SỬ DỤNG MỘT SỐ DỤNG CỤ TRONG XÉT NGHIỆM HÓA SINH
Dụng cụ đong thể tích
1.1.1 Ống hút pipette Ống hút pipette là loại micropipette thông dụng nhất để đong thể tích và có thể thay đổi được ở nhiều thể tích khác nhau, hoạt động theo nguyên tắc chuyển đổi áp suất không khí
- Ống hút pipette thường: loại chia vạch và loại có bầu chứa với một vạch thể tích cố định.
Ống hút pipette tự động có hai loại chính: loại cố định, chỉ cho phép hút một thể tích nhất định, và loại thể tích thay đổi, cho phép điều chỉnh thể tích hút trong khoảng giới hạn, ví dụ từ 10 - 50 µl hoặc từ 50 - 200 µl.
Cấu tạo ống hút pipette tự động:
Thân pipette được làm bằng polyme, gồm:
- Một cửa sổ dùng để hiển thị thể tích cần dung.
- Một nút để điều chỉnh thể tích.
- Một nút ấn hút và phân phối.
Nút bấm giúp dễ dàng loại bỏ đầu hút ra khỏi pipette Đầu hút hình nón được làm bằng nhựa, có màu vàng hoặc xanh, phù hợp với từng loại micropipette.
Cách sử dụng ống hút pipette tự động:
- Chỉnh thể tích theo yêu cầu
- Gắn đầu cone vào pipette vặn ngược kim đồng hồ.
- Không nên dùng pipette có thể tích lớn để hút một thể tích nhỏ, tuyệt đối không lấy lượng dùng 2 lần với 1 đầu cone.
- Kiểm tra thể tích trước khi hút.
- Nhúng đầu cone vừa chạm vào mức nước không nhúng sâu đầu cone.
- Khi hỳt thể tớch < 40 àl trỏng đầu cone (trộn tất cả cỏc bệnh phẩm, húa chất ).
- Đây là dụng cụ để đong cùng một thể tích thuốc thử hay để hòa loãng dung dịch
- Cấu tạo: chai đựng thuốc thử với hệ thống van, pit-tông kèm nút điều chỉnh thể tích.
- Cách sử dụng: mỗi lần kéo đẩy ta được một thể tích đã điều chỉnh trước Sai số cho phép là 1 %.
Máy ly tâm
- Dùng để phân tách huyết thanh, huyết tương ra khỏi tế bào máu.
- Tách tủa ra khỏi dung dịch
- Tách thành phần không tan ra khỏi mọi chất lỏng như: tinh thể, tế bào ra khỏi nước tiểu, vi trùng, ký sinh trùng ra khỏi dung dịch phân.
- Đầu chứa ống quay ly tâm
- Nút điều chỉnh thời gian
- Nút điều chỉnh tốc độ
- Có hay không bộ phận làm lạnh
- Chuẩn bị mẫu (các ống nghiệm mẫu).
- Cho mẫu vào máy (đảm bảo nguyên tắc cân bằng, đối xứng qua trục), đậy nắp lại.
- Khi máy ngừng (trục quay giảm tốc độ từ từ sau đó ngừng hẳn, nhẹ nhàng lấy ống nghiệm ra).
- Thường xuyên làm vệ sinh, kiểm tra trong và ngoài máy
- Định kỳ kiểm tra và thay mới chổi than (đối với các máy sử dụng chổi than).
- Cho dầu bôi trơn vào trục và các ổ bi
- Đặt máy nơi cố định ở nơi vững chắc có nguồn điện đúng với điện thế hoạt động tránh di chuyển.
- Đợi máy ngừng hẳn mới được mở nắp ra, không được dùng tay hãm đà quay của máy.
Khi máy hoạt động, nếu phát hiện dấu hiệu bất thường như rung lắc hoặc tiếng kêu lạ, cần ngay lập tức tắt máy và tiến hành kiểm tra.
LẤY VÀ BẢO QUẢN BỆNH PHẨM XÉT NGHIỆM HÓA SINH
Máu
Máu là bệnh phẩm quan trọng nhất trong xét nghiệm y tế, đóng vai trò trung tâm trong việc vận chuyển nước và các chất hòa tan, đồng thời là nội môi của cơ thể Cơ thể luôn duy trì sự ổn định của các hằng số nội môi, bao gồm các thông số hóa sinh trong máu Khi các trị số của những thông số này vượt qua giới hạn sinh lý, chúng có thể phản ánh những trạng thái bệnh lý khác nhau.
- Máu toàn phần: lấy máu cho vào ống nghiệm có chất chống đông (heparin, natriclorua, natrioxalat,…) sẽ có máu toàn phần.
Huyết tương và huyết cầu được tách ra bằng phương pháp ly tâm màu toàn phần có chất chống đông, trong đó huyết tương nằm ở phần trên và huyết cầu ở phần đáy ống nghiệm Huyết tương chứa fibrinogen, và từ mẫu huyết này, có thể tiến hành các xét nghiệm liên quan đến hồng cầu và bạch cầu.
Huyết thanh được tạo ra bằng cách lấy máu và cho vào ống nghiệm không chứa chất chống đông, từ đó cục máu đông hình thành và tiết ra huyết thanh Điểm khác biệt giữa huyết thanh và huyết tương là huyết thanh không chứa fibrinogen.
2.1.2 Cách lấy máu làm xét nghiệm
- Ống tiêm vô trùng sử dụng 1 lần
- Ống nghiệm có hay không có chất chống đông.
- Ống đựng máu phải ghi đầy đủ tên, tuổi bệnh nhân, khoa ban.
- Cho bệnh nhân ngồi ngay ngắn, tay duỗi thẳng trên bàn.
- Thắt dây garo cách khuỷu tay khoảng 10cm.
- Dùng ngón tay sờ nhẹ vào tĩnh mạch để xác định vị trí lấy máu.
- Sát trùng vị trí lấy máu bằng bông tẩm cồn 70 0 , lau bông theo xoáy trôn ốc từ trong ra ngoài.
- Hướng mũi vát đầu kim lên, cẩn thận đưa vào tĩnh mạch.
- Sau khi kim vào tĩnh mạch thì tháo dây garo ra.
- Kéo nhẹ pittong, lấy đủ lượng máu cần dùng.
- Rút kim tiêm ra khỏi tĩnh mạch, dán băng cầm máu vào chỗ vừa rút kim.
- Lấy kim ra khỏi ống tiêm, bơm máu nhẹ nhàng vào thành tube đựng máu.
- Đậy nắp, trộn nhẹ nhàng lên xuống nếu tube có chất chống đông.
2.1.3 Bảo quản và lưu ý khi lấy máu
Để ngăn ngừa tình trạng tiêu huyết, cần rút kim ra khi bơm máu vào ống nghiệm và thực hiện việc bơm nhẹ nhàng vào thành ống Đồng thời, trong quá trình vận chuyển, cần chú ý di chuyển nhẹ nhàng để tránh làm rơi hoặc va đập mạnh.
- Lấy huyết thanh thì cần để cho máu đông hoàn toàn mới đem ly tâm.
- Không ly tâm quá 15 phút với vận tốc không quá 3000 vòng/phút.
- Nếu lấy huyết tương hoặc huyết thanh thì cần tiến hành ly tâm tách máu càng sớm càng tốt, không để quá 2 giờ kể từ khi lấy máu.
- Máu toàn phần chỉ được trữ lạnh không được trữ đông vì sẽ làm cho các tế bào bị phá vỡ.
- Phải đeo găng tay khi lấy máu và tiếp xúc với bệnh phẩm.
- Đậy nắp ống nghiệm để tránh bốc hơi nước và nhiễm khuẩn.
2.1.4 Một số điều cần biết khi sử dụng chất chống đông
- Chất chống đông có tác dụng ngăn cản sự hình thành cục máu đông, giữ cho máu ở trạng thái lỏng sau khi ra khỏi cơ thể.
Nguyên tắc chọn lựa chất chống đông là đảm bảo rằng thành phần của chất chống đông không nằm trong danh mục định lượng và không làm ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.
- Tuyệt đối không được san máu từ ống chứa chất chống đông này sang ống chứa chất chống đông khác.
- Không nên đậy nhầm nút nhựa những ống chứa chất chống đông khác nhau.
2.1.5 Một số chất chống đông được sử dụng
EDTA có công thức phân tử là C10H16N2O8 Ống nghiệm chứa chống đông EDTA có nắp đậy màu xanh da trời.
EDTA giúp duy trì hình dạng bình thường của các tế bào máu sau khi ra khỏi cơ thể Chất chống đông này được ứng dụng rộng rãi trong phân tích huyết học, xét nghiệm HbA1c và định lượng thuốc.
EDTA có gốc kali nên làm kali tăng cao trong trong xét nghiệm ion đồ.
EDTA tạo phức với các ion như Ca 2+, Cu 2+, Fe 3+ và Mn 2+, dẫn đến việc ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm của các ion này Sự hình thành hợp chất này làm cho các phản ứng màu không hiển thị màu sắc rõ ràng và làm giảm nồng độ định lượng của chúng.
Heparin, với công thức phân tử C12H19NO20S3, có khả năng kết hợp với nhiều ion khác để tạo ra các muối heparin như heparin lithium (chứa Li+), heparin sodium (chứa Na+) và heparin calcium (chứa Ca2+) Ống nghiệm chứa heparin lithium có nắp đậy màu đen, hiện được sử dụng phổ biến trong các xét nghiệm Ion đồ.
Chất chống đông heparin Sodium được sử dụng trong xét nghiệm khí máu động mạch
NaF (Sodium florid): Ống nghiệm chứa chống đông NaF có nắp đậy màu xám.
Chất chống đông NaF được sử dụng để định lượng chính xác đường huyết nhờ khả năng ức chế hồng cầu tiêu thụ glucose trong máu Việc sử dụng NaF, với gốc Na +, có thể làm tăng kết quả Na + trong xét nghiệm ion đồ.
Tương tự NaF, nhưng có chứa gốc K + và Li.
Tri Na Citrat (Tri-sodium citrat):
Chất có công thức phân tử C6H5O7Na2H2O, được chứa trong ống nghiệm có nắp màu xanh lá cây, thường được sử dụng trong các xét nghiệm đông máu.
Do có chứa gốc Na + ảnh hưởng đến ion đồ.
Nước tiểu
Nước tiểu được hình thành qua hai giai đoạn chính: giai đoạn lọc tại cầu thận và giai đoạn tái hấp thu, bài tiết tại ống thận Quá trình này dẫn đến việc dịch lọc được cô đặc thành nước tiểu cuối cùng qua ống góp và bể thận.
2.2.2 Cách lấy mẫu nước tiểu ngẫu nhiên
- Lấy mẫu thử nước tiểu vào buổi sáng sớm là tốt nhất.
- Vệ sinh sạch đường tiểu
- Lấy nước tiểu giữa dòng, bỏ phần đầu và phần cuối
- Lọ đựng phải sạch và vô trùng Ghi tên, tuổi bệnh nhân, khoa phòng đầy đủ.
- Để tránh kết quả sai lệch cần tránh lấy mẫu:
+ Sau khi uống nước nhiều
+ Sau khi lao động nặng nhọc hoặc đứng lâu tại một chỗ
+ Trong thời gian có kinh nguyệt đối với phụ nữ.
Thực hiện các xét nghiệm:
- Tính tổng lượng urê, creatinin trong nước tiểu trong 24 giờ.
- Tính tổng lượng protein trong nước tiểu trong 24 giờ.
- Ion đồ niệu trong 24 giờ.
- Tính tổng lượng đồng trong nước tiểu trong 24 giờ (Bệnh Willson)
- Các xét nghiệm sinh hóa nước tiểu khác.
Cách lấy mẫu nước tiểu 24 giờ:
Nhân viên xét nghiệm phải hướng dẫn bệnh nhân thật kỹ về cách lấy nước tiểu
Chuẩn bị sẵn một bình chứa thể tích khoảng 2 lít hoặc lớn hơn tùy thuộc vào lượng nước tiểu hàng ngày.
Dùng nước sôi tráng, khử trùng bình nhựa, để nguội, cho dung dịch chất bảo quản vào, đậy kín nắp.
Chọn thời gian bắt đầu thực hiện từ 6h sáng ngày hôm đó đến 6h sáng ngày kế tiếp Vào đúng 6h sáng, hãy đi tiểu hết và loại bỏ hoàn toàn phần nước tiểu này.
Khi có nhu cầu tiểu tiện, hãy sử dụng bình chứa đã chuẩn bị sẵn hoặc một ca miệng rộng để thu thập nước tiểu Sau đó, đổ nước tiểu vào bình chứa Đến 6h sáng hôm sau, hãy đi tiểu lần cuối vào bình chứa để hoàn thành quy trình sau 24 giờ.
Mang bình chứa nước tiểu càng nhanh càng tốt tới phòng xét nghiệm (không để lâu quá 1giờ khi đã hoàn tất nước tiểu 24 giờ).
Chất bảo quản nước tiểu 24 giờ:
Quá trình phát triển của vi sinh vật có thể làm biến chất và hư hại mẫu nước tiểu Để bảo đảm chất lượng mẫu và không ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm, việc bảo quản nước tiểu trong vòng 24 giờ là rất cần thiết nhằm hạn chế sự phát triển của vi sinh vật.
Một số chất bảo quản:
Dung dịch Thymol trong rượu 1%, 1ml cho 100ml nước tiểu (không dùng dung dịch này khi cần định lượng protein vì sẽ làm sai kết quả).
Khi dầu toluene được đổ vào bình chứa, nó sẽ hình thành một lớp mỏng nổi trên bề mặt nước tiểu, tạo ra môi trường kị khí và làm chậm quá trình phát triển của vi sinh vật.
Phenol hoặc Formol (1 giọt cho 30 ml nước tiểu).
Các bệnh phẩm khác
Phân, dịch não tủy, nước bọt, dịch hút (dịch màng phổi, dịch cổ chướng, dịch khớp, dịch tụy, dịch mật…) tế bào và mô, sỏi niệu, sỏi mật.
ĐỊNH LƯỢNG GLUCOSE VÀ XÉT NGHIỆM HÓA SINH CHẨN ĐOÁN TIỂU ĐƯỜNG I
ĐỊNH LƯỢNG ĐƯỜNG MÁU
Hàm lượng đường khử trong huyết tương có thể được định lượng glucose máu theo
2 phương pháp là phương pháp Folin- Wu và phương pháp enzym quang học.
Trong môi trường kiềm và ở nhiệt độ 100 độ C, glucose trong máu khử ion đồng II thành ion đồng I Ion đồng I sau đó phản ứng với phosphomolibdic không màu, tạo thành phức hợp phosphomolibdơ có màu xanh Cường độ màu xanh này tỷ lệ thuận với nồng độ glucose trong dung dịch Bằng cách đo sự tăng mật độ quang của phức hợp phosphomolibdơ ở bước sóng 420 nm và so sánh với nồng độ glucose chuẩn, ta có thể xác định kết quả nồng độ glucose trong máu.
1.1.2 Chất thử và thuốc thử
- Chất thử: huyết tương hoặc huyết thanh người bình thường.
- Dung dịch glucose chuẩn 5,5 mmol/l.
1.1.3 Tiến hành Đây là kỹ thuật gồm 2 bước là khử tạp và làm phản ứng:
Cho thuốc thử vào 2 ống nghiệm nhỏ theo bảng sau:
Bảng 1: Thiết kế thí nghiệm định lượng đường máu bằng phương pháp Folin-Wu
Thuốc thử Ống chuẩn (S) Ống thử (T)
Dung dịch glucose chuẩn(5,5 mmol/l)
Lắc đều cả 2 ống, ly tâm ống thử 3000 vòng/phút, trong 5 phút, lấy dịch trong của 2 ống để làm phản ứng.
Cho các dung dịch vào 3 ống nghiệm to theo bảng sau:
Bảng 2: Thiết kế định lượng đường máu bằng phương pháp Folin-Wu
Thuốc thử Ống trắng (-) Ống chuẩn (S) Ống thử (T) Nước cất
Dịch trong của ống chuẩn
Dịch trong của ống thử
1 ml Lắc đều, đun sôi cách thuỷ 8 phút, làm lạnh Dung dịch phosphomolibdic 1 ml 1ml 1 ml
Lắc đều, đun sôi cách thuỷ 2 phút, làm lạnh
Nước cất 4 ml 4 ml 4 ml
Lắc đều các ống chuẩn (AS), ống thử (AT) và ống trắng (AB) để đo mật độ quang học tại bước sóng 420 nm Kết quả nồng độ glucose trong máu được tính toán theo công thức đã chỉ định.
1.2 Phương pháp enzym quang học
Xét nghiệm định lượng nồng độ glucose trong huyết tương hoặc huyết thanh sử dụng phương pháp enzym quang học dựa trên hai enzym chính là hexokinase (HK) và glucose-6-phosphat dehydrogenase (G6P-DH) Quá trình này bắt đầu khi glucose được phosphoryl hóa bởi HK trong môi trường có ATP, tạo ra glucose-6-phosphat (G-6-P) và ADP Tiếp theo, G6P-DH oxy hóa G-6-P thành 6-phosphogluconat và chuyển đổi nicotinamide adenine dinucleotide (NAD+) thành dạng khử NADH.
G-6-P + NAD + 6-phosphogluconat + NADH + H + Đo sự tăng mật độ quang của NADH ở bước sóng 340 hoặc 380 nm, so sánh với nồng độ glucose chuẩn sẽ tính được kết quả.
1.2.2 Thuốc thử và chất thử
- Chất thử: huyết thanh hoặc huyết tương
Thành phần chính gồm có:
- Dung dịch glucose chuẩn (5,5 mmol/l)
Chuẩn bị máy đo quang:
+ Chương trình đo mật độ quang (A).
+ Cho thuốc thử và chất thử vào 3 ống nghiệm nhỏ theo bảng sau:
Bảng 3: Thiết kế thí nghiệm định lượng đường máu
(phương pháp enzyme quang học)
(B) Ống chuẩn (S) Ống thử (T) Thuốc thử
Huyết thanh (hoặc huyết tương)
+ Trộn đều, ủ 10 phút ở nhiệt độ 37 O C
+ Đo theo các bước sau:
Đo mật độ quang ống trắng (AB).
Đo mật độ quang ống chuẩn (AS).
Đo mật độ quang ống thử (AT).
+ Kết quả nồng độ glucose được tính theo công thức:
Bình thường nồng độ glucose trong huyết tương 4,4 – 6,1 mmol/l.
Bốn yếu tố chính điều hòa nồng độ glucose máu bao gồm hệ thống thần kinh trung ương, hệ thống hormone (gồm hormone tăng và giảm glucose), gan và thận.
Tăng glucose máu là triệu chứng phổ biến trong bệnh đái tháo đường Việc định lượng nồng độ glucose máu là một xét nghiệm quan trọng để chẩn đoán, theo dõi và điều trị bệnh đái tháo đường, đồng thời đánh giá quá trình chuyển hóa glucid trong cơ thể.
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1998, bệnh nhân được chẩn đoán bệnh đái tháo đường chỉ cần có 1 trong 3 tiêu chuẩn sau:
- Glucose máu đói ≥ 7,1 mmol/L (≥ 126 mg/dL) Xét nghiệm 2 lần, sau khi nhịn ăn 8- 12giờ.
Glucose máu sau 2 giờ trong nghiệm pháp dung nạp glucose uống phải đạt mức ≥ 11,1 mmol/L (≥ 200 mg/dL) để xác định tình trạng tiểu đường Việc thực hiện nghiệm pháp này cần tuân thủ đúng các hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
- Glucose máu bất kỳ ≥ 11,1 mmol/L (≥200 mg/dL) ở bệnh nhân có triệu chứng của đái tháo đường cổ điển.
Ngoài bệnh đái tháo đường, mức glucose máu có thể tăng nhẹ do một số bệnh lý khác như viêm tụy cấp, cường chức năng tuyến yên, tuyến thượng thận và tuyến giáp Ngoài ra, các tình trạng bệnh lý như sốc chấn thương, sốc bỏng và sau nhồi máu cơ tim cũng có thể dẫn đến sự gia tăng glucose máu.
Giảm glucose máu dưới 2,5 mmol/L có thể gây rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương, dẫn đến yếu cơ, thiếu phối hợp và rối loạn tâm thần Nếu mức glucose tiếp tục giảm, có thể dẫn đến hôn mê hạ đường huyết Tình trạng này thường gặp trong các trường hợp như hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh, ngộ độc thai nghén, rối loạn enzym bẩm sinh, hội chứng Reye, uống rượu, rối loạn chức năng gan, khối u tuyến tụy sản xuất insulin, kháng thể kháng insulin, nhiễm trùng huyết và suy thận mãn tính.
PHÁT HIỆN GLUCOSE TRONG NƯỚC TIỂU (GLUCOSE NIỆU)
2.1 Phát hiện glucose trong nước tiểu bằng thuốc thử Benedict
Dựa vào tính khử của glucose như trong phản ứng Fehling.
Trong môi trường kiềm và ở nhiệt độ 100°C, các monosaccharid như glucose có khả năng khử ion đồng II (Cu²⁺) thành ion đồng I (Cu⁺), tạo ra tủa Cu₂O có màu đỏ gạch Quá trình phản ứng này diễn ra hiệu quả trong điều kiện nêu trên.
Glucose nếu có trong nước tiểu sẽ phản ứng làm thay đổi màu xanh nước biển của thuốc thử Benedict.
Thuốc thử Benedict (định tính).
- Thuốc thử Benedict 5 ml Đun sôi cách thủy 5 phút.
- Âm tính: Dung dịch trong ống nghiệm vẫn giữ nguyên màu xanh nước biển là âm tính (-).
Hỗn dịch có màu xanh lá cây: dương tính (+).
Hỗn dịch có màu xanh lá cây, đáy ống có ít tủa đỏ gạch: dương tính (++) (khoảng 1 %).
Hỗn dịch có màu xanh lá cây, đáy ống có nhiều tủa đỏ gạch: dương tính (+++) (khoảng > 1 %).
Nếu trong mẫu nước tiểu chứa chất có tính khử, có thể gây dương tính giả.
Thuốc thử Benedict (định tính): cho vào bình cầu khoảng 800 ml nước cất, đun nóng đến 70 0 C, sau đó cho vào:
- Na2CO3 100 g (hoặc Na2CO3.10H2O : 200 g)
Khuấy đều cho tan hết Để lạnh đến nhiệt độ phòng
Hòa tan 17,3g CuSO4 5H2O trong 100 ml nước cất Đổ dung dịch CuSO4 này vào bình cầu và hoàn thành đến 1 lit bằng nước cất.
2.2 Phát hiện glucose trong nước tiểu bằng que thử
Dựa trên phản ứng do 2 enzym glucose oxidase và peroxidase xúc tác.
Glucose oxidase xúc tác phản ứng oxi hóa glucose nếu có trong nước tiểu tạo thành acid gluconic và giải phóng peroxid hydrogen (H2O2).
Peroxidase là enzyme xúc tác cho phản ứng phân hủy hydro peroxide, sinh ra oxy Oxy mới tạo ra sẽ oxi hóa các chất không màu, dẫn đến sự hình thành hợp chất có màu, chẳng hạn như kali iodid chuyển thành iod có màu nâu.
2.2.2 Chất thử và thuốc thử
- Que thử nước tiểu sẵn dùng.
Lấy que thử ra khỏi lọ và đậy nắp ngay sau khi lấy Nhúng toàn bộ phần có các ô thử của que thử vào nước tiểu mới lấy, đã trộn đều và chưa ly tâm, rồi nhanh chóng lấy ra để tránh làm thuốc thử bị hòa tan.
Khi lấy que thử ra, hãy gạt nhẹ cạnh que vào thành ống đựng nước tiểu để loại bỏ nước tiểu thừa Giữ que nằm ngang và thấm nhẹ hai cạnh bằng giấy thấm để tránh trộn lẫn thuốc thử giữa các ô thử và ngăn nước tiểu thấm vào tay Đọc kết quả sau 1-2 phút.
Có 2 cách đọc kết quả:
Để xác định kết quả, hãy đặt que thử cạnh bảng màu mẫu được dán kèm trong hộp So sánh cường độ màu của từng ô thử với các ô màu mẫu tương ứng Khi phát hiện màu sắc trùng khớp, bạn có thể đọc kết quả ghi kèm theo ô mẫu đó.
Nguyên tắc chiếu tia sáng đơn sắc vào từng ô màu cho phép xác định lượng ánh sáng bị hấp thụ và phản xạ Một phần ánh sáng sẽ bị ô màu hấp thụ, trong khi phần còn lại sẽ phản xạ trở lại Dựa vào cường độ ánh sáng ban đầu và ánh sáng phản xạ, ta có thể tính toán lượng ánh sáng đã bị hấp thụ Mức độ hấp thụ này phụ thuộc vào đậm độ của ô màu, tức là nồng độ chất thử trong mẫu nước tiểu.
Glucose niệu là tình trạng xuất hiện glucose trong nước tiểu, thường gặp trong bệnh đái tháo đường do đường huyết cao vượt quá khả năng tái hấp thu của thận Ngoài ra, tình trạng này cũng có thể xảy ra khi ngưỡng tái hấp thu glucose của thận thấp, dẫn đến đái tháo đường do thận.
Glucose niệu có thể xuất hiện tạm thời trong một số trường hợp như gây mê, sử dụng thuốc glucocorticoid, trong thời kỳ mang thai, khi gặp rối loạn xúc cảm, hoặc do tiêu thụ quá nhiều đường trong một lần.
ĐỊNH LƯỢNG GLUCOSE VÀ XÉT NGHIỆM HÓA SINH CHẨN ĐOÁN TIỂU ĐƯỜNG II
NGHIỆM PHÁP TĂNG ĐƯỜNG MÁU THEO ĐƯỜNG UỐNG
Nghiệm pháp gây tăng đường máu hay nghiệm pháp dung nạp glucose được sử dụng phổ biến trong bệnh tiểu đường Nghiệm pháp gây tăng đường máu gồm:
- Nghiệm pháp dung nạp glucose tiêm tĩnh mạch: được dùng ít hơn do tâm lý phải lấy máu nhiều lần, không đơn giản như phương pháp uống.
- Nghiệm pháp tăng đường máu theo đường uống (Oral glucose tolerance test- OGTT).
Hiện nay, phương pháp tăng đường máu qua đường uống đang được áp dụng rộng rãi trong lâm sàng, theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO).
1998 Phương pháp này đơn giản, dễ thực hiện hơn so với các phương pháp cũ mà vẫn cho kết quả chẩn đoán tin cậy
Nghiệm pháp tăng đường máu theo đường uống được chỉ định đối với mội trong các trường hợp sau:
- Kết quả xét nghiệm glucose máu lúc đói trong khoảng 6,1 – 7,1 mmol/l hoặc tại một thời điểm bất kỳ trong khoảng 7,1 - 11,1 mmol/l.
- Đường máu lúc đói bình thường nhưng glucose niệu (+).
Những người có nguy cơ cao mắc tiểu đường bao gồm phụ nữ có tiền sử sinh con nặng hơn 4kg, những người có người thân trong gia đình mắc bệnh tiểu đường, người bị rối loạn lipid máu, béo phì và tăng huyết áp.
- Người bị bệnh nội tiết có liên quan đến tiểu đường.
Nghiệm pháp tăng đường máu theo đường uống không áp dụng đối với mội trong các trường hợp sau:
- Đường máu thường xuyên không tăng (< 6,1 mmol/l)
- Tăng đường máu rõ rệt (> 7,1 mmol/l) và kéo dài.
- Bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng tiểu đường điển hình và glucose máu > 11,1 mmol/l.
Phụ nữ mang thai có nguy cơ tiểu đường nên chờ đến sau khi sinh để thực hiện các xét nghiệm cần thiết Nếu cảm thấy thật sự cần thiết, họ có thể tiến hành kiểm tra vào tuần thứ nhất của thai kỳ.
- Tiểu đường thứ phát (hội chứng tiểu đường do di truyền, tăng glucose máu do hormon).
Tiến hành vào buổi sáng và bệnh nhân không ăn trước khi làm nghiệm pháp
12 giờ trở lên Bệnh nhân không uống rượu, không hút thuốc lá, nghỉ ngơi hoàn toàn trong suốt quá trình làm nghiệm pháp
Trong quá trình hồi phục, không nên thực hiện nghiệm pháp đối với bệnh nhân mắc các bệnh cấp tính, stress, phẫu thuật, chấn thương hoặc bất động Đối với bệnh nhân nằm viện, cần ngừng một số loại thuốc có ảnh hưởng đến nồng độ đường máu, như thuốc lợi tiểu uống, phenyltoin và thuốc ngừa thai, ít nhất vài tuần trước khi tiến hành nghiệm pháp.
Cho bệnh nhân uống 75g glucose hòa tan trong 250 - 300ml nước, uống trong
5 phút Lấy máu làm xét nghiệm định lượng nồng độ glucose tại 2 thời điểm:
- Nồng độ glucose tại thời điểm 0h < 6,1 mmol/l (đường máu ở mức bình th- ường).
- Nồng độ glucose tại thời điểm 2h trở về nồng độ < 7,8 mmol/l.
- Bệnh nhân được chẩn đoán xác định là tiểu đường khi có nồng glucose máu tại thời điểm bất kỳ > 11,1 mmol/l
- Bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn dung nạp glucose khi glucose máu tại thời điểm 2h ở trong khoảng 7,8 – 11,1 mmol/l.
Nếu kết quả xét nghiệm đường huyết lúc đói tại hai thời điểm khác nhau đều lớn hơn 11,1 mmol/l, bệnh nhân có thể được chẩn đoán mắc tiểu đường mà không cần thực hiện thêm xét nghiệm tăng đường máu.
Trước đây, các cơ sở y tế chủ yếu dựa vào xét nghiệm định lượng đường máu lúc đói để chẩn đoán bệnh tiểu đường, dẫn đến việc nhiều bệnh nhân chỉ được phát hiện khi đã ở giai đoạn muộn với triệu chứng lâm sàng rõ ràng và mức đường máu cao Điều này cho thấy có một lượng lớn bệnh nhân đã mắc tiểu đường từ trước nhưng chưa được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Kết quả nghiệm pháp tăng đường máu theo đường uống là tiêu chuẩn chính để chẩn đoán tiểu đường, theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1998 Phương pháp này không chỉ giúp chẩn đoán bệnh tiểu đường ở giai đoạn sớm mà còn có khả năng phát hiện bệnh ở giai đoạn tiền tiểu đường Đối với những người có nguy cơ cao, nghiệm pháp này đặc biệt quan trọng trong việc kiểm soát bệnh tiểu đường.
Tiểu đường đang gia tăng nhanh chóng và có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng nếu không được điều trị kịp thời Tuy nhiên, nếu bệnh nhân được phát hiện sớm và theo dõi chặt chẽ trong quá trình điều trị, bệnh tiểu đường hoàn toàn có thể được kiểm soát hiệu quả.
PHÁT HIỆN CETON NIỆU
2.1 Phát hiện ceton niệu bằng thuốc thử natrinitroprussiat
Các thể ceton, đặc biệt là -hydroxybutyrat, tương tác với natrinitroprussiat trong môi trường kiềm (NH4OH) để tạo thành phức hợp màu đỏ tím Tương tự, creatinin cũng tạo ra phức hợp màu giống với natrinitroprussiat, nhưng phức hợp này sẽ bị phân hủy khi tiếp xúc với acid acetic.
2.1.2 Chất thử và thuốc thử
+ Nước tiểu người khoẻ mạnh (NT1).
+ Nước tiểu có thể ceton (NT2).
Cho vào 2 ống nghiệm nhỏ các thuốc thử theo bảng sau:
Bảng 4: Thiết kế thí nghiệm phát hiện ceton niệu bằng thuốc thử natrinitroprussiat
Lắc đều, cho từ từ theo thành ống nghiệm vào từng ống, 1 ml NH4OH đậm đặc Quan sát màu ở mặt phân cắt giữa nước tiểu và acid acetic.
- Kết quả âm tính: nếu ở bề mặt phân cắt có một lớp bóng mờ.
- Kết quả dương tính: nếu ở bề mặt phân cắt có một vòng đỏ tím.
2.2 Phát hiện ceton niệu bằng que thử
Dựa trên phản ứng Legal: acid acetoacetic kết hợp với nitroprussid tạo thành phức hợp có màu tím hồng.
2.2.2 Chất thử và thuốc thử
- Que thử nước tiểu sẵn dùng.
Lấy que thử ra khỏi lọ và đậy nắp ngay sau khi sử dụng Nhúng toàn bộ phần có ô thử của que vào nước tiểu mới lấy, đã trộn đều và chưa ly tâm, rồi nhanh chóng lấy ra để tránh làm thuốc thử bị hòa tan.
Khi lấy que thử ra, hãy gạt nhẹ cạnh que vào thành ống đựng nước tiểu để loại bỏ nước tiểu thừa Giữ que nằm ngang và thấm nhẹ hai cạnh bằng giấy thấm để tránh trộn lẫn thuốc thử và nước tiểu vào tay Đọc kết quả trong vòng 1-2 phút, có hai cách để thực hiện điều này.
Để xác định kết quả thử nghiệm, hãy so sánh que thử với bảng màu mẫu được đính kèm trong hộp Đặt que thử cạnh bảng màu và đối chiếu cường độ màu của từng ô thử với các ô màu mẫu tương ứng Khi màu sắc khớp nhau, ghi lại kết quả được ghi chú bên cạnh ô mẫu Ngoài ra, có thể sử dụng máy để đo lường chính xác hơn.
Nguyên tắc chiếu tia sáng đơn sắc vào từng ô màu giúp xác định cường độ ánh sáng hấp thụ và phản xạ Một phần ánh sáng sẽ bị ô màu hấp thụ, trong khi phần còn lại sẽ phản xạ trở lại Bằng cách so sánh cường độ ánh sáng ban đầu với ánh sáng phản xạ, ta có thể tính toán lượng ánh sáng bị hấp thụ Mức độ hấp thụ này phụ thuộc vào đậm độ của ô màu, tương ứng với nồng độ chất thử trong mẫu nước tiểu.
- Bình thường: trong nước tiểu các thể cetonic có ở nồng độ rất thấp cho kết quả âm tính.
- Kết quả dương tính gặp trong một số trường hợp sau:
+ Tiểu đường mức độ nặng.
+ Nhiễm kiềm: sau nôn mửa kéo dài làm mất dịch vị dạ dày.
ĐỊNH LƯỢNG LIPID VÀ XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH I
ĐỊNH LƯỢNG TRIGLYCERID HUYẾT THANH THEO PHƯƠNG PHÁP
Thủy phân triglycerid bằng enzym lipase giải phóng glycerol, được định lượng qua phương pháp đo màu quinonimin từ phản ứng giữa 4-aminoantipyrin và 4-chlorophenol với peroxide hydrogen Quá trình này diễn ra dưới tác dụng của các enzym glycerolkinase (GK), glycerol-3-phosphat oxidase (GPO) và peroxidase (POD).
Glycerol + ATP Glycerol-3-phosphat + ADP
H2O2 + 4-aminoantipyrin + 4-chlorophenol Quinonimin + HCl + H2O Đo mật độ quang quinonimin ở bước sóng 546nm, so sánh với nồng độ triglycerid chuẩn sẽ tính được kết quả.
1.2 Chất thử và thuốc thử
Huyết thanh hoặc huyết tương (chống đông bằng heparin hoặc EDTA)
- Thành phần chính gồm có:
- Dung dịch chuẩn triglycerid (2,28 mmol/l)
- Chuẩn bị máy đo quang:
+ Chương trình đo mật độ quang (A).
+ Bước sóng 500 nm hoặc 546 nm.
+ Cho thuốc thử và chất thử vào 3 ống nghiệm theo bảng sau:
Bảng 5: Thiết kế thí nghiệm định lượng triglycerid
(phương pháp enzyme) Thuốc thử Ống trắng (-) Ống chuẩn
Huyết thanh (hoặc huyết tương)
+ Đo theo các bước sau:
Đo mật độ quang ống trắng.
Đo mật độ quang ống chuẩn.
Đo mật độ quang ống thử.
Khi đo nồng độ triglyceride theo chế độ A so với ống trắng, mật độ quang của ống chuẩn (AS) và ống thử (AT) sẽ được sử dụng để tính toán kết quả nồng độ triglyceride bằng công thức cụ thể.
Bình thường, nồng độ triglycerid huyết tương < 2,3 mmol/l.
Triglycerid là thành phần quan trọng trong lipoprotein huyết tương và việc xét nghiệm định lượng cholesterol, triglycerid cùng các thành phần lipoprotein máu là cần thiết để chẩn đoán và theo dõi rối loạn lipid máu Mức triglycerid cao có thể giúp phân biệt các dạng tăng lipid máu, từ đó điều chỉnh chế độ ăn uống hợp lý, như sử dụng dầu thực vật và hạn chế mỡ động vật, nhằm giảm nguy cơ xơ vữa động mạch và nhồi máu cơ tim.
- Triglycerid huyết tương tăng gặp trong một số bệnh:
+ Hội chứng tăng lipid máu.
- Triglycerid huyết tương giảm gặp trong một số bệnh:
+ Một số bệnh mạn tính, suy kiệt.
+ Cường chức năng tuyến giáp.
ĐỊNH LƯỢNG CHOLESTEROL TOÀN PHẦN TRONG HUYẾT THANH
2.1 Nguyên lý Định lượng cholesterol sau khi thuỷ phân bằng enzym cholesterol esterase (CHE) và oxy hóa bằng cholesterol oxidase (CHO) Đo mật độ quang của quinoimin tạo nên từ phản ứng của hydrogen peroxide (H2O2) với 4- aminophenazone và phenol nhờ sự xúc tác của peroxidase (POD), các phản ứng xảy ra như sau:
Cholesterol este + H2O Cholesterol + acid béo
H2O2 + 4-aminophenazone + phenol Quinonimin + H2O Đo mật độ quang của quinonimin so với ống chuẩn để tính được kết quả.
2.2 Chất thử và thuốc thử
Chất thử: huyết thanh hoặc huyết tương (chống đông bằng heparin; EDTA). Thuốc thử:
Thành phần chính gồm có:
Dung dịch cholesterol chuẩn 5,17 mmol/l.
- Chuẩn bị máy đo quang:
+ Chương trình đo mật độ quang (A).
+ Bước sóng 500 nm hoặc 546 nm.
+ Cho thuốc thử và chất thử vào 3 ống nghiệm theo bảng sau:
Bảng 6: Thiết kế thí nghiệm định lượng cholesterol toàn phần trong huyết thanh
(phương pháp enzyme quang học)
Thuốc thử Ống trắng (-) Ống chuẩn (S) Ống thử (T) Thuốc thử
Huyết thanh ( hoặc huyết tương)
+ Đo theo các bước sau:
Đo mật độ quang ống trắng.
Đo mật độ quang ống chuẩn.
Đo mật độ quang ống thử.
Khi đo nồng độ cholesterol theo chế độ A so với ống trắng, mật độ quang của ống chuẩn (AS) và ống thử (AT) sẽ được sử dụng để tính toán kết quả.
Bình thường, nồng độ cholesterol huyết tương 3,9-5,2 mmol/l.
Xét nghiệm định lượng cholesterol, triglycerid và các thành phần lipoprotein trong máu là công cụ quan trọng trong việc chẩn đoán và theo dõi rối loạn lipid máu Rối loạn lipid máu xảy ra khi nồng độ cholesterol và triglycerid trong huyết tương tăng cao, hoặc khi nồng độ HDL-C giảm và LDL-C tăng, dẫn đến nguy cơ gia tăng quá trình vữa xơ động mạch.
- Tăng cholestesrol gặp trong các bệnh lý:
+ Các bệnh về gan như vàng da tắc mật, viêm ống mật tiến triển.
+ Các bệnh thận: thận hư nhiễm mỡ, viêm cầu thận cấp và mạn.
+ Các bệnh về tụy như sau phẫu thuật tụy, thiếu insulin (tiểu đường).
+ Các bệnh về nội tiết như nhược năng tuyến giáp.
+ Các rối loạn về lipid.
+ Xơ vữa động mạch, cao huyết áp.
- Giảm cholestesrol gặp trong các bệnh lý:
Các tổn thương gan nặng, bao gồm xơ gan giai đoạn cuối, hoại tử gan cấp và bán cấp, cũng như nhiễm độc do thuốc và hóa chất như chloroform và CCl4, dẫn đến sự giảm đáng kể cholesterol toàn phần và cholesterol este hóa, thậm chí có thể xuống đến mức không còn Ngoài ra, tình trạng nhiễm trùng huyết cũng có thể xảy ra.
+ Các chứng thiếu máu: thiếu máu ác tính, thiếu máu huỷ huyết, thiếu máu nhược sắc nặng.
ĐỊNH LƯỢNG LIPID VÀ XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH II
ĐỊNH LƯỢNG HDL-C HUYẾT TƯƠNG THEO PHƯƠNG PHÁP ENZYM ĐO MÀU
Xét nghiệm HDL-C sử dụng hệ thống đồng nhất với hai thuốc thử, bao gồm hai giai đoạn riêng biệt Trong giai đoạn đầu tiên, cholesterol tự do được tách ra khỏi các hạt lipoprotein không phải HDL-C Quá trình này diễn ra nhờ sự hoạt động của các enzym cholesterol oxidase (CHO) và peroxidase (POD) kết hợp với cơ chất DSBmT, tạo ra một sản phẩm cuối cùng không màu.
Trong giai đoạn hai, thuốc thử 2 tách biệt cholesterol từ lipoprotein HDL-C thông qua chất tách thứ hai Cholesterol này được chuyển hóa dưới tác động của enzym cholesterol esterase (CHE), CHO và cơ chất 4-aminoantipyrine (4-AAP), tạo ra phức hợp màu xanh dương.
Các phản ứng xảy ra như sau:
LDL-C, VLDL-C, Chylomicrons Phức hợp không màu
HDL-C + H2O + O2 Cholest-4-en-3-one + Acid béo + H2O2
H2O2 kết hợp với DSBmT và 4-AAP tạo ra phức hợp màu xanh dương Đo mật độ quang của phức hợp này ở bước sóng 600/700nm cho thấy sự gia tăng mật độ quang tỷ lệ thuận với nồng độ LDL-C trong mẫu So sánh với nồng độ LDL-C chuẩn giúp tính toán kết quả chính xác.
1.2 Chất thử và thuốc thử
Huyết thanh hoặc huyết tương (chống đông bằng heparin hoặc EDTA)
Thành phần chính của thuốc thử bao gồm các yếu tố quan trọng, giúp xác định và phân tích hiệu quả của sản phẩm Những thành phần này đóng vai trò quyết định trong việc đảm bảo độ chính xác và độ tin cậy của kết quả thử nghiệm Việc hiểu rõ về các thành phần này là cần thiết để tối ưu hóa quy trình sử dụng thuốc thử trong các nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn.
Dung dịch chuẩn HDL-C 2,28 mmol/l.
Chuẩn bị máy đo quang:
+ Chương trình đo mật độ quang (A).
+ Bước sóng 600 nm hoặc 700 nm.
+ Cho thuốc thử và chất thử vào 3 ống nghiệm theo bảng sau:
Bảng 7: Thiết kế thí nghiệm định lượng HDL-C trong huyết thanh
(phương pháp enzyme quan học) Thuốc thử Ống trắng (-) Ống chuẩn (S) Ống thử (T) Thuốc thử 1
Huyết thanh (hoặc huyết tương)
+ Đo theo các bước sau:
Đo mật độ quang ống trắng.
Đo mật độ quang ống chuẩn.
Đo mật độ quang ống thử.
Khi đo nồng độ HDL-C theo chế độ A so với ống trắng, kết quả được tính dựa trên mật độ quang của ống chuẩn (AS) và ống thử (AT) bằng một công thức cụ thể.
Bình thường, nồng độ HDL-C huyết tương > 0,9mmol/l
Khoảng 1/3 tổng số cholesterol trong cơ thể được vận chuyển bởi HDL-C, loại cholesterol được mệnh danh là "cholesterol có ích" HDL-C có vai trò quan trọng trong việc đưa cholesterol ra khỏi động mạch trở về gan và bài tiết ra khỏi cơ thể, đồng thời kết hợp với cholesterol thừa trong các mảng xơ vữa, làm chậm sự phát triển của chúng Mức HDL-C thấp có liên quan đến nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch, trong khi mức HDL-C cao có thể giúp giảm nguy cơ này.
Khi kết quả xét nghiệm cholesterol toàn phần cao, HDL-C có thể được chỉ định để đánh giá thêm Thông thường, HDL-C không được xét nghiệm riêng lẻ mà thường được thực hiện cùng với các chỉ số khác như LDL-C, triglyceride và cholesterol toàn phần.
Giảm HDL-C có thể chỉ ra nguy cơ rối loạn lipid máu Ở người khỏe mạnh, tỷ số cholesterol toàn phần so với HDL-C là yếu tố quan trọng cần theo dõi, với tỷ số lý tưởng là dưới 4,0 Tỷ số này càng cao, nguy cơ xơ vữa động mạch càng lớn.
ĐỊNH LƯỢNG LDL-C HUYẾT TƯƠNG THEO PHƯƠNG PHÁP ENZYM ĐO MÀU
Xét nghiệm LDL-C sử dụng hệ thống đồng nhất hai thuốc thử và bao gồm hai giai đoạn riêng biệt Giai đoạn đầu tiên tách cholesterol từ các hạt lipoprotein không phải LDL-C Sau đó, cholesterol này được biến đổi bởi các enzym cholesterol esterase, cholesterol oxidase và peroxidase, kết hợp với cơ chất 4-aminoantipyrine để tạo ra sản phẩm cuối cùng không màu.
Trong giai đoạn hai của quá trình thử nghiệm, cholesterol được tách ra từ lipoprotein LDL-C Quá trình này diễn ra dưới sự xúc tác của các enzym cholesterol esterase và cholesterol oxidase, cùng với sự tham gia của cơ chất DSBmT và 4-AAP, tạo ra một phức hợp màu xanh dương.
Các phản ứng xảy ra như sau:
HDL-C, VLDL-C, Chylomicrons Cholest-4-en-3-one + Acid béo + H2O2
H2O2 – 4-AAP LDL-C + Chất không màu
LDL-C Cholest-4-en-3-one + Acid béo + H2O2
Phản ứng giữa H2O2, DSBmT và 4-AAP tạo ra phức hợp màu xanh dương, có thể đo mật độ quang tại bước sóng 540/660nm Sự gia tăng mật độ quang tỷ lệ thuận với nồng độ LDL-C trong mẫu Bằng cách so sánh với nồng độ LDL-C chuẩn, kết quả có thể được tính toán chính xác.
2.2 Chất thử và thuốc thử
Huyết thanh hoặc huyết tương (chống đông bằng heparin hoặc EDTA).
Thành phần chính gồm có:
Dung dịch LDL-C chuẩn 2,28 mmol/l.
- Chuẩn bị máy đo quang:
+ Chương trình đo mật độ quang (A).
+ Cho thuốc thử và chất thử vào 3 ống nghiệm theo bảng sau:
Bảng 8: Thiết kế thí nghiệm định lượng LDL-C trong huyết thanh bằng
(phương pháp enzyme quang học) Thuốc thử Ống trắng (-) Ống chuẩn (S) Ống thử (T) Thuốc thử 1
Huyết thanh (hoặc huyết tương)
+ Đo theo các bước sau:
Đo mật độ quang ống trắng.
Đo mật độ quang ống chuẩn.
Đo mật độ quang ống thử.
Khi đo nồng độ LDL-C theo chế độ A so với ống trắng, kết quả sẽ được tính dựa trên mật độ quang của ống chuẩn (AS) và ống thử (AT) theo công thức đã quy định.
Bình thường, nồng độ LDL-C huyết tương < 3,9 mmol/l.
LDL-C, hay còn gọi là "cholesterol xấu", khi tích tụ quá mức trong cơ thể, sẽ gây hẹp các mạch máu do cholesterol bám vào màng động mạch Sự tích tụ này kết hợp với các chất khác tạo thành các mảng xơ vữa, có thể bị rạn nứt, làm cho bề mặt động mạch trở nên gồ ghề Dòng máu chảy qua những khu vực này dễ bị rối loạn, dẫn đến tình trạng trì trệ và tăng nguy cơ hình thành cục máu đông Những cục máu đông này có thể phát triển dày lên, gây nguy cơ nghẽn mạch máu.
Khi xảy ra nghẽn mạch trong động mạch vành tim, điều này có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim Nếu cục máu đông bong ra và di chuyển trong dòng máu cho đến khi tắc ở một mạch nhỏ hơn, nó sẽ gây nghẽn mạch đó Nếu tình trạng này xảy ra ở mạch dẫn máu đến não, hậu quả sẽ là tai biến mạch máu não.
KỸ THUẬT ĐỊNH LƯỢNG PROTEIN I
ĐỊNH LƯỢNG ALBUMIN TRONG MÁU
1.1 Nguyên lý Ở pH = 4,1, albumin tác dụng với bromocresol green (BCG ) tạo thành phức hợp có màu xanh đậm (blue green). pH = 4,1
Albumin + BCG Phức hợp Albumin-BCG. Đậm độ màu tỷ lệ với nồng độ albumin và được đo bằng máy đo quang ở bước sóng 600 nm
1.2 Chất thử và thuốc thử
Huyết thanh, huyết tương, dịch màng bụng, dịch màng phổi…
Các hãng sản xuất thuốc thử có phương pháp pha chế và đóng gói khác nhau Ví dụ, kít của Beckman Coulter có nồng độ các chất trong dung dịch phản ứng là 100 mmol/L với đệm succinat có pH 4.2.
+ Cài đặt chương trình trên máy xét nghiệm bán tự động Chú ý các thông số quan trọng:
- Phương pháp đo: Đo điểm cuối (Endpoint).
- Giá trị chuẩn: Tùy theo loại dịch chuẩn được sử dụng mà có giá trị khác nhau.
Trước khi tiến hành sử dụng kít của hãng Beckman Coulter, cần trộn thuốc thử với nước cất theo tỷ lệ 29:121 Sau đó, cho vào các ống nghiệm nhỏ thành phần thuốc thử và chất thử theo quy định.
Bảng 9: Thiết kế thí nghiệm định lượng albumin trong huyết thanh bằng
(phương pháp enzyme quang học) Ống trắng Ống chuẩn Ống thử
Trộn đều các thành phần và để ở nhiệt độ phòng trong 5 phút Sử dụng máy đo theo chương trình, lần lượt kiểm tra ống trắng, ống chuẩn và ống thử Máy sẽ tự động tính toán kết quả hoặc thực hiện các phép tính tương tự như đối với fibrinogen đã đề cập trước đó.
Albumin huyết thanh người bình thường:
Albumin là loại protein chiếm 55-65% tổng lượng protein trong máu, đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển, dự trữ các chất và duy trì áp lực thẩm thấu Nó cũng được xem như một nguồn acid amin nội sinh, có khả năng liên kết hòa tan các hợp chất ít phân cực như bilirubin tự do và acid béo chuỗi dài, đồng thời có thể gắn kết với nhiều loại thuốc khác nhau.
Tăng albumin máu ít gặp và thường được gây ra bởi tình trạng mất nước nghiêm trọng và ứ tĩnh mạch quá mức
Giảm albumin máu có thể gặp các trường hợp sau:
- Giảm tổng hợp trong bệnh gan hoặc trong chế độ ăn thiếu chất đạm.
- Tăng dị hóa là kết quả của tổn thương mô và viêm.
- Giảm hấp thu các acid amin do bệnh đường tiêu hóa hoặc suy dinh dưỡng.
- Mất protein trong hội chứng thận hư hoặc bỏng
Giảm albumin máu nghiêm trọng dẫn đến giảm áp lực keo trong lòng mạch, gây ra tình trạng phù nề do nước thoát ra khoảng gian bào Bên cạnh đó, sự giảm albumin cũng làm giảm nồng độ các ion canxi và magiê, vì các ion này thường gắn với albumin trong máu.
ĐỊNH LƯỢNG PRO TEIN TOÀN PHẦN TRONG MÁU THEO PHƯƠNG PHÁP GORNALL
Các liên kết peptid trong protein tương tác với ion Cu++ trong môi trường kiềm, tạo ra phức hợp màu xanh tím Cường độ màu xanh này tỷ lệ thuận với nồng độ protein (số lượng liên kết peptid) có trong huyết thanh Kết quả được xác định bằng cách đo mật độ quang học so với chuẩn.
Phản ứng xảy ra như sau: Độ nhạy: xét nghiệm chính xác ở nồng độ protein từ 2 – 120 g/L.
2.2 Chất thử và thuốc thử
- Huyết thanh, huyết tương, dịch màng bụng, dịch màng phổi…
- Dung dịch protein chuẩn (Cs ` g/l).
Kali và natri tartate trong thuốc thử Gornall có tác dụng ngăn chặn sự kết tủa của đồng hydroxid, trong khi kali iodua giúp ngăn cản phản ứng tự khử của ion đồng.
Chú ý: Cách pha thuốc thử Gornall được thực hiện như sau
NaOH 30 g (hoặc 42 ml NaOH bão hòa).
Nước cất vừa đủ 1000 ml.
Bảo quản trong chai màu nâu, tránh ánh sáng.
Cho vào 3 ống nghiệm dung tích 10 ml:
Bảng 10: Thiết kế thí nghiệm định lượng Protein toàn phần trong huyết thanh
Thuốc thử Ống trắng (B) Ống chuẩn (S) Ống thử (T)
Dung dịch protein chuẩn 0 20 àl 0
Thuốc thử Gornall 1 ml 1 ml 1 ml
Liên kết peptid/protein + Cu +
Phức hợp xanh tím tớm
Lắc đều hỗn hợp và để yên ở nhiệt độ phòng trong 10 phút Tiến hành đo mật độ quang học tại bước sóng 530 nm, sau đó so sánh với ống trắng để xác định mật độ quang học thực của phức hợp màu xanh tím trong ống chuẩn (AS) và ống thử (AT).
Nồng độ protein ống thử (CT) được tính theo công thức:
Protein toàn phần huyết thanh chủ yếu được tổng hợp tại gan, tế bào máu, hạch lympho, lách và tủy xương Nồng độ protein toàn phần huyết thanh trong cơ thể thường ở mức ổn định.
Nồng độ protein toàn phần trong cơ thể thường dao động từ 60 - 80 g/L Khi mắc bệnh, nồng độ protein huyết thanh và các thành phần protein có thể thay đổi đáng kể Trong lâm sàng, sự giảm nồng độ protein huyết thanh thường được chú ý hơn cả.
- Giảm protein huyết thanh thường gặp:
Thiếu hụt protein trong chế độ ăn có thể dẫn đến tình trạng giảm cung cấp, thường gặp ở những người suy dinh dưỡng hoặc mắc bệnh Kwashiorkor Ngoài ra, các bệnh lý đường tiêu hóa như bệnh sprue cũng có thể gây ra sự tiêu hóa và hấp thu protein kém, làm trầm trọng thêm tình trạng này.
Crohn’s (viêm đại tràng tự miễn), thiếu hụt enzym tiêu hoá, thiếu hụt hệ thống vận chuyển acid amin,
+ Do giảm tổng hợp: Chủ yếu gặp trong bệnh gan như xơ gan, viêm gan món do gan tổng hợp 100% albumin, 80% globulin huyết thanh.
Bệnh thận, đặc biệt là hội chứng thận hư, gây ra tình trạng đào thải nhiều protein qua nước tiểu Sự giảm nồng độ protein trong máu dẫn đến giảm áp lực keo trong lòng mạch, gây ra tình trạng phù Ngoài hội chứng thận hư, bệnh thận còn có thể gặp trong viêm cầu thận mạn và suy thận.
Bệnh bỏng nặng: Mất máu và huyết tương qua vết bỏng.
Các trường hợp chảy máu, mất máu nói chung
+ Do dùng thuốc: Thuốc gây giảm protein huyết thanh bao gồm estrogen và thuốc tránh thai đường uống.
- Tăng protein huyết thanh: Ít gặp.
Tăn tương đối gặp trong các trường hợp máu cô do mất nước, mất điện giải nặng.
Tăng tuyệt đối xảy ra khi có sự gia tăng tổng hợp một loại protein bất thường, chẳng hạn như trong bệnh đa u tuỷ xương, nơi xuất hiện protein Bence-Jones (protein nhiệt tan), dẫn đến mức protein trong máu tăng cao, có thể đạt tới 160 g/L.
Prolonged blood collection can lead to a slight increase in serum protein levels Certain medications, such as steroids, androgens, corticosteroids, dextran, growth hormones, insulin, phenazopyridine, and progesterone, may also contribute to elevated total serum protein.
KỸ THUẬT ĐỊNH LƯỢNG PROTEIN II
ĐỊNH LƯỢNG PROTEIN NƯỚC TIỂU
1.1 Phương pháp đo độ đục (theo Kingsburry)
Kết tủa protein bằng acid sulphosalicylic 3% Đo độ đục và tính kết quả theo dung dịch protein chuẩn.
1.1.2 Chất thử và thuốc thử
- D.d sulphosalicylic 3%: Hoà tan 30 g acid sulphosalicylic và hoàn thành 1 lít trong bình định mức bằng nước cất.
- D.d protein chuẩn 0,3 g/l: Pha từ dung dịch protein có nồng độ dã biết.
Để thực hiện xét nghiệm nước tiểu 24 giờ, cần lấy mẫu nước tiểu trong suốt một ngày và lọc lấy 5-10 ml cho xét nghiệm Kết quả xét nghiệm máu thường phản ánh nồng độ các chất, trong khi kết quả nước tiểu lại tính toán dựa trên số lượng chất được đào thải trong 24 giờ Điều này là cần thiết vì chất lượng nước tiểu có thể thay đổi trong suốt cả ngày Do đó, để đánh giá chính xác tình trạng bệnh lý, việc tính toán số lượng chất đào thải trong 24 giờ là rất quan trọng.
Do đó phải đo thể tích nước tiểu trong 24 giờ.
Cách lấy nước tiểu 24 giờ:
Bước 1: Sau khi ngủ dậy, đi tiểu hết vào trong bồn vệ sinh mà không lấy mẫu nước tiểu thời điểm này.
Bước 2: Trong suốt phần còn lại của ngày hôm đó và buổi tối, hãy thu thập toàn bộ nước tiểu và cho vào một bình sạch Để bảo quản, bạn có thể thêm khoảng 10 – 20 ml toluen vào bình chứa.
Bước 3: Đúng 24 giờ sau Bước 1, thu thập mẫu nước tiểu cuối cùng và đổ dồn vào bình đựng Đo thể tích.
Cho vào 3 ống nghiệm nhỏ:
Bảng 11: Thiết kế thí nghiệm định lượng Protein trong nước tiểu
(bằng phương pháp đo độ đục)
Chất liệu ống trắng (B) ống chuẩn (S) ống thử (T)
Trộn đều Để yên 10 phút. Đo độ hấp thụ quang ở bước sóng 590 nm, của ống trắng, ống chuẩn và của ống thử
Nồng độ protein được tính theo công thức:
Lượng protein thải trong nước tiểu 24 giờ = CT x V (g/24h)
AB: độ hấp thụ quang của ống trắng
AS: độ hấp thụ quang của ống chuẩn
AT: độ hấp thụ quang của ống thử
CS: nồng độ dung dịch chuẩn (0,2 g/l)
CT: nồng độ protein trong mẫu thử nước tiểu (g/l).
V: thể tích nước tiểu 24 giờ (lít)
Trong lâm sàng có thể cho phép tới 0,3 g/24 giờ.
Phương pháp đo màu là một kỹ thuật chính xác hơn so với phương pháp đo độ đục trong việc xác định nồng độ protein Tuy nhiên, do nồng độ protein trong nước tiểu và dịch não tủy thấp hơn nhiều so với nồng độ protein trong huyết thanh, nên không thể sử dụng thuốc thử Gornall Hiện nay, đã có một số thuốc thử đo màu như Coomassie có độ nhạy đủ cao để định lượng protein trong nước tiểu và dịch não tủy.
Protein kết hợp với thuốc thử Coomassie trong môi trường acid phosphoric tạo ra sản phẩm màu xanh, với cường độ màu tỷ lệ thuận với nồng độ protein Việc đo màu được thực hiện ở bước sóng 578 nm, đồng thời so sánh với mẫu chuẩn để tiến hành định lượng chính xác.
1.2.2 Chất thử và thuốc thử
- Dung dịch chuẩn protein: 0,2 g/l (200 mg/l).
- Thuốc thử: sẵn dùng, gồm Coomassie G-250, phosphoric acid.
Bảng 11: Thiết kế thí nghiệm định lượng Protein trong nước tiểu
Chất liệu ống trắng (B) ống chuẩn (S) ống thử (T)
Thuốc thử 1 ml 1 ml 1 ml
Trộn đều Để 5 phút. Đo độ hấp thụ quang ở bước sóng 578 nm, của ống trắng (AB), ống chuẩn (As) và của ống thử (AT).
Nồng độ protein được tính theo công thức:
Lượng protein thải trong nước tiểu 24 giờ = CT x V (g/24h)
AB: độ hấp thụ quang của ống trắng
AS: độ hấp thụ quang của ống chuẩn
AT: độ hấp thụ quang của ống thử
CS: nồng độ dung dịch chuẩn (0,2 g/l)
CT: nồng độ protein trong mẫu thử nước tiểu (g/l).
V: thể tích nước tiểu 24 giờ (lít)
Tăng protein trong nước tiểu thường liên quan đến các bệnh thận, bao gồm bệnh thận nguyên phát và thứ phát, dẫn đến tăng tính thấm của cầu thận Trong trường hợp thận hư nhiễm mỡ, các protein có thể lọt qua màng lọc cầu thận và xuất hiện trong nước tiểu Sự mất mát protein qua thận gây giảm lượng protein huyết tương, làm giảm áp lực keo, từ đó gây ra triệu chứng phù do ứ nước ở dịch gian bào.
Protein niệu thường xảy ra do các nguyên nhân sau thận, chủ yếu là nhiễm khuẩn hoặc tổn thương đường tiết niệu Trong những trường hợp này, nước tiểu thường có sự xuất hiện của hồng cầu và bạch cầu.
Protein niệu có thể do nguyên nhân trước thận, mặc dù hiếm gặp, thường xảy ra trong bệnh đa u tủy xương (bệnh Kahler) Trong trường hợp này, protein huyết tương được sản xuất với số lượng lớn (120 – 160g/l) nhưng có phân tử lượng nhỏ, dẫn đến việc chúng xuất hiện trong nước tiểu Loại protein niệu này được gọi là protein Bence-Jones hay protein “nhiệt tan”.
XÉT NGHIỆM TỔNG PHÂN TÍCH NƯỚC TIỂU 10 THÔNG SỐ
Các thông số hoá sinh trong nước tiểu được xác định định lượng bằng thanh giấy thử sử dụng kỹ thuật đo phản quang Những thanh giấy này thường có 11 khu vực phản ứng, được trang bị sẵn các chất chỉ thị để phản ứng với các thành phần thường gặp trong nước tiểu.
Glucose trong nước tiểu được xác định thông qua phản ứng oxy hóa glucose thành acid gluconic và hydrogen peroxide (H2O2) nhờ enzyme glucose oxidase Sau đó, peroxidase xúc tác phản ứng giữa H2O2 và iodua Kali, tạo ra hợp chất có màu từ xanh lá cây đến nâu, tùy thuộc vào nồng độ glucose trong nước tiểu Phương pháp này cho phép xác định bán định lượng glucose trong nước tiểu với nồng độ từ 100mg/dl đến 200mg/dl.
Protein trong nước tiểu được xác định dựa trên phản ứng của protein với chất chỉ thị ở một pH nhất định Sự hiện diện của protein sẽ tạo ra màu xanh đến màu xanh lục, tùy thuộc vào nồng độ protein có trong nước tiểu.
- Bilurubin niệu (sắc tố mật): Bilirubin kết hợp với muối diazo (dichloroanilin diazo hóa ) trong môi trường acid mạnh thành phức hợp có mầu hồng xám
- Ceton niệu: Dựa vào phản ứng Legal: acid acetoacetic kết hợp với nitroprussid tạo thành phức hợp có màu tím hồng.
Máu và hemoglobin có khả năng xúc tác phân hủy hydrogen peroxide nhờ vào hoạt tính peroxidase, giải phóng oxy trong quá trình này Oxy được giải phóng sẽ oxy hóa chất chỉ thị 3,3’,5,5’-tetramethylbenzidin, tạo ra hợp chất có màu sắc biến đổi từ da cam sang xanh lục và cuối cùng là xanh đen.
Bạch cầu có thể được phát hiện qua tác dụng của enzyme esterase trong nước tiểu, nơi esterase xúc tác thủy phân dẫn xuất naphthyl este, giải phóng naphthyl phản ứng với muối diazo tạo thành hợp chất màu đỏ be đến đỏ tím Độ nhạy của xét nghiệm này dao động từ 5-15 tế bào/µl nước tiểu, và ngay cả khi bạch cầu bị phân giải, esterase vẫn hoạt động, do đó, thử nghiệm này có thể bổ sung cho xét nghiệm tế bào.
Thử nghiệm nitrit dựa trên nguyên lý chuyển hóa nitrat từ thức ăn thành nitrit bởi vi khuẩn gram (-) trong nước tiểu Nitrit sau đó phản ứng với p-arsanilic acid trong môi trường acid để tạo thành phức hợp diazo Phức hợp này tiếp tục kết hợp với 1,2,3,4-tetrahydrobenzoquinolin-3-ol, tạo ra hợp chất có màu hồng đặc trưng cho nitrit, mà không phản ứng với bất kỳ chất nào khác có trong nước tiểu.
Urobilinogen là một xét nghiệm dựa trên sự phản ứng giữa urobilinogen và thuốc thử diazo, tạo thành hợp chất màu đỏ hồng Phản ứng này đặc hiệu cho urobilinogen và stescobinlinogen, giúp xác định sự hiện diện của các chất này trong cơ thể.
Tỷ trọng nước tiểu được xác định thông qua sự hiện diện của chất chỉ thị màu và nồng độ các chất điện ly, tạo ra các sắc thái từ xanh lục đến vàng.
pH nước tiểu có thể được xác định bằng cách sử dụng giấy thử có chứa các chất chỉ thị như đỏ methyl, phenolphtalein và bromothymol blue Những chất này cho phép nhận biết màu sắc của nước tiểu, biến đổi từ đỏ da cam đến vàng, xanh lục và xanh, tùy thuộc vào mức pH của nó.
2.2 Chất thử và thuốc thử
- Que thử nước tiểu sẵn dùng.
Lấy que thử ra khỏi lọ và đậy nắp ngay Nhúng toàn bộ phần có các ô thử của que thử vào nước tiểu mới lấy, đã trộn đều và chưa ly tâm, sau đó lấy ra ngay để tránh làm hoà tan thuốc thử.
Khi sử dụng que thử, hãy nhẹ nhàng gạt cạnh que vào thành ống đựng nước tiểu để loại bỏ nước thừa Giữ que nằm ngang và thấm nhẹ hai cạnh que bằng giấy thấm để tránh trộn lẫn thuốc thử và ngăn nước tiểu thấm vào tay Đọc kết quả sau 1-2 phút.
Có 2 cách đọc kết quả:
Để đọc kết quả từ que thử, bạn cần sử dụng bảng màu mẫu được dán kèm trong hộp Đặt que thử bên cạnh bảng màu và so sánh cường độ màu của từng ô thử với các ô màu mẫu tương ứng Khi màu sắc của que thử và ô mẫu trùng khớp, bạn sẽ đọc kết quả được ghi kèm theo ô mẫu đó.
Nguyên tắc của phương pháp này là chiếu tia sáng đơn sắc vào từng ô màu, trong đó một phần ánh sáng sẽ bị ô màu hấp thụ và phần còn lại sẽ phản xạ trở lại Dựa vào cường độ ánh sáng ban đầu và ánh sáng phản xạ, ta có thể tính toán được phần ánh sáng bị hấp thụ Mức độ ánh sáng bị hấp thụ này phụ thuộc vào đậm độ của ô màu, tức là liên quan đến nồng độ chất thử trong mẫu nước tiểu.
Glucose thường không có trong nước tiểu, chỉ xuất hiện một lượng rất nhỏ không thể phát hiện bằng các phương pháp thông thường Tuy nhiên, glucose niệu có thể xuất hiện tạm thời trong một số trường hợp như gây mê, sử dụng glucocorticoid trong thời kỳ mang thai, hoặc do tiêu thụ quá nhiều đường Khi glucose niệu xuất hiện liên tục, thường liên quan đến đái tháo đường tụy, khi mức đường huyết vượt quá khả năng hấp thu của thận Ngoài ra, glucose niệu cũng có thể xảy ra khi đường huyết bình thường nhưng ngưỡng thận đối với glucose thấp, như trong đái tháo đường do thận Ngoài ra, glucose niệu còn có thể gặp trong các tình trạng ưu năng của một số tuyến nội tiết như tuyến yên, tuyến giáp và tuyến thượng thận.
Xét nghiệm này chuyên biệt cho glucose và không phản ứng với lactose, galactose, fructose hay các chất chuyển hóa khác Nồng độ vitamin C cao trong nước tiểu có thể gây ra kết quả âm tính giả, vì vậy một số loại băng thử được thiết kế thêm ô thử để xác định vitamin C Ngoài ra, dương tính giả cũng có thể xảy ra do chất tẩy rửa có tính oxy hóa trong lọ đựng nước tiểu.
PHÁT HIỆN SẮC TỐ MẬT (BILIRUBIN) TRONG NƯỚC TIỂU (thử nghiệm Harrison)
Oxy hóa bilirubin thành biliverdin có màu xanh bằng thuốc thử Fouchet (FeCl3 trong acid trichloacetic).
1.2 Chất thử và thuốc thử
- Dung dịch (NH4)2 SO4 bão hoà
Cho vào ống nghiệm to:
- Nước tiểu mới lấy 5 ml
Lắc đều, cho thêm 4 - 5 giọt amonisunfat bão hoà Lắc đều để yên 10 phút Lọc bằng giấy lọc, giữ lấy tủa trên giấy lọc Thấm khô tủa bằng giấy thấm.
Nhỏ lên tủa 1giọt thuốc thử Fouchet.
Phản ứng dương tính (có bilirubin trong nước tiểu), nếu có 1 vòng xanh xung quanh giọt thuốc thử Fouchet sau 1vài phút.
Sự hiện diện của bilirubin trong nước tiểu cho thấy đó là bilirubin trực tiếp (bilirubin liên hợp), vì loại này tan trong nước Ngược lại, bilirubin gián tiếp (bilirubin tự do) không tan trong nước và kết hợp với albumin trong máu, tạo thành phân tử lớn không thể qua được màng lọc cầu thận.
Bilirubin niệu dương tính thường xuất hiện trong các trường hợp viêm gan và tắc mật Để chẩn đoán nguyên nhân gây vàng da, cần kết hợp kết quả xét nghiệm bilirubin huyết thanh với triệu chứng lâm sàng.
- Dung dịch BaCl2 10% pha trong nước.
- Thuốc thử Fouchet: hoà tan 25 gam acid trichloacetic trong 100 ml nước. Thêm vào 10 ml dung dịch BaCl2 10% và trộn đều.
- Dung dịch amonisunfat bão hoà :
- Dung dịch iod trong alcol etylic:
Trộn đều cho thêm: alcol 95 0 95 ml
ĐỊNH LƯỢNG ACID URIC TRONG NƯỚC TIỂU
Uric acid is oxidized by uricase, resulting in the formation of hydrogen peroxide (H2O2) Under the catalysis of peroxidase, H2O2 reacts with 3,5-dichloro-2-hydroxybenzenesulfonic acid (DCHBS) and 4-aminophenazone (PAP), producing a red-violet quinonimine compound.
H2O2 + DCHBS + PAP N-(4-antipyryl)-3-chloro-5-sulfonat-p- benzoquinon imin (quinonimin) + HCl + 4 H2O
2.2 Chất thử và thuốc thử
- Nước tiểu pha loãng 10 lần (1+9) bằng nước cất.
Các hãng sản xuất thuốc thử có cách pha chế và đóng gói khác nhau Đối với kít của Beckman Coulter, nồng độ các chất trong dung dịch phản ứng bao gồm đệm phosphate (pH 7.5) với nồng độ 42 mmol/L.
Khi làm pha theo tỷ lệ hướng dẫn ghi trên hộp thuốc thử.
- Dung dịch acid uric chuẩn 476 mol/l (8 mg/dl).
+ Cài đặt chương trình đo nồng độ acid uric trên máy xét nghiệm bán tự động Chú ý các thông số quan trọng:
- Phương pháp đo: Đo điểm cuối (Endpoint).
- Giá trị chuẩn: Tùy theo loại dịch chuẩn được sử dụng mà có giá trị khác nhau.
- Giới hạn tuyến tính: 119 – 23800 μmol/L.
+ Cho vào các ống nghiệm dung tích 5 ml:
Bảng 12: Thiết kế thí nghiệm định lượng acit uric trong nước tiểu
Thuốc thử Ống trắng Ống chuẩn Ống thử
Thuốc thử 1 ml 1 ml 1 ml
Dung dịch chuẩn acid uric 476 mol/l - 20 l -
Huyết thanh hoặc nước tiểu pha loãng
Trộn đều hỗn hợp và để yên trong 10 phút ở nhiệt độ phòng Tiến hành đo mật độ quang học của phức hợp đỏ quinonimin tại bước sóng 546 nm trong ống trắng (AB), ống chuẩn (AS) và ống thử (AT).
Nồng độ acid uric được tính kết quả theo công thức:
CS là nồng độ dung dịch acid uric chuẩn.
Acid uric là sản phẩm cuối cùng của quá trình thoái biến purin, được tạo thành tại gan và đào thải qua thận Trong máu, acid uric thường tồn tại dưới dạng monosodium urate, với giới hạn hòa tan khoảng 6,8 mg/dl ở nhiệt độ 37oC Khi nồng độ acid uric cao hơn mức này, các tinh thể urate có thể bị kết tủa, tuy nhiên, trong một số trường hợp, các tinh thể này không kết tủa do ảnh hưởng của các chất hòa tan trong máu Phần lớn acid uric trong máu ở dạng tự do, chỉ khoảng dưới 4% gắn với protein huyết thanh.
Quá trình tổng hợp và bài tiết axit uric diễn ra trong trạng thái cân bằng, với khoảng 2/3 tổng lượng axit uric được sản xuất mới và tương tự như vậy được đào thải chủ yếu qua thận.
Acid uric hòa tan dễ dàng trong nước tiểu, và pH của nước tiểu có ảnh hưởng lớn đến khả năng hòa tan này Bình thường, cơ thể thải ra hơn 800 mg acid uric mỗi ngày Do đó, pH kiềm trong nước tiểu giúp tăng cường quá trình thải acid uric, trong khi pH toan làm giảm khả năng đào thải này.
- pH 5,0: acid uric bảo hòa với nồng độ từ 390-900 μmol/L
- pH 7,0: acid uric bảo hòa với nồng độ từ 9480-12000 μmol/L
Tăng nồng độ acid uric máu thường xảy ra do sản xuất quá mức hoặc giảm bài tiết, với nguyên nhân chính là sự giảm bài tiết acid uric ở ống thận Khoảng 1% trường hợp tăng acid uric máu là do khiếm khuyết enzyme chuyển hóa purin Tình trạng tăng acid uric nguyên phát liên quan đến các bệnh như Gout, hội chứng Lesch-Nyhan, hội chứng Kelley Seegmiller và sự gia tăng hoạt động enzym tổng hợp phosphoribosyl pyrophosphate Trong khi đó, tăng acid uric thứ phát có thể liên quan đến nhiều bệnh lý khác nhau như suy thận, tăng sản tủy xương, huyết tán, bệnh vẩy nến, đa hồng cầu vera, bệnh dự trữ glycogen týp I, tiêu thụ rượu quá mức, nhiễm độc chì, chế độ ăn giàu purine, nhịn ăn, đói và hóa trị.
Giảm nồng độ acid uric trong máu có thể xảy ra do giảm sản xuất acid uric, như trong bệnh xanthin niệu và thiếu hụt purine nucleoside phosphorylase di truyền, hoặc thông qua việc sử dụng thuốc allopurinol Ngoài ra, thận có thể tăng cường bài tiết acid uric trong các trường hợp như bệnh AIDS, hội chứng Fanconi, đái tháo đường, bỏng nặng và hội chứng tăng bạch cầu ái toan Việc định lượng acid uric trong nước tiểu rất quan trọng để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp cho tình trạng tăng acid uric máu, có thể bao gồm thuốc tăng cường đào thải ở thận hoặc allopurinol để ngăn chặn tổng hợp purine.