Phương pháp nghiên cứu
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THỜI ĐẠI, TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM 1.1 Bối cảnh xã hội và tình hình văn học Nhật Bản từ thời minh Trị đến thời Chiêu Hòa 1.1.1 Bối cảnh lịch sử
Cuộc đời và quá trình sáng tác của Yasunari Kawabata 1 Giai đoạn thứ nhất từ 1899-1930
1.2.1 Giai đoạn thứ nhất từ 1899-1930
1.2.2 Giai đoạn thứ hai từ 1930-1949
1.2.3 Giai đoạn thứ ba từ 1949-1972
Đôi nét về tác phẩm “Xứ tuyết” 1 Hoàn cảnh sáng tác
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG HÌNH ẢNH ĐẤT NƯỚC NHẬT BẢN
VÀ GIÁ TRỊ CỦA CHÚNG QUA TIỂU THUYẾT “X Ứ TUYẾT ”
2.1 Thực trạng xã hội Nhật Bản từ thời Minh Trị đến thời Chiêu Hòa qua tác phẩm “Xứ tuyết”
Thiên nhiên và phong tục tập quán 1 Hình ảnh thiên nhiên
Tính cách con người Nhật Bản 1 Nhân vật Shimamura
Giá trị của hệ thống hình ảnh nước Nhật Bản qua tiểu thuyết “Xứ tuyết” 1 Giá trị hiện thực
1 Lý do chọn đề tài
Nhật Bản, hay còn gọi là Nihon hay Nippon, nổi tiếng với hình ảnh đất nước mặt trời mọc, kimono và hoa anh đào Quốc gia này không chỉ mang đến giá trị tinh thần cho người dân mà còn cho toàn nhân loại Với nền văn hóa đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc, Nhật Bản còn sở hữu một nền văn học phong phú, có thể sánh ngang với các nền văn học lớn như Nga, Pháp và Trung Quốc Điều này không chỉ thể hiện qua bề dày lịch sử mà còn qua những giá trị vật chất và tinh thần độc đáo, tạo nên sự đặc sắc riêng biệt của đất nước này.
Cuộc Duy Tân Minh Trị năm 1868 đã mang lại sự thay đổi sâu sắc cho Nhật Bản trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là văn học Thời kỳ này chứng kiến sự xuất hiện của nhiều nhà văn nổi bật như Mori Ogai, Ryunosuke Akutagawa và Mishima Yukio, góp phần làm mới nội dung và hình thức văn học Tuy nhiên, Yasunari Kawabata vẫn là nhân vật nổi bật nhất với những tác phẩm có giá trị, trong đó tiểu thuyết “Xứ tuyết” đã giúp ông giành giải Nobel văn chương vào năm 1968.
Tác phẩm không chỉ thu hút độc giả bởi nội dung phong phú mà còn bởi nghệ thuật độc đáo, khắc họa cuộc hành trình của một anh trai từ thành phố đến vùng quê hẻo lánh, phản ánh rõ nét thực tại Nhật Bản thời bấy giờ Qua tác phẩm, độc giả sẽ hiểu sâu sắc hơn về thiên nhiên, tính cách con người và văn hóa của xứ sở hoa anh đào, cùng với những giá trị và thông điệp sâu sắc mà tác phẩm truyền tải Điều này cho thấy ý nghĩa quan trọng của tác phẩm trong đời sống tinh thần của người dân Nhật Bản.
Tiểu thuyết "Xứ tuyết" của Yasunari Kawabata không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật lớn mà còn phản ánh sâu sắc hình ảnh nước Nhật Bản Qua tác phẩm, các vấn đề xã hội, tính cách con người, thiên nhiên và phong tục tập quán của Nhật Bản được thể hiện rõ nét Điều này tạo cơ hội cho người đọc hiểu biết sâu hơn về đất nước và văn hóa Nhật Bản, đồng thời là nguồn cảm hứng để khám phá nhiều khía cạnh khác nhau của xã hội Nhật Bản.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Kawabata là một nhà văn nổi tiếng, được giải thưởng Nobel văn chương năm
Kawabata, một tác giả nổi bật từ năm 1968, đã nhận được nhiều đánh giá cao nhờ những đóng góp văn học của mình Tác phẩm của ông không chỉ được biết đến rộng rãi mà còn được dịch ra nhiều ngôn ngữ trên toàn cầu Độc giả Việt Nam đã tiếp cận các tác phẩm của Kawabata chỉ một năm sau khi ông nhận giải thưởng danh giá.
Vào năm 1969, một số tác phẩm dịch của Kawabata đã được giới thiệu tại Việt Nam, bao gồm "Tiếng rền của núi" (dịch bởi Vũ Thư Thanh), "Thủy Nguyệt" (dịch bởi Chu Sỹ Hạnh), và "Nốt ruồi" (dịch bởi Mai Dzam), tất cả đều được đăng trên Tạp chí Văn, Sài Gòn số 122 Ngoài ra, tác phẩm "Vùng băng tuyết" (dịch bởi Chu Việt) cũng được Nhà xuất bản Trình bày phát hành trong năm này Đây là những bản dịch đầu tiên của Kawabata xuất hiện tại nước ta.
Từ những năm 1970, đặc biệt sau khi đất nước thống nhất, tác phẩm của Kawabata đã được phát hành rộng rãi và đến tay bạn đọc trên toàn quốc, trong đó có tác phẩm "Rập rờn cánh hạc" do Nguyễn Tường Minh dịch.
Sông Thao, 1970), Vùng băng tuyết (Giang Hà Vy dịch, Nhà xuất bản Mũi Cà Mau,
1988), Cố đô (Thái Văn Hiến dịch, Nhà xuất bản Hải Phòng, 1988), Người đẹp say ngủ (Vũ Đình Phòng dịch, Nhà xuất bản Văn học, 1990),… Những năm đầu thế kỷ
Một số tác phẩm của Kawabata đã được dịch và đăng trên các báo, tạp chí bởi các dịch giả như Hoàng Long, Đào Thị Thu Hằng, Mai Kim Ngọc, Nhật Chiêu, Lê Huy Bắc Các ấn phẩm tiêu biểu bao gồm "Tuyển tập Y.Kawabata" (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2001) và "Tuyển tập tác phẩm Yasunari Kawabata" (Nhà xuất bản Lao Động, Trung tâm văn hóa Đông – Tây, 2005) Nhiều truyện ngắn của Y.Kawabata cũng được đăng tải trên các tạp chí và báo như Văn nghệ, Quân đội, và Văn học nước ngoài.
Vào năm 1969, nhà văn Kawabata đã được giới thiệu qua một loạt bài nghiên cứu, cung cấp cái nhìn tổng quan về cuộc đời và sự nghiệp của ông Công trình của Lưu Đức Trung cũng góp phần làm rõ những đóng góp nổi bật của Kawabata trong văn học.
Yasunari Kawabata, một trong những nhà văn lớn của Nhật Bản, đã để lại dấu ấn sâu sắc trong văn học thế giới qua những tác phẩm của mình Chuyên luận "Yasunari Kawabata, cuộc đời và tác phẩm" do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành, cùng với bài viết của Vũ Như Thanh trên Tạp chí Văn, đã nghiên cứu kỹ lưỡng về cuộc đời và sự nghiệp của ông Lưu Đức Trung cũng đã đề cập đến nghệ thuật kể chuyện của Kawabata trong bài viết "Thi pháp tiểu thuyết Yasunari Kawabata" nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông Fedorenko, trong tác phẩm "Kawabata – con mắt nhìn thấu cái đẹp", đã phân tích ảnh hưởng của mĩ học Thiền luận lên Kawabata, nhấn mạnh rằng ngôn ngữ của ông mang đậm phong cách Nhật Bản, thể hiện sự ngắn gọn và sâu sắc Chất thơ trong văn xuôi, nghệ thuật ngôn từ điêu luyện và thái độ trân trọng đối với con người và thiên nhiên đã làm cho sáng tác của Kawabata trở thành hiện tượng xuất sắc trong văn học Nhật Bản và thế giới Bài phát biểu của Tiến sĩ Anders Osterling tại lễ trao giải Nobel văn chương năm 1968 cũng đã trực tiếp bàn về nghệ thuật kể chuyện độc đáo của Kawabata.
Một số bài viết khác đã đề cập đến diện mạo của Yasunari Kawabata, trong đó có bài của Đào Hữu Dũng mang tên “Chân dung Yasunari Kawabata – giải văn chương Nobel 1968”, được đăng trên Tạp chí Văn, Sài Gòn số 90 tháng 6/1969 Ngoài ra, còn có bài viết “Yasunari Kawabata dưới nhãn quan phương” cũng đáng chú ý.
Bài viết "Tây" của Chu Sĩ Hạnh được đăng trên Tạp chí Văn, Sài Gòn vào năm 1969, tiếp theo là tiểu thuyết "Xứ tuyết" được dịch từ nguyên tác tiếng Nhật bởi Vũ Như Thanh.
Trên Tạp chí Văn, Sài Gòn số tháng 3 năm 1972 có bài phỏng dịch “Yasunari
Kawabata, nhà văn Nhựt Bổn đầu tiên được lãnh giải thưởng văn học Nobel” của Mai
Chưởng Đức Yasunari Kawabata còn có mặt trong “Từ điển văn học” xuất bản năm
1983 Nhưng đáng tiếc là tác giả nổi tiếng này lại nằm trong phần bổ sung của từ điển với số dòng khá khiêm tốn chỉ có 600 dòng
Vào năm 1991, Nhật Chiêu đã giới thiệu tác phẩm “Kawabata, người cứu rỗi cái Đẹp” trên Tạp chí Văn và tuần báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1992 Kawabata cũng được nhắc đến trong bài viết “Sáu gương mặt tiêu biểu của văn học hiện đại Nhật Bản” của tác giả Ngô Quân, nhấn mạnh con đường tự sáng tạo nghệ thuật không bị ảnh hưởng bởi phương Tây và sự thành công trong việc hòa nhập vào dòng chảy văn học thế kỷ XX Đến năm 2000, nhà nghiên cứu Phan Nhật Chiêu tiếp tục phát triển các chủ đề này trong các tác phẩm của mình.
Bài viết “Thế giới Yasunari Kawabata (hay là cái đẹp: hình và bóng)” trên Tạp chí Văn học số 3 khám phá vẻ đẹp, nỗi buồn và sự cô đơn qua góc nhìn nghệ thuật của Yasunari Kawabata.
Trong bài viết “Thi pháp tiểu thuyết của Yasunari Kawabata – nhà văn lớn Nhật Bản” trên Tạp chí Nghiên cứu văn học số 9/1999, Lưu Đức Trung đã phân tích những đặc trưng thi pháp tiểu thuyết của Kawabata, thể hiện rõ qua ba tác phẩm tiêu biểu: “Xứ tuyết”, “Ngàn cánh hạc” và “Cố đô” Ông nhận định rằng chất trữ tình sâu lắng và nỗi buồn êm dịu trong tác phẩm của Kawabata có thể được xem là sự kế thừa từ dòng văn học “nữ tính” trong thời kỳ Heian (794-1185).
1192), từ tác phẩm Genji Monogatari (Truyện Genji) của Murasaki Shikibu (978-
1044) đầy chất bi cảm” [14; tr.11]