1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trung tâm Thông tin – Thư viện Library and Information Center40918

98 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 0,91 MB

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (9)
  • 2. T ng quan tình hình nghiên cứu (0)
    • 2.1. Trên thế giới (11)
    • 2.2. Ở Việt Nam (12)
  • 3. Mục tiêu nghiên cứu (14)
  • 4. Phạm vi nghiên cứu (14)
  • 5. Câu hỏi nghiên cứu (15)
  • 6. Giả thuyết nghiên cứu (15)
  • 7. Phương pháp nghiên cứu (15)
  • 8. Nhiệm vụ nghiên cứu (16)
  • 9. Kết cấu của luận văn (16)
  • Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH CÁC CHÍNH SÁCH ĐỊNH HƯỚNG ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ SẠCH (17)
    • 1.1. Các khái niệm liên quan đến công nghệ (17)
      • 1.1.1. Khái niệm công nghệ (17)
      • 1.1.2. Đ i mới công nghệ (0)
      • 1.1.3. Khái niệm công nghệ sạch (19)
    • 1.2. Các khái niệm liên quan (21)
      • 1.2.1. Khái niệm chính sách (21)
      • 1.2.2. Thủy sản, nuôi trồng thủy sản (23)
      • 1.2.3. Phát triển bền vững (24)
    • 1.3. Các tiêu chí sản xuất thủy sản sạch (26)
      • 1.3.1. Trên thế giới (26)
      • 1.3.2. Ở Việt Nam (27)
    • 1.4. Chính sách áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản (30)
      • 1.4.1. Nội dung chủ yếu của chính sách áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản (30)
      • 1.4.2. Đặc điểm của chính sách áp dụng cộng nghệ sạch trong sản xuất thủy sản (32)
    • 1.5. Ý nghĩa của công nghệ sạch trong nuôi trồng thủy sản (33)
    • 1.6. Mối quan hệ giữa chính sách và hoạt động áp dụng công nghệ sạch (35)
  • CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT THỦY SẢN VÀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHO VIỆC ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ SẠCH (37)
    • 2.1. T ng quan về hoạt động sản xuất thủy sản ở Hải Dương (37)
      • 2.1.1. Tình hình sản xuất thủy sản ở Hải Dương (37)
      • 2.1.2. Đánh giá chung về những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển thủy sản ở tỉnh Hải Dương (40)
    • 2.2. Thực trạng công nghệ sản xuất thủy sản ở huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương (44)
      • 2.2.1. Hiện trạng sản xuất thủy sản ở huyện Nam Sách (44)
      • 2.2.2. Hiện trạng về công nghệ sản xuất thủy sản của huyện (48)
      • 2.2.3. Đánh giá chung về hiện trạng phát triển nuôi thủy sản trong huyện 50 2.3. Thực trạng chính sách liên quan đến công nghệ sạch và phát triển bền vững trong sản xuất thủy sản (53)
      • 2.3.1. Chính sách của khu vực có liên quan đến phát triển bền vững trong sản xuất thủy sản (55)
      • 2.3.2. Chính sách của Trung ƣơng về công nghệ, và h trợ đầu tƣ, đ i mới công nghệ trong sản xuất thủy sản (0)
      • 2.3.3. Chính sách của địa phương về công nghệ, và h trợ đầu tư, đ i mới công nghệ trong sản xuất thủy sản (0)
      • 2.3.4. Đánh giá thực trạng chính sách liên quan về đ i mới công nghệ, về công nghệ sạch và về áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy (0)
      • 2.4.1. Điều kiện khách quan (68)
      • 2.4.2. Điều kiện chủ quan (71)
  • Chương 3 CHÍNH SÁCH CHO VIỆC ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ SẠCH (76)
    • 3.1. Kịch bản của các chính sách (76)
      • 3.1.1. Kịch bản triết lý (76)
      • 3.1.2. Kịch bản mục tiêu (76)
      • 3.1.3. Kịch bản phương tiện (77)
      • 3.1.4. Kịch bản hoạt động (78)
      • 3.1.5. Kịch bản tác động (80)
    • 3.2. Nội dung của các chính sách (82)
      • 3.2.1. Chính sách ƣu tiên về tài chính cho các t chức, cá nhân tham gia vào quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thủy sản có áp dụng công nghệ sạch (0)
      • 3.2.2. Chính sách h trợ các điều kiện cần thiết để khuyến khích thành lập các t hợp tác, hợp tác xã, liên hợp hợp tác xã, hội ngành nghề sản xuất thủy sản trong huyện (0)
      • 3.2.3. Chính sách chủ động h trợ thông tin, tƣ vấn tìm kiếm, lựa chọn công nghệ, bồi dƣỡng nhân lực cho t chức, cá nhân áp dụng công nghệ sạch nuôi thủy sản (0)
      • 3.2.4. Chính sách h trợ tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm thủy sản có áp dụng công nghệ sạch (0)
  • KẾT LUẬN (95)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (97)

Nội dung

T ng quan tình hình nghiên cứu

Trên thế giới

Dự án "Nghiên cứu chính sách phục vụ phát triển bền vững PORESSFA" của cộng đồng chung Châu Âu đã phân tích nghề nuôi tôm tại Ấn Độ, Bangladesh, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2002 – 2005, đưa ra khuyến nghị nhằm bảo vệ môi trường sinh thái và cải thiện chính sách phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững Các nhà nghiên cứu Thái Lan đã đề xuất nguyên tắc "phòng ngừa" và "sản xuất hiện đại từ thủ công", nhấn mạnh việc sử dụng công nghệ tiên tiến thân thiện với môi trường, thiết lập quản lý hiệu quả và khuyến nghị người nuôi không xả chất độc hại ra môi trường Họ cũng khuyến khích xử lý chất thải và thủy sản chết để giảm thiểu ô nhiễm, đồng thời đề ra tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế trong nuôi trồng thủy sản.

Theo tài liệu của Khoa Thủy sản Đại học Nông Lâm Huế (2009), cuốn Giáo trình quản lý dựa vào cộng đồng và xây dựng vùng nuôi trồng thủy sản an toàn, xuất bản bởi Nxb Đại học Huế, trang 35, nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý cộng đồng trong việc phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản.

Nghiên cứu của APFIC/FAO (2011) chỉ ra rằng, mục tiêu chính của các nhà hoạch định chính sách trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ban đầu chủ yếu là phát triển nuôi trồng thủy sản nhằm tăng sản lượng, thu ngoại tệ và tạo việc làm Tuy nhiên, phát triển bền vững thường không được chú trọng và chủ yếu dựa vào phương thức truyền thống, dẫn đến khó khăn trong quản lý và lập kế hoạch Nhiều quốc gia thiếu khung pháp lý và quy định về công cụ đánh giá, không theo kịp công nghệ mới trong nuôi trồng thủy sản Chỉ khi đối mặt với các vấn đề như ô nhiễm môi trường và sản phẩm không an toàn, các quốc gia mới bắt đầu áp dụng công cụ đánh giá và chính sách nhằm hướng tới công nghệ thân thiện với môi trường Xu hướng toàn cầu hiện nay đang chuyển từ sản xuất truyền thống sang nuôi trồng thủy sản có trách nhiệm, tập trung vào hệ thống sản xuất bền vững ngày càng rõ nét.

Ở Việt Nam

Kỷ yếu Hội thảo VINAFISH (2004) đã ghi nhận nhiều ý kiến tham luận về phát triển nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, nhằm nâng cao hiệu quả và tính bền vững của ngành Các tham luận cũng chỉ ra những tác động tiêu cực của nuôi trồng thủy sản đối với môi trường, đồng thời đề xuất định hướng phát triển thủy sản một cách bền vững và hiệu quả.

Nguyễn Quang Lịch (2009) trong bài viết của mình đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường quản lý dựa vào cộng đồng để xây dựng vùng nuôi trồng thủy sản an toàn, nhằm giảm thiểu rủi ro và tác động tiêu cực đến môi trường, cũng như hạn chế dịch bệnh Những khuyến nghị này đóng vai trò quan trọng trong việc hướng tới phát triển các vùng sản xuất thủy sản bền vững Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa đề xuất các chính sách cụ thể để áp dụng các công nghệ tiên tiến nhằm khắc phục những rủi ro đã nêu, từ đó đạt được mục tiêu xây dựng vùng nuôi thủy sản an toàn.

Luận văn thạc sỹ của Trương Minh Nhựt (2010) tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã phân tích vai trò của công cụ tài chính nhà nước trong việc thúc đẩy đổi mới công nghệ, đặc biệt là trong các doanh nghiệp chế biến dừa tỉnh Bến Tre Nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng của đổi mới công nghệ và hiện trạng của nó trong các doanh nghiệp, đồng thời đề xuất giải pháp sử dụng công cụ tài chính để hỗ trợ quá trình này Mặc dù đổi mới công nghệ mang lại nhiều lợi ích thiết thực, nhưng thực tế cho thấy việc chỉ dựa vào công cụ tài chính để thúc đẩy đổi mới đã không còn phù hợp với sự phát triển công nghệ nhanh chóng hiện nay.

Các nhà nghiên cứu đã thống nhất về lý luận và thực tiễn trong phát triển thủy sản bền vững, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới công nghệ và thay đổi nhận thức Họ đề xuất áp dụng các quy trình nuôi trồng mới và chính sách hỗ trợ nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến phát triển bền vững Đặc biệt, các chính sách này tập trung vào việc hỗ trợ nuôi trồng thủy sản xuất khẩu, khuyến khích đổi mới công nghệ trong sản xuất, và áp dụng công nghệ sạch, tiên tiến hơn.

Mặc dù đã có những nghiên cứu đạt kết quả, nhưng nhiều công trình chỉ đề xuất các chính sách và giải pháp mang tính chất vĩ mô, chung chung Một số nghiên cứu chỉ tập trung vào khuyến nghị về quản lý hoặc tài chính mà không đưa ra các chính sách cụ thể và mạnh mẽ để khuyến khích nông dân đầu tư vào công nghệ sạch trong sản xuất, đặc biệt là trong ngành thủy sản Điều này dẫn đến việc chưa có những chính sách đủ mạnh để đảm bảo sản phẩm an toàn, cạnh tranh và bảo vệ môi trường Hơn nữa, các nghiên cứu hiện tại chưa làm rõ về định hướng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, và chưa có công trình nào phân tích hệ thống thực trạng chính sách liên quan đến việc áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản tại các vùng cụ thể.

Trong bài viết này, tác giả kế thừa các nghiên cứu trước đó và đề xuất một cách tiếp cận mới để làm rõ khái niệm và sự cần thiết của chính sách áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản Bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất thủy sản, đánh giá các chính sách hiện hành liên quan, cũng như những khó khăn và rào cản trong quá trình thực hiện Tác giả tìm ra nguyên nhân và đề xuất các chính sách cụ thể, khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế nhằm giúp ngành nuôi thủy sản ở Nam Sách, Hải Dương phát triển bền vững.

Mục tiêu nghiên cứu

Để thúc đẩy việc áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản tại huyện Nam Sách, Hải Dương, cần đề xuất các chính sách hỗ trợ nhằm tạo điều kiện thuận lợi và chuyển biến tích cực Việc này không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất thủy sản mà còn góp phần phát triển kinh tế bền vững cho vùng nước ven sông.

Câu hỏi nghiên cứu

Để nâng cao hiệu quả sản xuất thủy sản và phát triển kinh tế bền vững tại vùng nước ven sông huyện Nam Sách, Hải Dương, cần áp dụng các chính sách khuyến khích sử dụng công nghệ sạch Việc triển khai các biện pháp hỗ trợ kỹ thuật, tài chính và đào tạo cho người dân sẽ giúp họ chủ động áp dụng công nghệ tiên tiến Đồng thời, cần có các chương trình giám sát và đánh giá hiệu quả để đảm bảo sự chuyển biến tích cực trong sản xuất và bảo vệ môi trường.

Lựa chọn và áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản là yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế bền vững tại vùng nước ven sông huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Công nghệ sạch không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao Việc áp dụng công nghệ này còn góp phần bảo vệ nguồn nước, duy trì hệ sinh thái tự nhiên và tạo ra những sản phẩm thủy sản an toàn cho sức khỏe con người Hơn nữa, phát triển bền vững thông qua công nghệ sạch sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm và cải thiện đời sống cho người dân địa phương, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế toàn diện cho huyện Nam Sách.

Giả thuyết nghiên cứu

Chính sách ưu tiên tài chính và hỗ trợ thông tin, công nghệ, bồi dưỡng nhân lực, cùng tìm kiếm thị trường cho sản phẩm thủy sản ứng dụng công nghệ sạch đã giúp thay đổi nhận thức của các tổ chức và cá nhân nuôi thủy sản trong huyện Điều này không chỉ tạo sự yên tâm cho họ trong việc đầu tư mà còn khuyến khích áp dụng công nghệ sạch vào sản xuất, đảm bảo sự phát triển bền vững cho ngành thủy sản.

Hiện nay, việc áp dụng công nghệ sạch trong nuôi trồng thủy sản tại huyện còn nhiều hạn chế Tình trạng ô nhiễm môi trường và dịch bệnh đang gia tăng, trong khi quy trình nuôi trồng và sản phẩm thủy sản chưa đảm bảo an toàn Hơn nữa, sản xuất thủy sản thiếu chiến lược lâu dài, dẫn đến tính bền vững chưa được đảm bảo.

Phương pháp nghiên cứu

Phân tích tổng hợp là quá trình khảo sát và nghiên cứu các thông tin, tài liệu từ các tạp chí khoa học, luận án, và các trang web liên quan đến nuôi thủy sản theo công nghệ sạch Bài viết tập trung vào các chính sách và giải pháp thực hiện công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản, đặc biệt ở tỉnh Hải Dương và huyện Nam Sách Dựa trên phân tích tài liệu, tác giả đã chọn lọc dữ liệu cần thiết để đưa vào luận văn.

Phương pháp quan sát thực tiễn là một công cụ quan trọng mà tác giả áp dụng bằng cách thường xuyên đến các địa điểm sản xuất thủy sản trong huyện Qua việc này, tác giả có thể tìm hiểu sâu sắc về hoạt động thực tiễn diễn ra trong quá trình sản xuất thủy sản.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Bài viết tổng hợp các khái niệm và cơ sở lý luận liên quan đến công nghệ sạch trong nuôi trồng thủy sản, đồng thời đánh giá thực trạng nuôi thủy sản ven sông tại huyện Nam Sách Nghiên cứu này cũng xem xét các chính sách hiện hành hỗ trợ và định hướng áp dụng công nghệ sạch trong lĩnh vực này Dựa trên những phân tích đó, bài viết đề xuất các chính sách nhằm thúc đẩy sự chuyển biến tích cực từ việc áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản tại khu vực ven sông huyện Nam Sách, Hải Dương.

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn có phần nội dung với 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận của việc hình thành các chính sách định hướng áp dụng công nghệ sạch

Chương 2 trình bày thực trạng công nghệ sản xuất thủy sản tại Nam Sách, Hải Dương, đồng thời phân tích các chính sách hỗ trợ việc áp dụng công nghệ sạch trong ngành này Việc áp dụng công nghệ sạch không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng Các chính sách hiện hành đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích ngư dân và doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ tiên tiến, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành thủy sản địa phương.

Chương 3 Chính sách cho việc áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản ở Nam Sách, Hải Dương.

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH CÁC CHÍNH SÁCH ĐỊNH HƯỚNG ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ SẠCH

Các khái niệm liên quan đến công nghệ

Khái niệm công nghệ từ lâu đã được các tác giả trong và ngoài nước tiếp cận và đƣa ra nhiều định nghĩa khác nhau

Theo Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á- Thái Bình Dương

Công nghệ, theo định nghĩa của Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP), là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm các yếu tố như kiến thức, thiết bị, phương pháp và hệ thống phục vụ cho việc sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ Định nghĩa này đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng, mở rộng khái niệm công nghệ từ lĩnh vực sản xuất vật chất sang tất cả các lĩnh vực của xã hội.

Công nghệ, theo Luật Khoa học và Công nghệ 2013, được định nghĩa là giải pháp, quy trình và bí quyết kỹ thuật, có thể đi kèm hoặc không với công cụ, phương tiện, nhằm mục đích biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.

Công nghệ được định nghĩa qua nhiều cách khác nhau, nhưng tất cả đều nhấn mạnh vào quá trình sử dụng công nghệ để chuyển đổi nguồn lực Nó cũng bao gồm cách tiếp cận hệ thống nhằm đạt được các kết quả mong muốn.

Công nghệ là sự kết hợp của kiến thức, công cụ, máy móc, kỹ thuật và kỹ năng nghề nghiệp, nhằm giải quyết vấn đề, cải tiến giải pháp hiện có, hoặc thực hiện chức năng cụ thể Nó cũng được hiểu là một hệ thống các quy trình tổ chức các yếu tố một cách hiệu quả.

Công nghệ được hiểu là tư duy của con người, có thể được chuyển tải qua các công cụ, phương tiện hoặc ghi nhớ dưới nhiều hình thức khác nhau Khi được sử dụng, công nghệ tạo ra sự biến đổi các nguồn lực, từ đó sản xuất ra sản phẩm hoặc cải tạo môi trường xung quanh để đáp ứng nhu cầu của con người.

1.1.2 Đổi mới công nghệ Đ i mới công nghệ là vấn đề đƣợc nghiên cứu nhiều và có nhiều định nghĩa khác nhau

Theo Freeman, đổi mới bao gồm các hoạt động thiết kế kỹ thuật, sản xuất, chế tác, quản lý và thương mại, nhằm đưa ra thị trường một sản phẩm từ quy trình hoặc thiết bị mới hoặc đã được cải tiến.

Theo Ferderick Betz, đổi mới bao gồm việc phát minh, phát triển và đưa ra thị trường các sản phẩm, quy trình hoặc dịch vụ mới có ứng dụng công nghệ tiên tiến Đổi mới công nghệ (ĐMCN) được xem là một phần của quá trình đổi mới, tập trung vào việc giới thiệu sản phẩm và quy trình mới dựa trên công nghệ hiện đại.

Theo J Schumpeter, có năm loại đổi mới công nghệ (ĐMCN) bao gồm: 1) phát triển sản phẩm mới hoặc cải tiến tính chất của sản phẩm hiện có; 2) đổi mới quy trình sản xuất mang tính mới cho một ngành; 3) khai thác thị trường mới.

4) Phát triển nguồn cung ứng mới về nguyên liệu thô hoặc các đầu vào; 5) Thay đ i trong t chức sản xuất 2

Công nghệ, sản phẩm do con người tạo ra, tuân theo chu trình sống của sản phẩm và phải đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về chất lượng Điều này dẫn đến việc cần cải tiến quy trình sản xuất để phù hợp với yêu cầu cuộc sống Đổi mới công nghệ trở thành yếu tố tất yếu trong sự phát triển, không chỉ mang lại lợi ích cho nhà sản xuất mà còn cho toàn xã hội.

Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Quân và Nguyễn Hồng Việt vào tháng 8/2006 tập trung vào việc ứng dụng lý thuyết đổi mới trong đánh giá và dự báo công nghệ tại Việt Nam Đề tài này được thực hiện dưới sự hỗ trợ của Viện nghiên cứu cấp cao, nhằm cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển công nghệ trong bối cảnh đổi mới.

Đổi mới công nghệ là quá trình thay thế một phần hoặc toàn bộ công nghệ hiện tại bằng công nghệ tiên tiến hơn, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất Mục tiêu của đổi mới công nghệ có thể là tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ mới để phục vụ thị trường, hoặc áp dụng công nghệ hoàn toàn mới chưa từng sử dụng trước đây.

Để áp dụng công nghệ mới, tổ chức cần có nguồn nhân lực đủ trình độ Chủ doanh nghiệp và người lao động cần nâng cao năng lực của mình để đáp ứng yêu cầu này Việc áp dụng công nghệ tiên tiến giúp sản phẩm có chất lượng cao hơn, từ đó được thị trường đón nhận tốt hơn Công nghệ thân thiện với môi trường sẽ giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

Dựa trên những phân tích đã thực hiện, việc đổi mới công nghệ là cần thiết để các chủ thể sản xuất chủ động thay thế công nghệ cũ, lạc hậu, vốn gây hại cho môi trường và sản phẩm kém chất lượng, không an toàn cho người tiêu dùng Việc áp dụng công nghệ mới, tiên tiến và sạch sẽ không chỉ nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm mà còn bảo vệ môi trường, đồng thời đảm bảo an toàn cho người sử dụng.

1.1.3 Khái niệm công nghệ sạch

Trên toàn cầu, khái niệm tăng trưởng xanh và sản phẩm trong nước xanh (GDP xanh) đã xuất hiện từ lâu và được áp dụng thành công ở một số quốc gia Công nghệ sạch, với những ưu điểm vượt trội, đang được nhiều quốc gia tiên tiến sử dụng rộng rãi, góp phần vào sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường.

Công nghệ sạch (CNS) được định nghĩa bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) là những công nghệ giúp giảm thiểu hoặc loại bỏ chất thải và ô nhiễm tại nguồn, đồng thời tiết kiệm nguyên liệu và năng lượng Các biện pháp kỹ thuật này có thể được áp dụng từ giai đoạn thiết kế để cải tiến quy trình sản xuất hoặc trong các dây chuyền sản xuất nhằm tái sử dụng sản phẩm phụ, từ đó tránh lãng phí CNS đã được phát triển trong nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, thực phẩm, không khí và môi trường, nước sạch, tiết kiệm năng lượng, hóa chất, vận tải, công nghệ thông tin, tái chế và xử lý chất thải, năng lượng tái tạo, và lưới điện.

Các khái niệm liên quan

Chính sách là thuật ngữ phổ biến trong sách báo, truyền thông và đời sống xã hội, được định nghĩa là chiến lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt mục đích nhất định, dựa trên đường lối chính trị và tình hình thực tế Tuy nhiên, chính sách có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, bao gồm chính trị học, xã hội học, tâm lý học, đạo đức học, kinh tế học, hệ thống, khoa học pháp lý và tiếp cận tổng hợp Mỗi góc tiếp cận giúp chúng ta nhìn nhận chính sách một cách cụ thể, từ đó đưa ra quyết định và giải pháp hợp lý.

Theo James Anderson định nghĩa chính sách là một quá trình hành động có mục đích, được thực hiện bởi một hoặc nhiều chủ thể nhằm giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm.

Theo Phó Giáo sư Vũ Cao Đàm, chính sách là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa, do một chủ thể quyền lực hoặc quản lý đề ra Mục tiêu của chính sách là tạo ưu đãi cho một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích động cơ hoạt động của họ và định hướng hành động nhằm thực hiện các mục tiêu ưu tiên trong chiến lược phát triển của hệ thống xã hội.

1-3] Ở đây khái niệm “Hệ thống xã hội” đƣợc hiểu theo một ý nghĩa khái quát

4 Đặng Ngọc Lợi, Chính sách công ở Việt Nam, Lý luận và thực tiễn, http://thanhtra.edu.vn, ngày cập nhật

5 Vũ Cao Đàm - Bài giảng chuyên đề phân tích chính sách – Trung tâm nghiên cứu và phân tích chính sách,

Hà Nội, 2009 Mỗi chính sách đều xuất phát từ một tác nhân cụ thể, có thể là quốc gia, khu vực hành chính, doanh nghiệp hoặc nhà trường Việc phân tích tác nhân này rất quan trọng để hiểu rõ những áp lực dẫn đến việc hình thành chính sách.

Khi xây dựng chính sách, các chủ thể quản lý cần nhận diện và phân tích rõ ràng các tác nhân cũng như tác động tiêu cực mà chính sách có thể gây ra Việc này rất quan trọng để giảm thiểu những ảnh hưởng xấu đến xã hội, từ đó giúp chính sách phát huy hiệu quả cao hơn và đạt được mục tiêu đề ra mà vẫn hạn chế tác động đến các nhóm không được ưu tiên.

Chính sách được định nghĩa là các biện pháp do các cơ quan có thẩm quyền thiết lập nhằm khuyến khích và định hướng hành động của đối tượng quản lý, với mục tiêu đạt được những ưu tiên cụ thể mà cơ quan quản lý đề ra.

Chính sách có vai trò quan trọng trong việc tác động đến động cơ của cá nhân và nhóm xã hội Để đạt được hiệu quả tối ưu, nhà hoạch định chính sách cần thiết lập các chính sách phù hợp với từng hoạt động và đối tượng cụ thể Sự đúng đắn hay sai lệch của chính sách sẽ quyết định thành công hay thất bại của kế hoạch, ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các mục tiêu mà chủ thể quản lý đặt ra.

Chính sách được hiểu là những biện pháp và quyết sách mà các chủ thể quyền lực đưa ra nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Trong bối cảnh này, chính quyền huyện đã triển khai các biện pháp nhằm khuyến khích các tổ chức và cá nhân nuôi thủy sản áp dụng công nghệ sạch vào sản xuất Mục tiêu chính là nâng cao hiệu quả sản xuất thủy sản và phát triển bền vững.

1.2.2 Thủy sản, nuôi trồng thủy sản

Thủy sản là thuật ngữ chỉ các nguồn lợi và sản phẩm từ môi trường nước, được con người khai thác, nuôi trồng và thu hoạch để sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường.

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), nuôi trồng thủy sản là quá trình nuôi các sinh vật thủy sinh trong môi trường nước ngọt, nước lợ và nước mặn, với việc áp dụng các kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất.

Ngày nay, nghề nuôi trồng thủy sản đã phát triển đa dạng với nhiều phương thức nuôi trồng phong phú Các hình thức nuôi hiện đại như nuôi ao và nuôi lồng bè đang trở nên phổ biến, bên cạnh đó còn có phương thức bán tự nhiên như nuôi bãi triều và nuôi trên ruộng trồng lúa.

Nuôi trồng thủy sản chịu ảnh hưởng lớn từ môi trường nước, đất, không khí và thị trường tiêu thụ Ô nhiễm môi trường có thể giảm năng suất, chất lượng và an toàn thực phẩm, trong khi việc không kiểm soát thị trường có thể dẫn đến tình trạng sản phẩm mất giá Do đó, việc áp dụng công nghệ sạch trong nuôi trồng thủy sản là rất quan trọng để bảo vệ và cải tạo môi trường, đặc biệt là môi trường nước.

Việc xác định môi trường và phương pháp nuôi trồng phù hợp cho các loại thủy sản vẫn là một thách thức cần nghiên cứu Các kỹ thuật tạo giống mới và chế biến thức ăn đang gặp khó khăn về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm Hơn nữa, việc xử lý môi trường nuôi sao cho hài hòa với hệ sinh thái địa phương cũng yêu cầu nhiều kỹ thuật và công nghệ phức tạp.

Dựa trên các phân tích và phạm vi nghiên cứu, tác giả nhận định rằng việc sản xuất thủy sản đồng nghĩa với việc nuôi trồng các loại thủy hải sản.

6 Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia, thủy sản, https://vi.Wikipedia.org, 25.6.2016

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (https://vi.Wikipedia.org) đã cung cấp thông tin về nuôi trồng thủy sản, với nghiên cứu tập trung tại huyện Nam Sách Tại đây, các loại thủy sản chủ yếu bao gồm cá và tôm nước ngọt, phù hợp với môi trường nước trong khu vực.

Các tiêu chí sản xuất thủy sản sạch

Trên thế giới hiện nay có các chứng nhận đạt tiêu chuẩn quốc tế nhƣ GlobalGAP, ASC (thủy sản đƣợc nuôi có trách nhiệm)…

GLOBALGAP (Global Partnership for Good Agricultural Practice) là tiêu chuẩn chứng nhận toàn cầu cho sản phẩm nông nghiệp, tập trung vào quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc trong các lĩnh vực như trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản Giấy chứng nhận GLOBALGAP đảm bảo rằng thực phẩm đạt tiêu chuẩn an toàn và chất lượng chấp nhận được, đồng thời quy trình sản xuất phải bền vững và quan tâm đến sức khỏe, an toàn và phúc lợi của người lao động, môi trường, cũng như phúc lợi của động vật Nếu không có chứng nhận này, nông sản có thể bị từ chối trên thị trường.

ASC (Hội Đồng Quản lý Nuôi trồng Thủy sản) là chương trình chứng nhận hàng đầu thế giới cho thủy sản nuôi có trách nhiệm Tiêu chuẩn của ASC được xây dựng dựa trên hướng dẫn của ISEAL, với sự tham gia của nhiều bên liên quan, đảm bảo tính cởi mở và minh bạch Chương trình này sử dụng số liệu khoa học để giảm thiểu tác động môi trường và xã hội của nuôi trồng thủy sản thương mại Qua chứng nhận ASC, các trại nuôi cam kết giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và cộng đồng địa phương, bao gồm bảo tồn đất, kiểm soát lây truyền virus, cung cấp nguồn nước sạch, sử dụng thức ăn chăn nuôi một cách có trách nhiệm và giải quyết các vấn đề về đa dạng sinh học.

1.3.2 Ở Việt Nam Ở Việt Nam hiện nay có quy phạm thực hành nuôi trồng thủy sản tốt tại Việt Nam (VIETGAP) và Bộ tiêu chí đánh giá VIETGAP

VietGAP (Thực hành sản xuất thủy sản tốt tại Việt Nam) được xây dựng dựa trên bốn tiêu chí chính: đảm bảo an toàn thực phẩm, giảm thiểu tác động đến môi trường sinh thái, quản lý sức khỏe động vật hiệu quả, và thực hiện trách nhiệm về phúc lợi xã hội cùng an toàn cho người lao động Đồng thời, VietGAP cũng chú trọng đến khả năng truy xuất nguồn gốc sản phẩm thủy sản, nhằm nâng cao chất lượng và độ tin cậy của sản phẩm trên thị trường.

TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ GAP KHÁC LĨNH VỰC THỦY SẢN 10

(Ban hành kèm theo Thông tư số 54 /2014/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 12 năm 2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

TT Tiêu chí Nội dung tiêu chí Văn bản quy định

Giống có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo chất lƣợng theo QCVN, TCVN tương ứng

- Thông tƣ số 26/2013/TT-BNNPTNT ngày 22/05/2013 của

Bộ Nông nghiệp và PTNT về quản lý giống thủy sản,

- Thông tƣ số 71/2011/TT-BNNPTNT ngày 25/10/2011 của

Bộ Nông nghiệp và PTNT Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia lĩnh vực Thú y

- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 02 -15 :2009/BNNPTNT:

Cơ sở sản xuất giống thuỷ sản - Điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm, an toàn sinh học và môi trường

Thức ăn, thuốc, sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường

- Cơ sở nuôi chỉ sử dụng thuốc, thức ăn, sản phẩm xử lý cải tạo môi trường được phép lưu hành tại Việt Nam

- Thức ăn đảm bảo theo TCVN

- Cơ sở nuôi không sử dụng hóa chất, kháng sinh trong danh mục

- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 02-

14 :2009/BNNPTNT: Cơ sở sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi thuỷ sản - Điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm, vệ sinh thú y và bảo vệ môi trường

- Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 05/02/2010 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi

TT Tiêu chí Nội dung tiêu chí Văn bản quy định cấm do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định

- Nghị định số 33/2005/NĐ-CP ngày 15/3/2005 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Thú y (Nghị định số 33/2005/NĐ-CP)

- Nghị định số 119/2008/NĐ-CP ngày 28/11/2008 của Chính phủ sủa đ i, b sung một số điều Nghị định số 33/2005/NĐ-CP

- Thông tƣ số 66/2011/TT-BNNPTNT ngày 10/10/2011 của

Bộ Nông nghiệp và PTNT Quy định chi tiết một số điều Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 05/02/2010 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi

Xử lý rác thải, bảo vệ môi trường

Cơ sở nuôi trồng thủy sản cần thực hiện việc thu gom, phân loại và xử lý kịp thời các loại chất thải rắn thông thường cũng như chất thải nguy hại phát sinh trong quá trình sinh hoạt, đảm bảo tuân thủ các quy định hiện hành về bảo vệ môi trường.

- Nước thải ra ngoài môi trường phải đạt các chỉ tiêu chất lƣợng theo quy định hiện hành

- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014

- Thông tƣ số 22/2014/TT-BNNPTNT

- Thông tƣ số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại

- QCVN 01-80 :2011/BNNPTNT Quy chuẩn cơ sở nuôi trồng thuỷ sản – Điều kiện đảm bảo vệ sinh thú y.

Chính sách áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản

1.4.1 Nội dung chủ yếu của chính sách áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản

Chính sách áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản nhằm ưu tiên, ưu đãi và hỗ trợ các nhà sản xuất thực hiện ước muốn áp dụng công nghệ này Việc đẩy mạnh sản xuất sản phẩm sạch, an toàn và thân thiện với môi trường không chỉ tạo ra giá trị cao mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường Chính sách này góp phần phát triển kinh tế, đảm bảo an toàn cho môi trường và xã hội, từ đó thúc đẩy sản xuất bền vững.

Chính sách áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản không chỉ là yếu tố dẫn đường mà còn là đòn bẩy cho sự đột phá của ngành, tạo ra sức mạnh và lợi thế cạnh tranh bền vững Sự kết hợp hiệu quả giữa khoa học, công nghệ và sản xuất thủy sản là yếu tố then chốt trong việc phát triển thị trường thủy sản, phù hợp với xu thế toàn cầu hiện nay.

Tác giả nhấn mạnh rằng các biện pháp ưu đãi và hỗ trợ cho người nuôi thủy sản áp dụng công nghệ sạch bao gồm nhiều hoạt động thiết thực nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho họ Điều này bao gồm việc ưu tiên nguồn vốn, cung cấp thông tin, công nghệ và kinh nghiệm quản lý, cũng như hỗ trợ tìm kiếm thị trường và tiêu thụ sản phẩm, đảm bảo nguồn cung ứng đầu vào cho quá trình sản xuất.

* Nội dung của các chính sách áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản tập trung vào:

Để nâng cao khả năng sản xuất thủy sản, cần ưu tiên cho vay vốn, kêu gọi đầu tư và bảo lãnh vay vốn Việc tập trung nguồn vốn sẽ giúp người nuôi có điều kiện đầu tư vào công nghệ sản xuất tiên tiến, đồng thời đảm bảo tính thân thiện với môi trường.

- Cán bộ kỹ thuật, nhà khoa học xuống thực tế để bồi dƣỡng, tập huấn cho người sản xuất;

- Chủ động h trợ thông tin, tìm kiếm công nghệ, bồi dƣỡng nhân lực và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm;

Chính sách hỗ trợ và quản lý cung cấp dịch vụ phòng chống dịch bệnh theo tiêu chí an toàn sinh học, đồng thời quản lý nguồn cung cấp thức ăn và thúc đẩy sản xuất cũng như tìm kiếm thức ăn bằng công nghệ sạch là rất cần thiết.

Khuyến khích việc thành lập các tổ chức liên kết giữa các chủ thể sản xuất nhằm ứng phó hiệu quả với những thách thức khó khăn, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng công nghệ sạch và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Nhà nước đang triển khai nhiều chính sách ưu tiên và ưu đãi nhằm thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học Các viện nghiên cứu và trường đại học được khuyến khích tự chủ và tham gia vào hoạt động kinh doanh, đồng thời hỗ trợ các nhà khoa học trong việc phát triển và triển khai các sản phẩm khoa học chất lượng cao Mục tiêu là tạo ra các sản phẩm an toàn và sạch, đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực thủy sản.

Các tổ chức kinh tế và doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người nuôi thủy sản thông qua đầu tư về vốn, công nghệ và dịch vụ Sự tham gia này phụ thuộc vào bản chất và mục tiêu hoạt động của từng tổ chức, cũng như khả năng tài chính và tổ chức của các bên liên quan Hình thức đầu tư phổ biến bao gồm chuyển giao công nghệ, thực hiện các dự án, cung cấp thông tin và đào tạo nhằm nâng cao năng lực cho người nuôi thủy sản, đồng thời thúc đẩy hành động tập thể vì lợi ích chung.

Chính sách áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản bao gồm các biện pháp từ Trung ương, tỉnh và chính quyền địa phương nhằm khuyến khích người nuôi thủy sản đầu tư vào công nghệ sạch Mục tiêu của chính sách là giảm thiểu rủi ro và thiệt hại trong quá trình sản xuất, đồng thời phát triển bền vững, nâng cao số lượng và chất lượng sản phẩm thủy sản cung cấp ra thị trường Sản phẩm thủy sản sạch và an toàn không chỉ nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn tăng cường lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm thủy sản của huyện.

1.4.2 Đặc điểm của chính sách áp dụng cộng nghệ sạch trong sản xuất thủy sản Đa dạng về chủ thể và phương thức đầu tư, h trợ cho việc áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản

Chủ thể h trợ có thể là cơ quan nhà nước, các hiệp hội, hoặc t chức

M i chủ thể h trợ người nuôi thủy sản trong việc áp dụng công nghệ sạch đều hành động theo những tôn chỉ, mục đích, phương thức và nguyên tắc riêng

Nhà nước đóng vai trò là chủ thể hỗ trợ quan trọng nhất trong việc áp dụng công nghệ sạch trong nuôi thủy sản Với nhiều phương thức và mục đích khác nhau, nhà nước cung cấp sự hỗ trợ cần thiết để thúc đẩy sự phát triển bền vững trong ngành nuôi trồng thủy sản.

Nhà nước cung cấp nhiều hình thức hỗ trợ đa dạng cho ngành nuôi trồng, bao gồm hỗ trợ đầu vào, hỗ trợ trong quá trình nuôi, và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm Bên cạnh đó, còn có các chương trình hỗ trợ thông tin, xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng nuôi tập trung, hỗ trợ kỹ thuật và khuyến ngư Nhà nước cũng cung cấp tín dụng ưu đãi, chính sách thuế, quảng bá và tiếp thị, cũng như đào tạo nguồn nhân lực và xử lý môi trường nuôi Thêm vào đó, việc hỗ trợ xây dựng thương hiệu tập thể cũng là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của ngành.

Hội nông dân cung cấp nhiều hình thức hỗ trợ đa dạng như khuyến ngư, giống mới, kinh nghiệm, vay vốn và tổ chức hợp tác sản xuất, tiêu thụ, cung ứng Mục tiêu chính của Hội nông dân là giúp hộ nuôi nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế bền vững, đặc biệt trong chương trình xoá đói, giảm nghèo Tuy nhiên, do năng lực tài chính hạn chế, Hội nông dân thường phải liên kết với các tổ chức khác để thực hiện các hình thức hỗ trợ.

Các doanh nghiệp đầu tư vào nuôi trồng thủy sản với mục tiêu phát triển bền vững, nhằm khắc phục nhược điểm của người nuôi và đáp ứng nhu cầu về sản phẩm thủy sản sạch, an toàn và bảo vệ môi trường Đối tượng chính được đầu tư là các hộ gia đình nông dân và những chủ thể nuôi thủy sản áp dụng công nghệ sạch, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất Chính quyền tổ chức hướng dẫn người nuôi thống nhất thực hiện chương trình bảo vệ môi trường, chống dịch bệnh, không sử dụng thuốc kháng sinh bị cấm và tuân thủ nguyên tắc vệ sinh an toàn thực phẩm Điều này giúp họ tham gia vào các chương trình nuôi an toàn, mang lại lợi ích cho bản thân và cộng đồng.

Ý nghĩa của công nghệ sạch trong nuôi trồng thủy sản

Theo ông Ngô Tiến Chương, Điều phối viên Chương trình nuôi trồng thủy sản của WWF-Việt Nam, người tiêu dùng toàn cầu hiện nay có xu hướng ưu tiên sản phẩm thủy sản “sạch”, được sản xuất có trách nhiệm với môi trường và xã hội Họ quan tâm đến nguồn gốc, quy trình sản xuất và an toàn thực phẩm của sản phẩm Người tiêu dùng sẵn sàng chi trả cao hơn cho những sản phẩm này, với một phần lợi nhuận được tái đầu tư vào các dịch vụ môi trường và xã hội Để sản xuất thủy sản “sạch”, cần tuân thủ quy trình sản xuất chuẩn và đáp ứng nhiều yêu cầu, bao gồm việc đảm bảo đầu vào như con giống và thức ăn, cũng như bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái quan trọng Tất cả các tiêu chuẩn trong ngành nuôi trồng thủy sản đều được xây dựng dựa trên các tiêu chí nhằm đảm bảo trách nhiệm với môi trường và xã hội.

Ngành thủy sản đã đạt nhiều thành tựu nhưng vẫn chưa phát triển toàn diện và bền vững, đối mặt với nhiều thách thức do chủ yếu gia tăng về lượng mà thiếu sự chuyển biến về chất Cần tập trung đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm, tránh phát triển ồ ạt và thiếu quy hoạch, nhằm gia tăng giá trị sản phẩm Việc áp dụng các tiêu chuẩn bền vững một cách hệ thống là cần thiết để tạo lòng tin từ người tiêu dùng và đảm bảo sản xuất có trách nhiệm với môi trường và xã hội.

Sản xuất thủy sản theo quy trình không an toàn hiện nay đang gặp nhiều bất cập và thiếu hiệu quả Các quốc gia trên thế giới đã chuyển sang tiếp cận dự đoán và phòng ngừa, thực hiện chính sách công nghệ thân thiện với môi trường và sản xuất sạch hơn Chính sách này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn cải thiện xã hội và môi trường Công nghệ sạch giúp tiết kiệm chi phí xử lý ô nhiễm, sử dụng hiệu quả tài nguyên, và nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó thu hút người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm an toàn hơn Hơn nữa, việc áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản còn tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa nhà sản xuất và cộng đồng, thúc đẩy tình đoàn kết và giảm mâu thuẫn, góp phần ổn định đời sống xã hội.

Mối quan hệ giữa chính sách và hoạt động áp dụng công nghệ sạch

Sự thành công trong việc áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản phụ thuộc vào chính sách phù hợp và hiệu quả Một chính sách đúng đắn không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tạo ra sản phẩm an toàn cho xã hội, nâng cao hiệu quả sản xuất và thúc đẩy phát triển bền vững Ngược lại, nếu chính sách không phù hợp và đầu tư không hiệu quả, sẽ khó khăn trong việc khuyến khích người sản xuất áp dụng công nghệ sạch, dẫn đến việc không đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

Việc áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản tại Việt Nam còn hạn chế, mặc dù nhiều quốc gia trên thế giới đã thành công với các công nghệ này Chính sách hỗ trợ cho việc áp dụng công nghệ sạch đang gặp nhiều khó khăn, do đó, cần có những chính sách đúng đắn và phù hợp để thúc đẩy việc áp dụng công nghệ sạch, đặc biệt là ở Nam Sách, Hải Dương, nhằm tạo ra sản phẩm an toàn và bảo vệ môi trường, đồng thời phát triển bền vững.

Chương 1 đã trình bày cơ sở lý luận chung về một số khái niệm liên quan đến nội dung của đề tài: công nghệ, đ i mới công nghệ, công nghệ sạch, chính sách, thủy sản, nuôi trồng thủy sản, phát triển bền vững; những nội dung về chính sách áp dụng công nghệ sạch, sự cần thiết của việc áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản và mối quan hệ giữa chính sách đối với hoạt động áp dụng công nghệ sạch Qua phân tích các khái niệm tác giả nhận thấy việc đ i mới công nghệ, áp dụng công nghệ sạch với phát triển bền vững có sự liên hệ chặt chẽ với nhau Đây là những cơ sở lý thuyết quan trọng cho việc phân tích, đánh giá các chính sách áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất thủy sản

Cơ sở lý luận đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu thực trạng sản xuất thủy sản, các chính sách hiện hành và tác động của chúng đến việc áp dụng công nghệ sạch Bài viết sẽ đề xuất các chính sách phù hợp cho huyện Nam Sách, Hải Dương trong các chương tiếp theo.

THỰC TRẠNG CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT THỦY SẢN VÀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHO VIỆC ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ SẠCH

T ng quan về hoạt động sản xuất thủy sản ở Hải Dương

2.1.1 Tình hình sản xuất thủy sản ở Hải Dương

Hải Dương có tiềm năng phát triển nông nghiệp mạnh mẽ với diện tích đất nông nghiệp lên tới 461.883 ha, chiếm 77% tổng diện tích Giá trị sản xuất nông nghiệp và thủy sản chiếm 17% trong cơ cấu kinh tế, với mức tăng trưởng bình quân 3,1% mỗi năm Tỷ trọng giá trị chăn nuôi và thủy sản đạt 40,6%, cho thấy sự chuyển biến tích cực trong sản xuất nông nghiệp hàng hóa Đặc biệt, giá trị sản phẩm thu hoạch trên mỗi ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản đã tăng từ 94,4 triệu đồng vào năm 2010 lên 125,3 triệu đồng, phản ánh hiệu quả ngày càng cao trong lĩnh vực này.

2015 Giá trị sản xuất ngành thủy sản tăng bình quân 5,3%/năm

Tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 2010-

Năm 2015, tăng trưởng kinh tế đạt mức trung bình khoảng 7%/năm, cho thấy sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu kinh tế Cụ thể, tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng tăng từ 46,3% năm 2010 lên 49,6% năm 2015, trong khi ngành dịch vụ cũng có sự gia tăng từ 33,1% lên 33,5% Ngược lại, tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 20,6% năm 2010 xuống còn 16,9% vào năm 2015.

11 Cục thống kê tỉnh Hải Dương, Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương giai đoạn 2010 – 2015

Bảng 2.1 Hiện trạng GDP tỉnh Hải Dương giai đoạn 2010 – 2015

(Đơn vị tính: Tỷ đồng)

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương giai đoạn 2010 – 2015,

Cục thống kê tỉnh Hải Dương, 2015)

Trong giai đoạn 2010-2015, tỉnh Hải Dương ghi nhận tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp đạt 2,8%/năm, trong khi ngành lâm nghiệp có mức giảm 6,4% và ngành nông nghiệp chỉ tăng 2,6%/năm Ngược lại, ngành thủy sản nổi bật với mức tăng trưởng 4,2%/năm, cao nhất so với các ngành khác, và tỷ trọng đóng góp vào ngành nông nghiệp tăng từ 10,1% năm 2010 lên 10,9% năm 2015 Giá trị sản xuất của ngành thủy sản cũng tăng đáng kể, từ 1.436 tỷ đồng năm 2010 lên 1.761 tỷ đồng năm 2015, tương ứng với mức tăng 325 tỷ đồng.

Bảng 2.2 Giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp tỉnh Hải Dương

(Đơn vị tính: Tỷ đồng)

(Nguồn: Niên giám thống kê giai đoạn 2010 – 2015, Cục thống kê tỉnh Hải Dương

Trong những năm qua, tỉnh đã duy trì sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực thủy sản, với các chỉ tiêu về diện tích, năng suất và sản lượng nuôi trồng, khai thác Bên cạnh đó, công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản và sản xuất giống cũng được chú trọng, góp phần nâng cao hiệu quả của ngành thủy sản.

Đến cuối năm 2015, diện tích nuôi trồng thủy sản tại tỉnh đạt 10.082 ha, trong đó diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh chiếm 97,8% với 9.857 ha Tổng số lồng bè nuôi thủy sản là 1.400 lồng, với thể tích mỗi lồng từ 150 đến 200 m³, trung bình đạt 108 m³/lồng.

Năm 2015, tổng sản lượng thủy sản đạt 52.012 tấn, trong đó cá chiếm 98,9% với 51.387,8 tấn, tôm đạt 78 tấn và các loại thủy sản khác ước đạt 546,2 tấn Sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 50.919,7 tấn, chiếm 97,9% tổng sản lượng, với cá chiếm 99,8%, tôm 0,03% và thủy sản khác 0,17% Trong giai đoạn 2010 - 2015, sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng 247 tấn, từ 51.765 tấn lên 52.012 tấn, trong khi diện tích nuôi trồng chỉ tăng nhẹ từ 10.050 ha lên 10.082 ha Điều này cho thấy năng suất nuôi trồng thủy sản tăng nhanh hơn so với diện tích mặt nước trong giai đoạn này.

Bảng 2.3 Kết quả nuôi trồng thủy sản của Hải Dương (2010-2015)

Đến năm 2015, tỉnh Hải Dương có 17.300 ha diện tích tiềm năng cho nuôi trồng thủy sản, với tổng diện tích mặt nước đạt 10.258 ha Tỉnh có 6 huyện, thành phố tham gia nuôi cá lồng trên sông, với 38 chủ hộ và 2.122 lồng nuôi các loại cá như diêu hồng, rô phi đơn tính, cá lăng, trắm cỏ và cá chép nuôi giòn Sản lượng cá rô phi và diêu hồng đạt 4.460 tấn, nâng giá trị sản xuất ngành thủy sản lên 1.761 tỷ đồng vào năm 2015, với tốc độ tăng trưởng bình quân 4,2%/năm Tỷ trọng ngành thủy sản trong cơ cấu nông nghiệp của tỉnh tăng từ 10,1% năm 2010 lên 10,9% năm 2015.

2.1.2 Đánh giá chung về những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển thủy sản ở tỉnh Hải Dương

Hải Dương, nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, đóng vai trò quan trọng trong giao lưu kinh tế, thương mại và quốc phòng an ninh tại khu vực Bắc Bộ, bao gồm Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh Vị trí này tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh phát triển sản xuất thủy sản, tiếp thu công nghệ tiên tiến và thu hút vốn đầu tư Tỉnh cũng sở hữu nhiều hệ thống sông ngòi với dòng chảy ổn định, các lưu vực sông rộng và diện tích ao hồ phong phú, cùng với các yếu tố thủy lý hóa phù hợp cho môi trường nuôi cá nước ngọt, đáp ứng các tiêu chuẩn theo QCVN 38:2011/BTNMT.

Tỉnh này có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi trồng thủy sản nước ngọt nhờ vào hệ thống các con sông lớn như sông Thái Bình, sông Thương, sông Luộc và sông Kinh Thầy, cung cấp nguồn nước ngọt dồi dào.

Bảng 2.4 T ng hợp các tuyến sông trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Diện tích mặt nước (ha) Điểm đầu – Điểm cuối

44,5 170 756,6 Lấu Khê đến Trại Sơn

2 Sông Mạc khê 18 120 216 Bến Triều đến Đụn

4 Sông Lai Vu 26 120 312 Vũ Xá đến Cửa Dƣa

6 Sông Gùa 4 150 60 Cửa Dƣa đến Gùa

7 Sông Mía 3 150 45 Mía Thái Bình đến Mía Văn

8 Sông Cầu Xe 3 120 36 Cầu Xe TB đến Âu Cầu Úc

9 Sông Văn Úc 13 130 169 Cửa Dƣa Xe

10 Sông Hàn 8,5 170 144,5 Nống đến Trại Sơn

11 Sông Phi Liệt 8,0 120 96 Đụn đến Trại Sơn

12 Sông Luộc 32 150 480 Thanh Miện đến Quý Cao

1 Sông Sặt 28 38 106,4 Cống chanh - Âu ngọc

2 Cửu Yên 37 50 185 Ngã 3 pháo Đài - Âu An

3 Sông Chanh 27 50 135 Cống Chanh - Cầu Tràng Th

4 Đình Đào 31 50 155 Bà Thủy - Ngã 3 Cự Lộc

Diện tích mặt nước (ha) Điểm đầu – Điểm cuối

5 Sông Ghẽ 20 30 60 Văn Thai - Ngã 3 Ghẽ

6 Sông Tứ Kỳ 12 30 36 Ngã 3 Cự Lộc - Cống Đồng

(Nguồn: Chi cục Thủy sản tỉnh Hải Dương, 2015)

Hải Dương sở hữu hơn 13 hệ thống sông, mang lại nguồn nước mặt phong phú với tổng diện tích mặt nước tại các sông ngoài tỉnh đạt trên 4.142ha (2015) Nguồn nước trên các sông không chỉ đến từ lượng mưa mà còn được bổ sung từ thượng nguồn và dòng triều từ biển, tạo nên sự đa dạng và phong phú cho nguồn nước tại đây.

Bảng 2.5 Kết quả phân tích mẫu thủy lý, lý hóa môi trường nước tại các vùng nuôi cá lồng

Trong khu vực vùng nuôi

Ngoài khu vực lồng nuôi

Giới hạn cho phép Độ trong Cm 28 28 20 - 30

Nhu cầu oxi hóa học Mg/l 17,6 18,4 10-20 Độ cứng Mg/l 70 90 50-180

(Nguồn: Chi cục Thủy sản Hải Dương, 2015

Bảng phân tích mẫu thủy lý hóa môi trường nước tại các vùng sẽ tạo điều kiện thuận lợi, góp phần nâng cao hiệu quả và năng suất trong việc nuôi trồng thủy sản.

Hải Dương có nguồn lao động chủ yếu từ khu vực nông thôn với tỷ lệ lao động trẻ cao, chiếm 60,8% tổng dân số tỉnh Sự chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản trong nội bộ ngành nông nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho việc đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ cho sự phát triển của hoạt động sản xuất nuôi trồng thủy sản tại địa phương.

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đầu tư đã làm gia tăng nhu cầu tiêu thụ thực phẩm, đặc biệt là thủy sản Tại tỉnh Hải Dương, với hơn 23 chợ lớn tập trung tại các huyện, đây là cơ hội lớn để cung cấp và tiêu thụ sản phẩm thủy sản cho thị trường trong và ngoài tỉnh.

2.1.2.2 Khó khăn Điều kiện tự nhiên: Khí hậu Hải Dương mang tính chất nhiệt đới gió mùa Mùa hè thường có bão và áp thấp thường kéo theo mưa lớn, làm cho lưu lượng nước đ về các sông của tỉnh tăng đột biến, lưu tốc dòng chảy mạnh làm cho những bè nuôi không đƣợc gia cố chắc chắn dễ có nguy cơ bị cuốn trôi Bên cạnh đó, mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, nhiệt độ hạ thấp đột ngột, kéo dài ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng, phát triển của các đối tƣợng nuôi trồng thủy sản

Trình độ lao động trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản của tỉnh còn thấp, với đa số người nuôi chưa được đào tạo chính quy và chủ yếu học hỏi từ kinh nghiệm cá nhân Nhận thức về nuôi thủy sản vẫn mang tính tự phát, tập trung vào lợi ích kinh tế ngắn hạn mà chưa có sự liên kết giữa các hộ nuôi để giảm thiểu rủi ro Điều này dẫn đến việc thiếu quan tâm đến phát triển bền vững trong ngành nuôi trồng thủy sản.

Thực trạng công nghệ sản xuất thủy sản ở huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương

2.2.1 Hiện trạng sản xuất thủy sản ở huyện Nam Sách

Huyện Nam Sách có diện tích tự nhiên 109,07 km² và dân số 118.169 người, trong đó tỷ lệ dân số sống ở nông thôn đạt 76,8% và cơ cấu lao động trong nông nghiệp chiếm 37,8% Với điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội thuận lợi, huyện có hơn 900 ha diện tích nuôi trồng thủy sản, 1.038,5 ha sông ngòi tự nhiên và 500 ha đất bãi trũng được chuyển đổi sang đào ao, lập vườn để phát triển thủy sản Hoạt động nuôi thủy sản đã giúp người dân Nam Sách xoá đói, giảm nghèo và nâng cao đời sống.

2015, sản lƣợng nuôi trồng thủy sản của huyện đạt 4.339 tấn 12

Nguồn lao động địa phương dồi dào và người dân có nguyện vọng phát triển nuôi trồng thuỷ sản nhằm cải thiện đời sống nâng cao thu nhập

Từ năm 2010, người dân huyện Nam Sách đã chuyển đổi từ nuôi thủy sản truyền thống sang phát triển nghề nuôi cá lồng trên sông, tập trung vào các loại cá như trắm, trôi, mè, chép, và rô phi Sự chuyển mình này không chỉ tạo thêm việc làm mà còn tăng thu nhập cho người dân, đồng thời được chính quyền địa phương quan tâm và hỗ trợ, coi đây là mũi nhọn trong phát triển nuôi trồng thủy sản.

Trong những năm qua, nghề nuôi cá lồng ở huyện đã góp phần quan trọng vào việc gia tăng giá trị sản xuất cho ngành thủy sản và nông nghiệp Năm 2010, huyện chỉ có 10 lồng nuôi cá với sản lượng 46 tấn, chiếm 0,1% tổng sản lượng thủy sản Tuy nhiên, đến năm 2015, số lồng nuôi cá đã tăng vọt lên 1.418 lồng, sản lượng đạt 2.991 tấn Sản lượng nuôi cá lồng trong giai đoạn 2010 – 2015 liên tục tăng, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của ngành này.

- 2015 là 179,6%/năm Giá trị sản lƣợng nuôi cá lồng năm 2010 là khoảng 1 tỷ đồng (giá chuyển đ i 2010), đến năm 2015 tăng lên đạt 122 tỷ đồng (giá SS

Phát triển nghề nuôi cá lồng đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho khu vực nông thôn, với hơn 364 lao động tham gia vào lĩnh vực này vào năm 2015 Điều này không chỉ nâng cao thu nhập cho người lao động mà còn đóng góp quan trọng vào việc đảm bảo an sinh xã hội cho địa phương.

13 Chi Cục Thống kê Nam Sách, Niên giám thống kê huyện Nam Sách 2015, tr 10

Bảng 2.6 Thống kê t nh h nh nuôi, phát triển cá lồng từ năm 2010 đến 2015

T Các chỉ tiêu ĐVT Năm

Nguồn: Chi Cục Thống kê Nam Sách, 2015

Nuôi cá lồng chủ yếu diễn ra trên tuyến sông Thái Bình và sông Kinh Thầy, thuộc hạ lưu của ba con sông lớn đổ về Hải Dương: sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam Khu vực này có lưu lượng nước dồi dào, ổn định với dòng chảy liên tục và lòng sông thoáng đãng Các vị trí và địa điểm nuôi cá lồng hiện nay tại huyện cũng đang phát triển mạnh mẽ.

Trên sông Kinh Thầy, tổng cộng có 1.234 lồng nuôi thủy sản, phân bố tại các xã: Thanh Quang (1 điểm, 60 lồng), Nam Tân (4 điểm, 979 lồng), Nam Hưng (2 điểm, 185 lồng) và Hiệp Cát (1 điểm, 10 lồng) Trong khi đó, trên sông Thái Bình, tổng số lồng là 184, được phân bố tại các xã: Hiệp Cát (2 điểm, 32 lồng), An Sơn (1 điểm, 25 lồng) và Thái Tân (2 điểm, 127 lồng).

Bảng 2.7 Hiện trạng nuôi cá lồng trên các sông huyện Nam Sách năm 2015

TT Theo xã Số lồng

(lồng) Tên sông DT cấp phép

57 Kinh Thầy Chƣa cấp phép - -

122 Kinh Thầy Chƣa cấp phép - -

202 Kinh Thầy Chƣa cấp phép - -

10 Kinh Thầy Chƣa cấp phép - -

12 Thái Bình Chƣa cấp phép - -

(Nguồn: Báo cáo năm 2015 của phòng Nông nghiệp huyện)

Bảng 2.8 Hiện trạng số lồng, sản lƣợng năm 2015

TT Nuôi trên sông Số lồng

Nguồn: Báo cáo năm 2015 của phòng Nông nghiệp huyện

Sản lượng nuôi cá lồng tại huyện đã tăng lên nhờ vào việc mở rộng quy mô và tăng số lượng lồng nuôi Tuy nhiên, sự phát triển ồ ạt và thiếu kiểm soát, cùng với diễn biến thời tiết thất thường và mưa lũ, đã dẫn đến thất thoát tài sản và ô nhiễm môi trường nuôi Điều này khiến cá dễ bị nhiễm bệnh và chết, từ đó làm giảm năng suất nuôi.

Trong những năm gần đây, nghề nuôi cá, đặc biệt là nuôi cá lồng trên sông, đã phát triển mạnh mẽ tại huyện, nhưng thiếu quy hoạch và mang tính tự phát Sự đặt lồng nuôi sát nhau đã cản trở dòng chảy, dẫn đến tình trạng thức ăn dư thừa không được đẩy trôi, gây ô nhiễm và phát sinh dịch bệnh trên cá.

Năm 2014, huyện Nam Sách ghi nhận hiện tượng cá chết hàng loạt, một sự kiện chưa từng xảy ra trước đây, gây thiệt hại nghiêm trọng cho người nuôi Nguyên nhân chính không phải do dịch bệnh mà do ô nhiễm môi trường nước, với các độc tố chưa được xác định trong nguồn nước xả thải Bên cạnh đó, việc thiếu kiến thức và hướng dẫn chuyên môn đã dẫn đến tình trạng nuôi cá không đúng kỹ thuật, áp dụng quy trình nuôi thiếu khoa học, cùng với mật độ nuôi cao, khiến nồng độ oxy hòa tan giảm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cá và môi trường xung quanh.

2.2.2 Hiện trạng về công nghệ sản xuất thủy sản của huyện

Huyện Nam Sách hiện đang áp dụng hai hình thức nuôi thủy sản chủ yếu: nuôi trong ao hồ nội đồng, chủ yếu là các ao hồ ở vùng ven đê và vùng chuyển đổi, với tổng diện tích khoảng 1.050 ha; và nuôi lồng trên sông, với 1.418 lồng nuôi.

2.2.2.2 Về giống thủy sản (phần này tác giả đánh giá chung của tỉnh Hải Dương)

Tại tỉnh Hải Dương hiện có 02 cơ sở sản xuất giống thủy sản và Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt Miền Bắc Các cơ sở này bao gồm 05 công ty cổ phần cá giống, 01 trại cá, 01 hợp tác xã thủy sản và 02 hộ cá nhân có bể cho cá sinh sản nhân tạo Trong số đó, 03 cơ sở chuyên sản xuất cá rô phi đơn tính là Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt Miền Bắc, Công ty cổ phần cá giống Nam Sách và trại cá Tứ Kỳ Các cơ sở còn lại chủ yếu sản xuất cá bột, cá hương và cá giống các loại, phục vụ cho phong trào nuôi trồng thủy sản trong và ngoài tỉnh.

Năm 2015, tổng sản lượng cá bột, cá hương và cá giống ước đạt 2.360 triệu con, trong đó cá bột chiếm 1.650 triệu con, cá hương 325 triệu con và cá giống 385 triệu con Đối với giống rô phi đơn tính, tỉnh đã sản xuất 19,7 triệu con, dự kiến đạt 25 triệu con trong năm 2015, cùng với 22,84 triệu con giống rô phi, diêu hồng nhập khẩu Tổng lượng giống rô phi, diêu hồng năm 2015 đạt 42,54 triệu con, trong đó giống rô phi sản xuất trong tỉnh đáp ứng 46,3% nhu cầu giống cho diện tích nuôi cá rô phi và nuôi cá lồng trên sông; các loài khác phải mua giống từ nơi khác để ương dưỡng trước khi nuôi thương phẩm.

2.2.2.3 Thức ăn thủy sản: Tuỳ vào đối tƣợng nuôi mà thức ăn sử dụng nuôi cá cũng rất phong phú, gồm có: thức ăn tạp, ngô, cá tạp, cỏ, thức ăn viên và đậu tằm Đối với cá trắm cỏ: thức ăn sử dụng là cỏ, bèo tây Do hệ số thức ăn loại này rất cao nên cần cung cấp lƣợng thức ăn cho cá trắm cỏ nhiều Qua điều tra cho thấy, các hộ nuôi vẫn chƣa hoàn toàn chủ động và cung ứng đủ thức ăn cho cá trắm cỏ do quỹ đất có hạn Đối với các loài cá ăn thịt (cá lăng, cá nheo…): thức ăn sử dụng chính là cá tạp xay nhỏ, các loại phụ phẩm lò m …cho cá ăn trực tiếp Tuy nhiên, nguồn cá tạp cũng biến động theo mùa khai thác và tiềm ẩn nhiều nguy cơ ô nhiễm môi trường và dịch bệnh nếu quản lý cho ăn không tốt Đối với loại thức ăn dạng viên n i (thức ăn công nghiệp): đa số các loài cá nuôi lồng đều có thể sử dụng loại thức ăn này (cá chép, rô phi, diêu hồng, … ) Loại thức ăn này có hàm lƣợng dinh dƣỡng đáp ứng đƣợc nhu cầu của đối tượng nuôi, tuy nhiên chất lượng thịt cá theo đánh giá của người tiêu dùng là không ngon và thua xa đối với chất lƣợng cá nuôi bằng các loại thức

Theo báo cáo Tổng kết nuôi trồng thủy sản năm 2015 của Chi cục Thủy sản Hải Dương, người nuôi sử dụng các sản phẩm nông nghiệp như cỏ, ngô, cám gạo và cá tạp ủ men làm thức ăn cho thủy sản Hiện tại, huyện chưa có nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản nào Đối với cá trắm giòn và chép giòn, thức ăn chủ yếu là đậu tằm, trước đây hoàn toàn nhập khẩu từ Trung Quốc, nhưng gần đây một số hộ đã bắt đầu trồng loại đậu này, tuy nhiên số lượng vẫn còn hạn chế.

Theo quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm trong nuôi cá, người nuôi phải ghi chép nhật ký nuôi và thực hiện nguyên tắc 3 không 4 đúng Cụ thể, không được sử dụng chất cấm, hoá chất, kháng sinh và thuốc thú y thuỷ sản ngoài danh mục được cấp phép; đồng thời không dùng thuốc thuỷ sản không rõ nguồn gốc Việc sử dụng thuốc cần phải theo đúng bệnh và thời điểm, đảm bảo hiệu quả cao khi tuân thủ hướng dẫn trên nhãn hoặc chỉ dẫn của cán bộ chuyên môn, cũng như hướng dẫn của nhà sản xuất và thời gian cách ly trước khi thu hoạch.

CHÍNH SÁCH CHO VIỆC ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ SẠCH

Ngày đăng: 23/03/2022, 16:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia, thủy sản, nuôi trồng thủy sản, phát triển bền vững, https://vi.Wikipedia.org, ngày cập nhật 25.6.2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: thủy sản, nuôi trồng thủy sản, phát triển bền vững
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011), Đề án phát triển Nuôi trồng thủy sản đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án phát triển Nuôi trồng thủy sản đến năm 2020
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2011
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2012), Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2012
5. Bộ Thuỷ sản (2001), Chiến lược phát triển nuôi trồng bền vững góp phần xoá đói giảm nghèo, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển nuôi trồng bền vững góp phần xoá đói giảm nghèo
Tác giả: Bộ Thuỷ sản
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
9. Cục Thống kê tỉnh Hải Dương (năm 2014), Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2013, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2013
Nhà XB: NXB Thống Kê
10. Cục Thống kê tỉnh Hải Dương (2015), Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2014, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2014
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Hải Dương
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2015
11. Vũ Cao Đàm (2009), Bài giảng chuyên đề phân tích chính sách, Trung tâm nghiên cứu và phân tích chính sách, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng chuyên đề phân tích chính sách
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Năm: 2009
12. Vũ Cao Đàm (2011), Giáo trình Khoa học chính sách, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Khoa học chính sách
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2011
13. Vũ Cao Đàm (2013), Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học – NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
14. Khoa Thuỷ sản Đại học Nông Lâm Huế (2009), Giáo trình quản lý dựa vào cộng đồng và xây dựng vùng nuôi trồng thuỷ sản an toàn, Nxb Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý dựa vào cộng đồng và xây dựng vùng nuôi trồng thuỷ sản an toàn
Tác giả: Khoa Thuỷ sản Đại học Nông Lâm Huế
Nhà XB: Nxb Đại học Huế
Năm: 2009
15. Đặng Ngọc Lợi, Chính sách công ở Việt Nam, Lý luận và thực tiễn, http://thanhtra.edu.vn, ngày cập nhật 28.6.2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công ở Việt Nam, Lý luận và thực tiễn
17. Nguyễn Văn Phúc (2014), Bài giảng Quản lý Đổi mới công nghệ, Khoa Quản trị kinh doanh, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Quản lý Đổi mới công nghệ
Tác giả: Nguyễn Văn Phúc
Năm: 2014
18. Nguyễn Mạnh Quân- Nguyễn Hồng Việt (2006): Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết đổi mới (theory of innovation) trong Đánh giá và Dự báo công nghệ ở Việt Nam (báo cáo tổng hợp), Viện Chiến lƣợc và chính sách khoa học và công nghệ, Bộ KH&CN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết đổi mới (theory of innovation) trong Đánh giá và Dự báo công nghệ ở Việt Nam (báo cáo tổng hợp)
Tác giả: Nguyễn Mạnh Quân- Nguyễn Hồng Việt
Năm: 2006
23. Anh Tùng, Đôi nét về công nghệ sạch, http://www.cesti.gov.vn: ngày cập nhật 23.6.2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi nét về công nghệ sạch
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Quyết định số 2760/QĐ- BNN-CTS, 22/11/2013 phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành thủy sản theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững Khác
6. Chi cục Thủy sản Hải Dương (2015), Báo cáo Tổng kết nuôi trồng thủy sản năm 2015 và kế hoạch thực hiện năm 2016 Khác
7. Chính phủ (2010), Quyết định 1895/QĐ-TTg ngày 17/12/2012 về việc phê duyệt Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thuộc Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020 Khác
8. Chính phủ (2014), Nghị định số 67/2014/NQ-CP ngày 07/7/2014 và Nghị định 89/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015 sửa đổi Nghị định 67/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ về Chính sách hỗ trợ phát triển thủy sản Khác
16. Phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện Nam Sách (2015), Báo cáo tổng kết năm 2015 Khác
19. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật khoa học và công nghệ 2013 Khác