ở bên ngoài vậy ?

-Mọi sự đều đảo ngược và giả dối, người đời chỉ chạy theo vật

-Tôi suýt bị lầm về tôi

-Suýt bị lầm là có ý gì ?

-Nói về trừu tượng thì rất dễ, nhưng giải thích thực tại bằng lời thì rất khó

Lộn tùng phèo và giả dối, chỉ chạy theo vật thì không giác ngộ, ông tăng hỏi Cảnh Thanh :

Cảnh Thanh trả lời vượt qua trở ngại và giác ngộ không khó nhưng vượt lên thì khó Chân lý và chân giác ngộ thì vô chấp

Một ông tăng hỏi Vân Môn :

-Thế nào là trần trần tam muội ?

-Cơm trong bình bát, nước trong thùng

Trần trần tam muội được diễn tả trong kinh Hoa nghiêm Tam muội là định Trong cơn đại đinh nhiều thế giới được bộc lộ trong một hạt bụi

Một hạt bụi chứa cả vũ trụ Cũng như thế giới cực tiểu trong lý thuyết của Leibnitz Vân Môn chỉ đơn giản trả lời :

-Cơm trong bình bát, nước trong thùng

Một hạt bụi có thể chứa cả vũ trụ nếu chúng ta có cái nhìn sâu sắc Khi nhìn vào bên trong, ta nhận ra rằng một hạt bụi, một con người hay một bông hồng đều không khác biệt Thực tại chỉ là một, hòa quyện mọi thứ lại với nhau.

Ngày đăng: 12/04/2022, 17:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w