Ở nước ta những năm gần đây, đổi mới cơ chế quản lý tài chính nói chung, đổi mới cơ chế quản lý tài chính ở các bệnh viện công lập nói riêng là đòi hỏi cấp thiết, khách quan trước yêu cầu hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Trong nền kinh tế thị trường các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp hàng hóa công cộng, đóng vai trò quan trọng nhằm đáp ứngyêucầuphát triển của nền kinh tế và đời sống xã hội của dân cư, số lượng và lĩnh vực hoạt động của các đơn vị sự nghiệp ngày càng tăng. Các đơn vị sự nghiệp không chỉ đơn thuần thực hiện chỉ tiêu kế hoạch nhà nước giaomàcòn tổ chứccungứng dịch vụ cho xã hội. Do đó, nguồn tài chính của các đơn vị này không chỉ do ngân sách nhà nước cấp mà còn thu từ việc cungcấp các dịch vụ, nguồnxã hội hóa, góp vốn liên doanh liênkết, viện trợ… Với nguồn lực tài chính đa dạng như vậy, vấn đề đặt ra là phải quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực trên sao cho hiệu quả mà vẫn đảm bảo thực hiện tốt vai trò chức năng của các hoạt động sự nghiệp, tránh lãng phí và suy giảm chất lượng của các hoạt động sự nghiệp. Trong giai đoạn 2002 – 2006, nghị định 432006NĐCP ngày 25042006 của Chính phủ về việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị định 852012NĐCP ban hành ngày 15102012, nghiêm cấm các cơ sở y tế, công chức, viên chức y tế thu thêm của người bệnh ngoài mức giá đã được quy định. Chính phủ đã ban hành nghị định 43 được thay thế bằng nghị định 162015NĐCP về quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập với hy vọng sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động, tiết kiệm chi phí, nâng cao tính đáp ứng của cơ sở y tế công lập trong từng giai đoạn phát triển của nước nhà.Phát huy quyền chủ động, tính sáng tạo, khai thác tối đa nguồn lực tài chính của các đơn vị trong khối hành chính sự nghiệp tham gia vào các hoạt động kinh tế, xã hội. Cơ chế quản lý tài chính mới gắn trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ khi sử dụng nguồn lực của Nhà nước, huy động nội lực để bù đắp nguồn ngân sách Nhà nước ở một số lĩnh vực hoạt động sự nghiệp. Các cơ sở y tế công lập của cả nước nói chung và bệnh viện Bạch Mai nói riêng đều đang vướng mắc về công tác quản lý tài chính khi hoạt động trong cơ chế mới. Nhiệm vụ đặt ra cho các nhà quản lý cần phải xác định được những vấn đề gì ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính và mức độ ảnh hưởng của chúng để có hướng khắc phục nhằm nâng cao tính hiệu quả kinh tế xã hội trong các tổ chức này. Từ những lý do trên, tác giả đã quyết định lựa chọn chủ đề: “Giải pháp quản lý tài chính tại bệnh viện Bạch Mai” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP
Tổng quan quản lý tài chính tại bệnh viện công lập
1.1.1 Khái quát về bệnh viện công lập
1.1.1.1 Khái niệm về bệnh viện công lập
Bệnh viện ban đầu chỉ là cơ sở từ thiện nhằm giúp đỡ người nghèo và chữa trị bệnh truyền nhiễm Theo Tổ chức Y tế Thế giới năm 1957, bệnh viện không chỉ đơn thuần là nơi chữa bệnh mà còn là một phần quan trọng của tổ chức xã hội và y tế, có chức năng chăm sóc sức khỏe toàn diện cho cộng đồng, bao gồm cả phòng bệnh và chữa bệnh Ngoài ra, bệnh viện còn có vai trò trong việc đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu y học, mở rộng dịch vụ đến cả gia đình và môi trường sống.
Bệnh viện được công nhận là tổ chức có tư cách pháp nhân, sở hữu con dấu và tài khoản riêng, đồng thời tổ chức bộ máy kế toán theo quy định pháp luật Nhiệm vụ chính của bệnh viện là cung cấp dịch vụ công và hỗ trợ quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế, bao gồm khám bệnh và chữa bệnh.
Bệnh viện công lập, theo Nguyễn Thị Hạnh (2015), là cơ sở y tế thuộc sở hữu nhà nước, nhằm phục vụ lợi ích cộng đồng và chăm sóc sức khỏe nhân dân Hoạt động của bệnh viện công lập được tài trợ bởi ngân sách nhà nước theo kế hoạch hàng năm, đồng thời có quyền thu một phần viện phí theo quy định của nhà nước Theo Nghị định 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012, bệnh viện công lập là đơn vị sự nghiệp y tế với cơ chế hoạt động và tài chính được quy định rõ ràng, đảm bảo chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh cho người dân.
Đơn vị sự nghiệp y tế công lập là tổ chức được thành lập và quản lý bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có tư cách pháp nhân và thực hiện các nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực y tế như y tế dự phòng, khám bệnh và chữa bệnh Tổ chức này phải tuân thủ các quy định pháp luật về kế toán, bao gồm việc có con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán hợp lệ.
1.1.1.2 Đặc điểm của bệnh viện công lập
Bệnh viện công lập đóng vai trò quan trọng trong việc phục vụ xã hội, cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh cho người dân mà không vì lợi nhuận Qua đó, các bệnh viện này thực hiện các phúc lợi công cộng của nhà nước, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng Những đặc điểm này thể hiện rõ nét trong hoạt động của các bệnh viện công lập.
- Tiếp nhận, khám, cấp cứu, chữa bệnh và phục hồi chức năng cho bệnh nhân mắc các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới.
- Tư vấn các vấn đề liên quan tới bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới.
Phối hợp giữa các cơ sở y tế là cần thiết để thực hiện khám sức khỏe cho những người đi công tác, học tập, lao động ở nước ngoài, cũng như cho những cá nhân kết hôn với người nước ngoài Việc này đảm bảo rằng tất cả các đối tượng đều đáp ứng được các yêu cầu sức khỏe cần thiết theo quy định của các quốc gia khác.
- Khám, chữa bệnh chuyên khoa cho người nước ngoài.
- Tham gia khám giám định y khoa theo yêu cầu của Hội đồng Giám định Y khoa trên cơ sở phân cấp của Bộ Y tế.
- Phục hồi chức năng sau điều trị và phục hồi chức năng cộng đồng cho bệnh nhân thuộc chuyên khoa.
- Khám, chữa một số bệnh thông thường khi đủ điều kiện.
Sản phẩm của bệnh viện công lập là những dịch vụ vô hình, phục vụ cho nhiều người và đối tượng khác nhau, mang lại lợi ích bền vững và gắn liền với việc tạo ra của cải vật chất cũng như giá trị tinh thần Các sản phẩm này bao gồm nhiều dịch vụ y tế thiết yếu, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Phối hợp chặt chẽ với các cơ sở y tế địa phương nhằm phát hiện, dự phòng và ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh, đặc biệt là các dịch nguy hiểm và mới phát sinh.
Tổ chức thực hiện chương trình phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới, đồng thời tham gia chỉ đạo công tác phòng chống dịch bệnh trên toàn quốc theo sự phân công của Bộ Y tế.
Chuẩn bị cơ sở vật chất để tiếp nhận và cách ly bệnh nhân là rất quan trọng trong việc khống chế dịch bệnh Cần chủ động đề xuất với các cấp có thẩm quyền về việc dự trữ nguồn lực cần thiết để ứng phó kịp thời nếu dịch bệnh xảy ra.
Nghiên cứu khoa học và hợp tác trong lĩnh vực dịch tễ học lâm sàng là rất quan trọng để xác định các yếu tố liên quan đến sự lây truyền bệnh Mục tiêu chính là phát triển các biện pháp hiệu quả nhằm phòng ngừa và kiểm soát các bệnh truyền nhiễm, bệnh nhiệt đới, cũng như các dịch bệnh nguy hiểm và mới nổi.
Nghiên cứu mô hình bệnh tật và xây dựng quy trình kỹ thuật là rất quan trọng trong chuyên ngành các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới Việc phát triển các phương pháp chẩn đoán, phác đồ điều trị, dự phòng và phục hồi chức năng cần được thống nhất và áp dụng rộng rãi trong toàn quốc để nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
- Tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Y tế về định hướng công tác nghiên cứu khoa học trong chuyên ngành các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới.
Nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới là rất quan trọng để nâng cao sức khỏe cộng đồng Thử nghiệm lâm sàng và triển khai các dịch vụ khoa học kỹ thuật tiên tiến sẽ góp phần cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân.
Hoạt động sự nghiệp tại các bệnh viện công lập luôn chịu ảnh hưởng từ các chương trình mục tiêu quốc gia, bao gồm chương trình xóa mù chữ, chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng và chương trình mục tiêu y tế dân số Những chương trình này đóng vai trò quan trọng trong việc định hình và phát triển các dịch vụ y tế, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng.
1.1.1.3 Vai trò của bệnh viện công lập
Bệnh viện công lập đóng vai trò thiết yếu trong việc khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cơ bản cho người dân, góp phần vào sự phát triển toàn diện của con người Ngoài ra, các bệnh viện này còn tham gia đào tạo đội ngũ y bác sĩ chất lượng, thực hiện nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và chương trình 1816 theo yêu cầu của Chính phủ Đặc biệt, thông qua các nghiên cứu khoa học và dự án hợp tác quốc tế, trình độ y học của Việt Nam ngày càng được nâng cao và được công nhận trên toàn thế giới.
Nội dung quản lý tài chính tại bệnh viện công lập
Đối với quy trình quản lý tài chính ở các bệnh viện thì cần phải tuân thủ theo
Thứ nhất, lập kế hoạch dự toán thu chi
Thứ hai, tổ chức thực hiện kế hoạch thu chi
Thứ ba, quyết toán thu chi.
Cuối cùng, kiểm tra tài chính nhằm xác định tính chính xác của các khoản thu chi của bệnh viên công lập.
1.2.1 Lập kế hoạch dự toán thu chi
Các khoản mục dự toán thu chi bao gồm dự toán thu và chi, đóng vai trò quan trọng trong việc xác định phương hướng thực hiện kế hoạch hàng năm Việc lập dự toán giúp sử dụng ngân sách một cách hiệu quả, đặc biệt là trong việc quản lý thu chi tại các bệnh viện công lập.
1.2.1.1.Đối với lập kế hoạch các nguồn thu
Xây dựng kế hoạch dự toán thu phải dựa vào các căn cứ sau:
Để đảm bảo hiệu quả công việc, đơn vị cần căn cứ vào nhiệm vụ chính trị và xã hội được giao, cùng với các chỉ tiêu cụ thể và từng lĩnh vực hoạt động do cơ quan có thẩm quyền thông báo.
+ Các văn bản pháp lý quy định thu như các chế độ thu do Nhà nước quy định.
+ Số kiểm tra về dự toán thu do cơ quan có thẩm quyền thông báo.
Kết quả phân tích cho thấy tình hình thực hiện dự toán thu của các năm trước, đặc biệt là năm báo cáo, đã được đánh giá kỹ lưỡng, đồng thời dự đoán triển vọng thu nhập cho các năm tiếp theo Các nguồn thu tiềm năng cho bệnh viện công lập cũng đã được xác định rõ ràng.
(1) Nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước cấp
Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên tại các bệnh viện bao gồm hai loại: một là các bệnh viện tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động, hỗ trợ cho những chi phí chưa được tính trong giá dịch vụ công; hai là các bệnh viện do Nhà nước đảm bảo chi thường xuyên, dựa trên số lượng nhân viên và định mức phân bổ dự toán đã được phê duyệt Các cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp sẽ giao kinh phí trong phạm vi dự toán đã được cấp có thẩm quyền phê chuẩn.
- Nguồn ngân sách nhà nước cấp để thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên bao gồm:
+ Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với các bệnh viện không phải là đơn vị khoa học và công nghệ);
+ Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng công chức viên chức; + Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;
+ Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, các nhiệm vụ khác);
+ Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
+ Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định (nếu có);
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản và kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo dự án, phải tuân theo phạm vi dự toán được giao hàng năm.
+ Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
+ Kinh phí khác (nếu có).
(2) Các nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp:
Nguồn thu từ dịch vụ sự nghiệp công chủ yếu đến từ ngân sách nhà nước, được đặt hàng để cung cấp dịch vụ theo giá tính đủ chi phí.
Theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí, nguồn thu phí sẽ được để lại chi theo các quy định cụ thể, bao gồm phần chi thường xuyên và phần chi cho việc mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị và tài sản phục vụ công tác thu phí.
- Thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của đơn vị, cụ thể:
Sự nghiệp y tế và đảm bảo xã hội bao gồm các nguồn thu từ dịch vụ khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, y tế dự phòng, đào tạo và nghiên cứu khoa học với các tổ chức Ngoài ra, còn có nguồn thu từ cung cấp chế phẩm y tế, dịch vụ trong bệnh viện, bào chế thuốc, dịch truyền, sàng lọc máu và các khoản thu khác theo quy định pháp luật.
Bệnh viện có quyền nhận nguồn vốn viện trợ, quà biếu và tặng cho theo quy định của pháp luật, đồng thời được phép chi tiêu các nguồn thu này theo quy định của nhà nước.
Bệnh viện có thể vay vốn từ các tổ chức tín dụng và cán bộ trong đơn vị theo sự cho phép của nhà nước Tuy nhiên, việc hạch toán phải được thực hiện một cách rõ ràng và nguồn vốn này cần được sử dụng theo đúng chế độ quy định của nhà nước.
Bệnh viện cũng tận dụng nguồn vốn từ các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước thông qua hình thức liên doanh, liên kết, tuân thủ quy định pháp luật.
1.2.1.2.Đối với kế hoạch dự toán các nguồn chi
Lập dự toán chi là bước quan trọng trong quản lý ngân sách nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của các khâu chấp hành, kế toán và quyết toán Để lập dự toán chính xác, cần dựa trên các căn cứ cụ thể.
Nhà nước đề ra chủ trương duy trì và phát triển các hoạt động sự nghiệp theo từng giai đoạn, điều này tạo cơ sở cho việc xây dựng dự toán chi tài chính tại bệnh viện Việc này giúp xác định rõ các mục tiêu và nhiệm vụ cần đạt được trong năm, từ đó lựa chọn các hình thức và phương pháp phân phối nguồn vốn một cách tiết kiệm và hiệu quả.
Dựa vào các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là những chỉ tiêu liên quan đến cấp phát kinh phí ngân sách cho bệnh viện, việc cụ thể hóa các chủ trương của Nhà nước thành các chỉ tiêu cụ thể cho từng giai đoạn là cần thiết Để xây dựng dự toán chi, cần phải thẩm tra và phân tích tính đúng đắn, hiện thực và hiệu quả của các chỉ tiêu này Trên cơ sở đó, có thể kiến nghị điều chỉnh các chỉ tiêu kế hoạch cho phù hợp hơn.
Để dự đoán khả năng nguồn kinh phí đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên trong kế hoạch, Bệnh viện cần phân tích cơ cấu thu ngân sách nhà nước trong kỳ báo cáo và mức tăng trưởng của các nguồn thu trong kỳ kế hoạch Qua đó, Bệnh viện sẽ thiết lập mức cân đối tổng quát giữa khả năng nguồn kinh phí và nhu cầu chi ngân sách nhà nước.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính tại bệnh viện công lập
1.3.1 Các nhân tố bên trong
Năng lực của bộ máy quản lý tài chính tại bệnh viện
Năng lực quản lý tài chính của bệnh viện phụ thuộc vào sức mạnh tổ chức bộ máy, trình độ chuyên môn và kỹ năng quản lý của các cán bộ tài chính.
Bộ máy quản lý tài chính tại bệnh viện cần được tổ chức một cách đồng bộ và tinh gọn, với mức độ chuyên môn hóa hợp lý để đảm bảo hiệu quả trong việc tự chủ tài chính Ngược lại, nếu bộ máy này thiếu chuyên môn hóa, phối hợp và đồng bộ, sẽ gây cản trở cho công tác quản lý tài chính, dẫn đến hiệu quả kém trong các bệnh viện.
Trình độ cán bộ quản lý đóng vai trò then chốt trong việc quyết định hiệu quả của quản lý tài chính tại đơn vị Cán bộ quản lý tài chính có kinh nghiệm và chuyên môn cao sẽ đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp, kịp thời và chính xác, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý tài chính trong bệnh viện.
Hệ thống kiểm soát nội bộ của bệnh viện
Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm các quy định và thủ tục do đơn vị thiết lập để đảm bảo quản lý tài chính tuân thủ pháp luật Mục tiêu của hệ thống này là kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện sai sót, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn cũng như tài sản của đơn vị.
Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát.
Môi trường kiểm soát đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận thức và quan điểm của lãnh đạo về hệ thống kiểm soát nội bộ Việc nâng cao môi trường kiểm soát không chỉ giúp cải thiện hoạt động quản lý tài chính mà còn giảm thiểu các sai phạm trong bệnh viện.
Thủ tục kiểm soát là những quy định do lãnh đạo đơn vị thiết lập nhằm đảm bảo quản lý hiệu quả Việc tuân thủ các thủ tục này giúp cán bộ quản lý tài chính phát hiện và khắc phục kịp thời các sai sót.
Bệnh viện có hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ sẽ hỗ trợ hiệu quả cho công tác quản lý tài chính Hệ thống này đảm bảo việc quản lý tài chính được theo dõi thường xuyên, với các thủ tục kiểm tra và kiểm soát được thiết lập đầy đủ và đồng bộ Nhờ đó, đơn vị có thể phát hiện sai sót kịp thời và ngăn chặn các vi phạm trong quản lý tài chính.
Phương hướng chiến lược phát triển của bệnh viện
Phương hướng chiến lược phát triển của bệnh viện ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động và quản lý tài chính của đơn vị Do đó, việc xác định chính xác phương hướng chiến lược là cần thiết để xây dựng mục tiêu và giải pháp quản lý tài chính phù hợp Bệnh viện cần thận trọng trong các quyết định đầu tư, mua sắm và sử dụng trang thiết bị, cũng như trong việc phân bổ và sử dụng nguồn lực, kiểm soát chi tiêu và chất lượng dịch vụ y tế Hiện nay, nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn lực khác của bệnh viện còn hạn chế, tạo ra thách thức lớn cho công tác quản lý tài chính của bệnh viện công lập.
Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, nhiều bệnh viện tại Việt Nam đã xây dựng chiến lược phát triển tập trung vào tăng trưởng và đầu tư tài chính cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Đội ngũ nhân lực chuyên môn là yếu tố then chốt trong việc thực hiện chiến lược này.
Con người là yếu tố quyết định sự phát triển và thành công của bệnh viện, đặc biệt trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe Đội ngũ y bác sĩ và nhân viên bệnh viện cần phải có y đức và tay nghề chuyên môn cao để đảm bảo cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt nhất cho bệnh nhân.
Đội ngũ cán bộ quản lý bệnh viện, đặc biệt là bộ phận quản lý tài chính, đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quyết định tài chính, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động và sự phát triển của bệnh viện Sự có mặt của những cán bộ quản lý tài chính có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, năng động và trung thực là điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính Hơn nữa, nhân viên ở các bộ phận khác cũng góp phần không nhỏ vào quá trình này thông qua hoạt động chuyên môn của họ, từ đó ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống quản lý tài chính của bệnh viện.
Quy mô và chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện
Trong bối cảnh kinh tế xã hội phát triển, nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao và đa dạng đòi hỏi các bệnh viện phải nâng cao quy mô và chất lượng dịch vụ Điều này không chỉ tạo điều kiện tăng thu nhập mà còn thúc đẩy thu chi tài chính của bệnh viện Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu này, các bệnh viện cần đầu tư vào thiết bị hiện đại, công nghệ mới và đào tạo nâng cao tay nghề cho nhân viên quản lý tài chính Do đó, hoạt động quản lý tài chính của bệnh viện đang phải đối mặt với nhiều thách thức, nhất là khi quy mô và chất lượng khám chữa bệnh vẫn còn hạn chế.
1.3.2 Các nhân tố bên ngoài
Chế độ, chính sách pháp luật của nhà nước liên quan đến quản lý tài chính tại các bệnh viện công lập
Một số chế độ và chính sách pháp luật của nhà nước chưa được hướng dẫn kịp thời, đặc biệt là các quy định về khoản mục chi và chế độ chi cho bệnh viện Các bệnh viện công lập phải tuân thủ các định mức của Nhà nước, cho phép họ sử dụng nguồn ngân sách nhà nước và quản lý các khoản thu chi Những quy định này đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và quản lý nguồn thu của bệnh viện Tuy nhiên, do các quy định chủ yếu mang tính định tính mà không có định lượng rõ ràng, điều này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau.
Hiện nay, sự gia tăng các loại bệnh dịch đã buộc các bệnh viện phải đầu tư nhiều hơn vào nghiên cứu và phát triển các phương pháp điều trị cũng như phòng chống dịch bệnh Đồng thời, nguồn thu của bệnh viện cũng tăng lên Do đó, việc quản lý tài chính tại các bệnh viện công lập cần được điều chỉnh để phù hợp với tình hình hiện tại.
Do sự thay đổi trong quy định, cá nhân giờ đây có quyền khám chữa bệnh khác tuyến và vượt tuyến Điều này sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch thu chi của các bệnh viện công lập, đồng thời tác động đến việc quản lý tài chính của các cơ sở y tế này.
Môi trường kinh tế xã hội
Kinh nghiệm quản lý tài chính của một số bệnh viện tại Việt Nam và bài học
1.4.1 Kinh nghiệm về quản lý tài chính tại một số bệnh viện tại Việt Nam 1.4.1.1 Kinh nghiệm quản lý tài chính tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, được xếp hạng đặc biệt theo Quyết định 1446/QĐ-BNV ngày 21/9/2015, là bệnh viện chuyên khoa hạng đặc biệt đầu tiên tại Việt Nam.
Bệnh viện hữu nghị Việt Đức, theo Quyết định số 1424/QĐ-BYT ngày 17/4/2015 của Bộ Y tế, được giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính Bệnh viện có 1 viện và 10 trung tâm trực thuộc, bao gồm 18 khoa lâm sàng, 8 khoa cận lâm sàng cùng 11 phòng chức năng Với quy mô 1.500 giường và hơn 50 phòng mổ, bệnh viện sở hữu hệ thống mổ nội soi đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Nguồn thu tài chính của bệnh viện bao gồm ngân sách nhà nước, thu từ hoạt động sự nghiệp, viện trợ, quà biếu và các nguồn khác Các khoản chi tiêu chủ yếu gồm tiền lương, bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, vật tư văn phòng, chi phí chuyên môn và các khoản khác Để đảm bảo tính minh bạch trong quản lý thu, bệnh viện đã gửi toàn bộ số thu từ hoạt động khám chữa bệnh vào Kho bạc nhà nước, mở tài khoản chuyên thu và ủy quyền cho ngân hàng thu hộ, đồng thời định kỳ chuyển số tiền về tài khoản của đơn vị tại Kho bạc để quản lý chi tiêu và quyết toán.
Bệnh viện đã có nhiều giải pháp quản lý tài chính từ đó đạt được nhiều thành tựu nhất định:
Bệnh viện đã được trao quyền tự chủ tài chính, từ đó chủ động mở rộng các hoạt động sự nghiệp và tăng nguồn thu Sự gia tăng đều đặn nguồn thu sự nghiệp qua các năm chứng tỏ tính tự chủ của bệnh viện ngày càng được nâng cao.
Bệnh viện đã xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ dựa trên các văn bản hướng dẫn và định mức nhà nước, phù hợp với khả năng ngân sách của đơn vị Quy chế này được thảo luận công khai và dân chủ với toàn thể cán bộ trong bệnh viện, sau đó nộp cho cơ quan chủ quản cấp trên Nội dung và định mức chi tiêu được quy định rõ ràng trong Quy chế chi tiêu nội bộ.
Bệnh viện đã áp dụng các biện pháp tiết kiệm chi phí nhằm tăng cường chênh lệch giữa thu và chi, qua đó nâng cao nguồn kinh phí cho các hoạt động phát triển và cải thiện thu nhập cho nhân viên.
Trong những năm qua, công tác quản lý tài sản tại Bệnh viện đã nâng cao năng lực và hiệu quả sử dụng, đồng thời hỗ trợ tích cực cho các bác sĩ trong việc khám chữa bệnh, đáp ứng tốt hơn với nhiệm vụ chuyên môn của ngành y tế.
Nguồn thu của Bệnh viện hiện còn hạn chế do chính sách giá viện phí chưa phản ánh đúng và đủ các yếu tố đầu vào theo quy trình chuyên môn kỹ thuật Bên cạnh đó, nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước cấp cho bệnh viện đang có xu hướng giảm, không đáp ứng kịp thời nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng Các nguồn thu khác như viện trợ, vốn liên doanh liên kết và huy động từ cán bộ viên chức còn thấp, dẫn đến hoạt động xã hội hóa nguồn thu chưa hiệu quả Bệnh viện cũng chưa phát huy đầy đủ quyền tự chủ trong việc sử dụng tài sản để liên doanh, liên kết hoặc góp vốn đầu tư với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh.
1.4.1.2 Kinh nghiệm quản lý tài chính tại Bệnh viện Tim Hà Nội
Bệnh viện Tim Hà Nội đã đạt được nhiều thành công trong quản lý tài chính sau khi chuyển đổi mô hình hoạt động, trở thành đơn vị tự chủ tài chính và chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy Mô hình này được Chính phủ và Ban Kinh tế Trung ương chọn nghiên cứu để nhân rộng Để duy trì thành công, lãnh đạo bệnh viện cần chủ động, sáng tạo và thực hiện công khai, minh bạch trong các hoạt động Bệnh viện đã đầu tư vào thiết bị hiện đại và cử cán bộ đi đào tạo nâng cao tay nghề, đồng thời khuyến khích cán bộ y tế qua thu nhập dựa trên hiệu quả công việc Từ năm 2005 đến 2016, doanh thu của bệnh viện tăng từ 22,5 tỷ đồng lên 840 tỷ đồng, và đạt hơn 900 tỷ đồng vào năm 2017 Quy mô giường bệnh cũng được mở rộng từ 363 giường lên 750 giường trong các năm tiếp theo Để quản lý tài chính hiệu quả, bệnh viện đã mở tài khoản tại ngân hàng thương mại và thực hiện kiểm kê quỹ tiền mặt thường xuyên, đồng thời quản lý chặt chẽ các chi phí và nghĩa vụ thuế theo quy định.
1.4.2 Bài học kinh nghiệm về quản lý tài chính áp dụng cho Bệnh viện Bạch Mai
Nghiên cứu quản lý tài chính tại một số bệnh viện ở Việt Nam cung cấp những bài học quý giá về việc thực hiện tự chủ Vai trò can thiệp của Chính phủ là cần thiết để đảm bảo tự chủ và nâng cao trách nhiệm, từ đó cải thiện hiệu quả hoạt động của các bệnh viện công.
- Phải xây dựng chiến lược phát triển ngành y tế gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
- Phân cấp, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm tài chính cho bệnh viện công lập; cùng với đa dạng hóa các hình thức sở hữu bệnh viện;
Quá trình mở rộng tự chủ tài chính cho bệnh viện công lập cần có lộ trình hợp lý, đồng thời phải đồng bộ với việc hoàn thiện các chính sách Bảo hiểm y tế và quản lý giá dịch vụ y tế Việc kiểm tra và giám sát cũng rất quan trọng, nhằm phát hiện kịp thời những khuyết điểm và tiêu cực, từ đó sửa chữa và hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính cho các bệnh viện công lập.
Nhà nước cần xây dựng và ban hành biểu phí thống nhất cho các dịch vụ y tế, quy định mức phí cho từng hoạt động cụ thể Mức phí dịch vụ phải bao gồm đầy đủ các chi phí cần thiết để bệnh viện cung cấp dịch vụ y tế, đồng thời tích lũy một phần để đảm bảo sự phát triển bền vững của bệnh viện Cần kiểm soát chặt chẽ việc áp dụng mức phí dịch vụ, nghiêm cấm thu thêm các khoản phụ phí hay tính phí cao hơn mức giá đã quy định.
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI
Khái quát về bệnh viện Bạch Mai
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của bệnh viện Bạch Mai
Bệnh viện Bạch Mai, được thành lập vào năm 1911 từ Nhà thương Cống Vọng, là bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh hạng đặc biệt đầu tiên của Việt Nam theo Quyết định số 186/QĐ-BNV ngày 25/01/2006 Là bệnh viện tuyến cuối của các tỉnh phía Bắc, Bệnh viện Bạch Mai đã được Bộ trưởng Bộ Y tế phê chuẩn Quyết định số 1424/QĐ-BYT vào ngày 17/4/2015, giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính Với hơn 100 năm phát triển, bệnh viện không chỉ nổi bật trong khám chữa bệnh mà còn có bề dày lịch sử trong nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế.
Bệnh viện Bạch Mai hiện có quy mô hơn 3.000 giường bệnh và đội ngũ cán bộ, công nhân viên lên tới 4.000 người Đội ngũ nhân sự chất lượng cao bao gồm nhiều Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ, Bác sĩ, Dược sĩ và Kỹ sư.
Bệnh viện được trang bị máy móc và thiết bị hiện đại, cùng với đội ngũ y tá, điều dưỡng và kỹ thuật viên có trình độ cao, đảm bảo cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh chất lượng cao và đáng tin cậy cho bệnh nhân và cộng đồng trên toàn quốc.
Hiện nay, bệnh viện đã phát triển hơn 9.600 danh mục kỹ thuật khám chữa bệnh, bao gồm nhiều kỹ thuật mới và chuyên sâu, trong đó có những kỹ thuật lần đầu tiên được áp dụng tại Việt Nam Đáng chú ý, có sự phối hợp với bệnh viện Việt Đức trong việc ghép phổi cho bệnh nhân u mô bào Langerhans Các phẫu thuật thay khớp gối bán phần và toàn phần được thực hiện bằng Robot Mako, cùng với phẫu thuật điều trị biến dạng cột sống sử dụng hệ thống định vị không gian 3 chiều O arm Bệnh viện cũng áp dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt thùy phổi để điều trị ung thư phổi và nội soi lồng ngực một lỗ để cắt u trung thất Ngoài ra, xạ phẫu dao gamma quay được sử dụng để điều trị u não ở trẻ em, và xạ trị điều biến liều kết hợp với PET/CT mô phỏng Các phương pháp điều trị khác bao gồm điều trị COPD bằng tế bào gốc mô mỡ tự thân, truyền hóa chất động mạch mắt, đốt các khối u gan và tuyến giáp, sinh thiết hút chân không tổn thương vú, can thiệp dị dạng mạch thần kinh, và điều trị can thiệp phình động mạch não cùng với việc lấy huyết khối để điều trị tắc mạch não cấp.
Việc ứng dụng các dịch vụ kỹ thuật cao trong y tế đã nâng cao khả năng chẩn đoán và điều trị, giúp cứu sống nhiều bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo Điều này không chỉ cải thiện chất lượng khám chữa bệnh mà còn bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Hàng năm, chúng tôi tổ chức hàng trăm khóa đào tạo liên tục, chuyển giao hàng trăm kỹ thuật thiết yếu và chuyên sâu cho học viên trên toàn quốc Chúng tôi cũng thực hiện giám sát và hỗ trợ sau đào tạo, đồng thời tư vấn phát triển chuyên ngành cho các bệnh viện phía Bắc Ngoài ra, chúng tôi đã tổ chức thành công các buổi hội chẩn trực tuyến, với hàng ngàn lượt thầy thuốc từ các bệnh viện tham gia, giúp cập nhật chuyên môn qua hệ thống kết nối trực tuyến giữa Bệnh viện Bạch Mai và các bệnh viện tuyến tỉnh.
Bệnh viện đã ký kết hợp tác với nhiều tổ chức quốc tế từ Thái Lan, Hàn Quốc, Pháp, Nhật Bản và Úc, bao gồm Viện Răng Hàm Mặt Thái Lan, Bệnh viện Đại học Quốc gia Seoul-Hàn Quốc, Trung tâm Viện Periguex Pháp, Viện nghiên cứu Woolcock-ĐH Sydney Úc, Hội Thánh hữu Ngày sau Hoa Kỳ, Trường Đại học Kobe, Công ty Rion Nhật Bản và Trường Đại học Birmingham City-Anh Nội dung hợp tác chủ yếu tập trung vào việc trao đổi chuyên môn, đào tạo cán bộ, chuyển giao kỹ thuật, nghiên cứu khoa học, cũng như tổ chức hội thảo và hội nghị.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý của bệnh viện Bạch Mai
Theo Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 19/5/2019 và Quyết định 286/QĐ-TTg ngày 17/02/2020, Chính phủ đã phê duyệt Đề án thí điểm tự chủ cho Bệnh viện Bạch Mai trong giai đoạn 2020-2021 Căn cứ vào Quyết định số 2345/QĐ-BM ngày 17/9/2020, bệnh viện Bạch Mai đã thiết lập quy chế tổ chức và hoạt động, xác định rõ bộ máy của bệnh viện.
- Hội đồng quản lý do Bộ trưởng Bộ Y tế quyết định thành lập, Hội đồng quản lý có 11 thành viên, bao gồm các chức danh sau:
Chủ tịch Hội đồng quản lý làm việc theo chế độ chuyên trách và được bổ nhiệm thông qua quy trình của Bệnh viện, sau đó trình Bộ trưởng Bộ Y tế để xem xét và phê chuẩn.
Phó chủ tịch Hội đồng quản lý làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, hỗ trợ Chủ tịch trong việc giải quyết các vấn đề được giao quyền hoặc ủy quyền Khi Chủ tịch vắng mặt, Phó chủ tịch sẽ thay mặt quản lý và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch cũng như trước pháp luật về các nhiệm vụ được giao.
Hội đồng quản lý gồm 9 thành viên, bao gồm 1 đại diện của Bộ Y tế và 1 thành viên giữ chức thư ký Quy trình bổ nhiệm, từ chức và miễn nhiệm các thành viên Hội đồng quản lý được thực hiện theo quy định của Bệnh viện và phải được Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt.
Ban Kiểm soát bao gồm từ 05 đến 07 thành viên, trong đó có Trưởng ban, 01 Phó Trưởng ban và các thành viên khác Các thành viên của Ban kiểm soát là viên chức của Bệnh viện, được đào tạo trong các chuyên ngành như tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh, và chuyên môn y – dược, đồng thời phải có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc Đặc biệt, Trưởng Ban kiểm soát cần có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc.
Trưởng Ban và các thành viên của Ban được bầu ra bởi Đại hội đồng Công nhân viên chức của bệnh viện, tuy nhiên họ không phải là thành viên của Hội đồng quản lý Ngoài ra, những người này cũng không được đảm nhiệm vị trí người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu, hoặc kế toán trưởng của đơn vị.
Căn cứ kết quả bầu Trưởng ban và thành viên Ban kiểm soát, Chủ tịch Hội đồng quản lý trình Bộ trưởng Bộ Y tế xem xét, phê chuẩn.
Hiện nay Bệnh viện đang trình xin phê duyệt Quy chế hoạt động của Hội đồng quản lý và Ban kiểm soát.
Ban giám đốc của bệnh viện bao gồm Giám đốc và các Phó giám đốc hỗ trợ công việc cho Giám đốc Giám đốc bệnh viện là thành viên của Hội đồng quản lý, được bổ nhiệm theo quy trình mà Hội đồng quản lý thực hiện và trình Bộ trưởng Bộ Y tế xem xét, phê duyệt.
Các Phó giám đốc hỗ trợ Giám đốc trong việc thực hiện các nhiệm vụ được phân công, đồng thời chịu trách nhiệm trước Giám đốc và pháp luật về những công việc này.
Thực trạng quản lý tài chính tại bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2016 – 2019 và
2.2.1 Thực trạng lập dự toán thu chi tại bệnh viện Bạch Mai
Cơ sở lập dự toán thu chi
Cơ sở lập dự toán thu chi của bệnh viện Bạch Mai liên quan chặt chẽ đến quản lý tài chính của các bệnh viện công lập Việc lập dự toán này không chỉ đảm bảo tính minh bạch trong tài chính mà còn giúp tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập đã được Bệnh viện Bạch Mai áp dụng từ năm 2016-2019 với cơ chế tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên Đến năm 2020, Bệnh viện thực hiện thí điểm tự chủ theo Nghị quyết số 33/NQ-CP và Quyết định 286/QĐ-TTg, cho phép đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư trong giai đoạn 2020-2021 Các quy định liên quan đến tự chủ tài chính được áp dụng theo điều 12 và điều 13 của Nghị định 16/2015/NĐ-CP, cùng với các văn bản hướng dẫn như Nghị định số 11/2020/NĐ-CP và Thông tư 62/2020/TT-BTC, nhằm kiểm soát và thanh toán các khoản chi từ ngân sách nhà nước Thêm vào đó, Thông tư 13/2019/TT-BYT và Thông tư 14/2019/TT-BYT quy định mức tối đa khung giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài chính của Bệnh viện Bạch Mai.
Lập kế hoạch tài chính cho bệnh viện hàng năm dựa trên các hoạt động như thu phí, lệ phí và dịch vụ y tế từ năm trước Cần phân tích kỹ lưỡng thực trạng tác động của nền kinh tế và ngành y tế đến thu ngân sách nhà nước (NSNN) trong năm trước khi lập dự toán cho năm tiếp theo.
2.2.1.1 Phương pháp lập dự toán thu chi
Lập kế hoạch tài chính tại bệnh viện Bạch Mai là quá trình xây dựng dự toán thu chi nhằm cụ thể hóa định hướng phát triển và kế hoạch hoạt động ngắn hạn Quá trình này tập trung vào việc tăng nguồn thu hợp pháp và vững chắc để đảm bảo hoạt động thường xuyên của đơn vị Đồng thời, bệnh viện cũng chú trọng củng cố và nâng cấp cơ sở vật chất, đầu tư đúng mục tiêu ưu tiên nhằm đạt hiệu quả cao, hạn chế lãng phí và tiêu cực, cũng như tính công bằng trong việc sử dụng các nguồn đầu tư.
Theo quy định của Bộ Y tế, Bệnh viện Bạch Mai phải lập kế hoạch thu chi ngân sách và gửi thông tin dự toán lên Bộ Y tế vào tháng 6 hàng năm để được xét duyệt Các khoản mục trong dự toán được căn cứ theo hướng dẫn của đơn vị cấp trên, bao gồm tổng nguồn từ ngân sách nhà nước, viện phí và các nguồn chi như chi thường xuyên và chi đầu tư.
Dựa trên các văn bản hướng dẫn lập dự toán ngân sách từ các cấp có thẩm quyền và các tiêu chí phân bổ của Bộ Y tế, cùng với chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện và tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm trước, việc xây dựng dự toán thu chi của bệnh viện cần phải căn cứ vào những yếu tố này để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả.
- Kế hoạch hoạt động, phương hướng nhiệm vụ quản lý tài chính của đơn vị
- Chỉ tiêu, kế hoạch thu chi có thể thực hiện được của Bệnh viện
- Kết quả thực hiện quản lý tài chính các năm trước của Bệnh viện
- Khả năng ngân sách nhà nước cho phép về quản lý tài chính hàng năm
- Khả năng tổ chức quản lý và kỹ thuật của đơn vị về quản lý tài chính hàng năm.
2.2.1.2 Đánh giá công tác lập dự toán thu chi Đối với thời gian lập dự toán thu – chi: vào tháng 6 hàng năm, sau khi có thông báo của các cơ quan cấp trên, bệnh viện Bạch Mai đã tiến hành họp các đơn vị Với dự trù của các khoa liên quan cũng như các cơ sở (như bệnh viện Bạch Mai tại Hà Nam), phòng kế toán của Bệnh viện tổng hợp và lập dự toán thu chi trong thời gian 15 ngày để gửi lên các cơ quan cấp trên xin ý kiến. Đối với nội dung lập dự toán thu chi: bệnh viện Bạch Mai lập dự toán về thu,chi, và chênh lệch thu chi Các hoạt động này đều thực hiện theo các yêu cầu của nhà nước, trong đó dự toán thu sẽ dựa vào (1) nguồn từ NSNN, (2) nguồn từ thu viện phí, (3) nguồn từ thu Bảo hiểm y tế, (4) nguồn thu hợp pháp khác Các nguồn chi cũng được tính toán dựa trên các chỉ tiêu (1) chi thanh toán cho con người; (2) chi cho chuyên môn nghiệp vụ; (3) chi mua sắm sửa chữa và (4) chi khác Sau khi có chênh lệch thu chi, bệnh viên tiến hành dự toán phân bổ vào các quỹ.
Trong giai đoạn 2016 - 2020, bệnh viện Bạch Mai đã thực hiện lập dự toán thu chi ngân sách hằng năm theo quy định Đối với các khoản thu sự nghiệp, dự toán được xây dựng dựa trên số thu thực tế của năm trước, bao gồm các khoản thu phí, lệ phí và dịch vụ Về chi thường xuyên, bệnh viện đảm bảo đủ lương, phụ cấp và các khoản đóng góp cho nhân viên theo chế độ quy định, đồng thời xây dựng định mức chi giường bệnh phù hợp với số thu và chi hàng năm Đối với chi ngân sách không thường xuyên, các đơn vị không lập dự toán cho nhiệm vụ đã hoàn thành năm trước, mà chỉ cần kèm theo bảng thuyết minh chi tiết Dự toán hàng năm thường được bảo vệ vào cuối năm và giao vào đầu năm sau.
Bộ Y tế đã giao quyền tự chủ cho các bệnh viện, cho phép các đơn vị sự nghiệp đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên Việc giao quyền này không được thực hiện theo từng giai đoạn mà sẽ được thực hiện hàng năm.
* Nguồn kinh phí hoạt động của bệnh viện Bạch Mai bao gồm:
- Ngân sách Nhà nước cấp: theo chương trình mục tiêu, dự án và đề án được phê duyệt
- Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp bao gồm: Thu từ viện phí BHYT;
Viện trợ và các nguồn thu hợp pháp khác bao gồm doanh thu từ hoạt động đào tạo, dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu và hợp đồng liên doanh liên kết Ngoài ra, còn có các khoản thu từ dịch vụ tang lễ, cho thuê mặt bằng nhà ăn và dịch vụ trông xe.
Cơ chế quản lý: theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ.
Quy trình quản lý tại các bệnh viện bao gồm việc lập dự toán thu, thực hiện dự toán thu và quyết toán thu, tương tự như các đơn vị sự nghiệp khác.
NSNN cấp cho bệnh viện được phân chia thành hai loại: chi hoạt động đầu tư phát triển, bao gồm đầu tư cơ sở hạ tầng và mua sắm trang thiết bị y tế, và chi cho hoạt động khám chữa bệnh không thường xuyên, thuộc khoản 023130132, bao gồm mua sắm tài sản cố định không thường xuyên, các đề án 1816 và chỉ đạo tuyến.
Bộ Y tế đã cấp cho Bệnh viện thực hiện các chương trình và dự án thuộc các khoản mục khác, bao gồm Dự án phòng chống bệnh tim mạch và Dự án phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính.
Bệnh viện Bạch Mai đã chứng kiến sự tăng trưởng ổn định về nguồn thu qua các năm, ngoại trừ nửa đầu năm 2020 do ảnh hưởng chung của bệnh viện nhà nước Đáng chú ý, nguồn thu từ ngân sách nhà nước giảm mạnh từ 62 tỷ đồng năm 2016 xuống chỉ còn 7,9 tỷ đồng vào nửa đầu năm 2020, với tỷ lệ giảm từ 1,8% xuống 0,44% Ngược lại, nguồn thu từ bảo hiểm y tế đã tăng đáng kể, từ 2.000 tỷ đồng năm 2016 lên 2.700 tỷ đồng năm 2019, tương ứng với mức tăng 35% Điều này phản ánh xu hướng gia tăng sử dụng dịch vụ y tế cấp trung ương, đặc biệt khi bệnh viện mở thêm cơ sở tại Phủ Lý, Hà Nam, dẫn đến nguồn thu viện phí cũng tăng Hơn nữa, nguồn thu từ bảo hiểm y tế hiện chiếm trên 50%, cho thấy sự xã hội hóa trong hoạt động của bệnh viện Là bệnh viện đầu ngành, Bạch Mai cũng nhận được nguồn viện trợ từ các tổ chức quốc tế như Tổ chức Y tế Thế giới để thực hiện các dự án liên quan đến dịch tễ và phát triển công cụ mới.
Bảng 2.2: Dự toán thu tại bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2016 – 2019 và 6 tháng nửa đầu năm 2020 Đơn vị tính: Triệu đồng
Thu trực tiếp viện phí 830.000 960.000 1.120.00
Nguồn viện trợ và nguồn khác 550.000 520.000 600.000 840.000 380.000
Chênh lệch dự thu (năm sau so với năm trước) - 469.000 550.500 212.000 (không tính)
Tỷ lệ tăng dự thu (năm sau so với năm trước) - 13,63% 14,08% 4,75% (không tính)
Nguồn: Báo cáo quyết toán Bệnh viện Bạch Mai giai đoạn
Từ năm 2016 đến nửa đầu năm 2020, nguồn thu từ bệnh viện có xu hướng giảm vào năm 2019, trong khi các năm trước đó tăng trưởng trên 10% Năm 2019, người dân có cơ hội tiếp cận các dịch vụ y tế tại những cơ sở uy tín, nhờ vào việc cho phép khám chữa bệnh tại các địa phương Điều này cho thấy mặc dù nguồn thu của bệnh viện dự kiến giảm, nhưng vẫn là tín hiệu tích cực cho nền y tế Đối với dự toán chi hoạt động, các khoa, phòng trong bệnh viện cần thống kê cụ thể nhu cầu sử dụng, mua sắm, và sửa chữa, sau đó gửi lên bộ phận quản lý để tổng hợp Các bộ phận như Hành chính quản trị, Vật tư TTBYT, CNTT và Kiểm soát nhiễm khuẩn sẽ xem xét và gửi lên Phòng TCKT để lập dự toán chi Đồng thời, Phòng Tổ chức cán bộ sẽ xây dựng cơ cấu nhân lực và phụ cấp, trong khi Phòng Kế hoạch tổng hợp sẽ thiết lập các chỉ tiêu chuyên môn làm cơ sở cho dự toán thu – chi.
Bảng 2.3: Dự toán nguồn chi của Bệnh viện Bạch Mai giai đoạn từ 2016-2019 và 6 tháng đầu năm 2020 Đơn vị tính: triệu đồng
Chi thanh toán cho con người 260.000 261.000 328.000 344.000 169.000
Chi nghiệp vụ chuyên môn
Chi mua sắm, sửa chữa 51.000 37.000 89.000 82.000 37.000
Nguồn: Báo cáo quyết toán Bệnh viện Bạch Mai giai đoạn
Đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại bệnh viện Bạch Mai
2.3.1 Những kết quả đạt được về quản lý tài chính tại bệnh viện Bạch Mai
Bệnh viện Bạch Mai đã thực hiện công tác lập kế hoạch tài chính theo đúng quy trình lập dự toán, đảm bảo không xảy ra tình trạng thiếu kinh phí, đặc biệt là trong việc thực hiện các chế độ chính sách và các khoản chi cho nhân viên.
Bệnh viện Bạch Mai đã đạt được sự cân đối trong ngân sách thu-chi hàng năm, với nguồn thu chủ yếu đến từ ngân sách nhà nước và nguồn thu sự nghiệp Trong đó, nguồn thu sự nghiệp đang gia tăng nhanh chóng và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tổng thu nhập của bệnh viện.
Trước năm 2016, bệnh viện Bạch Mai chủ yếu phụ thuộc vào nguồn NSNN để hoạt động, nhưng sau Nghị định 16/2015/NĐ-CP về tự chủ tài chính, bệnh viện đã có những bước tiến đáng kể Hiện nay, bệnh viện đã đa dạng hóa nguồn thu thông qua việc tăng viện phí, các dịch vụ và điều trị theo yêu cầu, đồng thời chủ động quản lý tài chính và sử dụng kinh phí hợp lý Điều này không chỉ giúp tăng nguồn thu sự nghiệp mà còn từng bước giảm bớt sự phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước, cải thiện thu nhập cho đơn vị.
Công tác kiểm tra và giám sát tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai đã được thực hiện hiệu quả, giúp đánh giá chính xác thực trạng tài chính, xác định các ưu điểm và khuyết điểm một cách khách quan Qua đó, bệnh viện đã tìm ra nguyên nhân của những hạn chế và đề xuất các giải pháp tích cực, hỗ trợ lãnh đạo trong việc đưa ra chủ trương đúng đắn và biện pháp thích hợp nhằm hoàn thiện quản lý tài chính Để đạt được điều này, Bệnh viện Bạch Mai đã thực hiện tốt một số công việc quan trọng trong quản lý tài chính.
Bệnh viện Bạch Mai phải chủ động quyết định chi một phần nguồn thu của mình để đáp ứng nhu cầu hoạt động, đồng thời chịu trách nhiệm về các nguồn thu và chi tiêu này.
+ Xây dựng được quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị phù hợp với quy định của Nhà nước và phù hợp với đặc điểm của đơn vị.
Để nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, bệnh viện cần sử dụng hiệu quả nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước và đa dạng hóa các nguồn thu ngoài ngân sách như cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh bên ngoài và nhận viện trợ Đồng thời, bệnh viện cũng cần chú trọng đầu tư vào cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân.
Hoạt động tài chính của bệnh viện đã đạt được kết quả cao, với chênh lệch thu-chi cuối năm ngày càng gia tăng Điều này không chỉ góp phần cải thiện đáng kể thu nhập của nhân viên mà còn cho phép trích trả thu nhập tăng thêm vào cuối năm.
Bệnh viện đã tối ưu hóa nguồn thu từ sự nghiệp, thiết lập cơ cấu chi tiêu hợp lý, qua đó cải thiện chất lượng dịch vụ và nâng cao ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ nhân viên.
Bệnh viện đã quản lý tài chính một cách hiệu quả bằng cách tuân thủ đúng mục lục ngân sách và đảm bảo nội dung chi tiêu sát với thực tế Các giải pháp tiết kiệm chi phí đã được áp dụng tích cực, giúp số liệu quyết toán luôn phản ánh chính xác tình hình tài chính Sự minh bạch và chính xác trong các số liệu quyết toán hoạt động tài chính là yếu tố then chốt trong việc duy trì hoạt động hiệu quả của bệnh viện.
2.3.2 Hạn chế về quản lý tài chính tại bệnh viện Bạch Mai
- Về cơ chế quản lý tài chính
Hiện nay, các Bệnh viện tại Bạch Mai đang phân phối chênh lệch thu chi một cách hạn chế cho người lao động, mặc dù nguồn quỹ vẫn còn dồi dào.
- Về quy trình quản lý tài chính
Lập kế hoạch tài chính hiện nay chưa thực sự sát với thực tế, khi nhiều đơn vị chưa xác định rõ cơ cấu nguồn thu và khả năng tự đảm bảo chi thường xuyên Điều này ảnh hưởng đến việc xác định chính xác mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước (NSNN) Một số đơn vị lập dự toán thu, chi NSNN với tâm lý không phản ánh đầy đủ các nguồn thu, hoặc dự toán thu thấp hơn thực thu năm trước, trong khi nội dung chi lại cao hơn nhằm được tăng hỗ trợ từ NSNN Hơn nữa, việc lập dự toán chi cao hơn số quyết toán các năm trước mà không có lý giải hợp lý cũng là một vấn đề cần được khắc phục.
Bệnh viện chưa có biện pháp đa dạng hóa nguồn thu, dẫn đến chênh lệch thu chi thấp và kinh phí bổ sung cho quỹ hoạt động hạn chế Mặc dù hoạt động dịch vụ đóng góp đáng kể vào nguồn thu và tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên, nhưng quản lý dịch vụ còn nhiều sai sót Cụ thể, thiếu hướng dẫn về giá thu dịch vụ và việc phối hợp với các tổ chức cá nhân trong việc sử dụng máy móc thiết bị chưa hiệu quả, dẫn đến việc không phản ánh kịp thời doanh thu và chi phí.
Công tác chi tiêu tại Bệnh viện công lập vẫn gặp khó khăn với khoản chi lập dự toán chưa đầy đủ, đặc biệt trong việc quản lý và sửa chữa tài sản, chi cho cán bộ nghỉ chế độ thai sản, và chi công tác phí chưa hợp lý Hơn nữa, chi cho hành chính đang có xu hướng tăng qua các năm, do đó Bệnh viện công lập cần lập kế hoạch chi tiêu hiệu quả để hạn chế khoản chi này một cách hợp lý, đồng thời vẫn đảm bảo hoạt động của đơn vị.
Công tác kiểm tra, giám sát tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai hiện còn thiếu tính sâu sát và chủ yếu mang tính hình thức Thời gian tự kiểm tra ngắn, cùng với việc lãnh đạo đơn vị thường không có chuyên môn về tài chính, đã dẫn đến nội dung kiểm tra trở nên sơ sài và đơn giản Do đó, hoạt động này chưa thực sự góp phần vào công tác quản lý hiệu quả của đơn vị.
2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế về quản lý tài chính tại bệnh viện Bạch Mai
Cơ chế quản lý tài chính công hiện tại chưa đủ linh hoạt để thúc đẩy ngành y tế, mặc dù đã có nhiều cải cách chính sách, đặc biệt là trong tài chính cho các bệnh viện công lập Những bất cập trong chính sách quản lý chi tiêu bệnh viện tạo ra lỗ hổng trong quá trình quản lý, dẫn đến việc các khoản chi từ ngân sách nhà nước thường mang tính chủ quan Bên cạnh đó, một số định mức chi không còn phù hợp, khiến các đơn vị phải "lách luật" để đảm bảo đủ nguồn chi cho công việc.
Định hướng quản lý tài chính của bệnh viện Bạch Mai
3.1.1 Định hướng quản lý tài chính của ngành y tế
3.1.1.1.Định hướng phát triển chung của ngành y tế
Việt Nam duy trì mức tăng trưởng kinh tế cao, nâng cao thu nhập người dân, nhưng vẫn chỉ là quốc gia thu nhập trung bình thấp so với các nước phát triển Chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe tăng nhanh hơn thu nhập, cho thấy nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao, nhưng phải có khả năng thanh toán Khi kinh tế phát triển, thu nhập tăng, nhu cầu chăm sóc sức khỏe cũng gia tăng Định hướng đến năm 2030, hệ thống y tế sẽ được hoàn thiện và hiện đại hóa, phù hợp với từng vùng miền, củng cố mạng lưới y tế cơ sở và nâng cao y tế chuyên sâu Hài hòa giữa y tế công lập và ngoài công lập, với y tế công lập giữ vai trò chính, kết hợp y học hiện đại và cổ truyền, đảm bảo mọi người dân được hưởng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản chất lượng cao Tài chính cho y tế chủ yếu từ ngân sách nhà nước và bảo hiểm y tế, nhằm đảm bảo cộng đồng an toàn, phát triển về thể chất và tinh thần, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Đảng nhất quán quan điểm thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe, thể hiện bản chất nhân đạo và định hướng XHCN Nhà nước cam kết đảm bảo mọi người đều được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản, chất lượng, phù hợp với khả năng kinh tế của xã hội.
Tích cực chủ động trong việc phòng ngừa chăm sóc sức khỏe là phương châm "phòng bệnh hơn chữa bệnh", nhằm xây dựng lối sống và môi trường thuận lợi cho sức khỏe Quan điểm này nhấn mạnh tầm quan trọng của y tế công cộng, các giải pháp cộng đồng và sự chú trọng vào dịch vụ y tế, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng.
Trong kỷ nguyên số, phát triển y tế thông minh là yêu cầu thiết yếu, bao gồm việc ứng dụng CNTT và chia sẻ dữ liệu trong ngành y tế Chiến lược công nghệ thông tin y tế giai đoạn 2019-2025 nhằm hiện đại hóa dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giúp người dân dễ dàng tiếp cận các dịch vụ y tế hiệu quả Đến năm 2021, cơ sở hạ tầng số của ngành y tế sẽ được hoàn thiện, bao gồm kỹ thuật, dữ liệu, ứng dụng, pháp lý và nhân lực Đến năm 2025, ngành y tế sẽ phát triển và ứng dụng công nghệ thông minh, với tầm nhìn đến 2030 là triển khai rộng rãi công nghệ này, đảm bảo mạng thông tin y tế số quốc gia hoạt động thông suốt Kho dữ liệu y tế quốc gia sẽ được hoàn thiện, đảm bảo dữ liệu đầy đủ và kịp thời, với 100% dịch vụ công y tế và đơn vị trong ngành hoạt động trên môi trường mạng, không giấy tờ.
3.1.1.2.Định hướng quản lý tài chính của ngành y tế Đẩy mạnh việc đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tự chủ tài chính trong ngành y tế, tham mưu tăng nhanh đầu tư công cho y tế, phát triển y tế toàn dân; sử dụng nguồn tài chính y tế hiệu quả để giảm tỷ lệ chi trực tiếp từ hộ gia đình cho chăm sóc sức khỏe, tăng thu nhập cho cán bộ, nhân viên y tế Bảo đảm cung ứng đủ thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế, máu, chế phẩm máu và trang thiết bị y tế có chất lượng với giá cả hợp lý đáp ứng nhu cầu phòng bệnh, chữa bệnh của nhân dân.
Tăng cường đầu tư vào hạ tầng y tế, đặc biệt là các công trình y tế trọng yếu, là cần thiết để phát triển chuyên môn kỹ thuật cao và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe Cần phát triển đồng bộ hạ tầng công nghệ thông tin với quy hoạch thống nhất, đảm bảo kết nối dọc và ngang trong ngành y tế Đồng thời, nâng cao năng lực quản lý và thực hiện chính sách y tế, đẩy mạnh cải cách hành chính và phát triển hệ thống thông tin y tế để đáp ứng nhu cầu đổi mới và phát triển ngành y tế.
3.1.2 Định hướng quản lý tài chính tại bệnh viện Bạch Mai
3.1.2.1.Định hướng phát triển của bệnh viện Bạch Mai
- Cơ hội của Bệnh viện trong giai đoạn tới:
Bệnh viện được Trung ương, Chính phủ và Bộ Y tế quan tâm chỉ đạo đặc biệt, cùng với sự ủng hộ nhiệt tình từ Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành và Sở Y tế.
Y tế và Bệnh viện tại khu vực phía Bắc, đặc biệt là sự hỗ trợ kịp thời từ Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cùng với Quận ủy và Ủy ban nhân dân quận Đống Đa, đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
Sự đoàn kết, thống nhất trong tập thể Đảng uỷ - Ban Giám đốc và Lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bệnh viện
Bệnh viện có mối liên hệ chặt chẽ với Trường Đại học Y Hà Nội trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, đồng thời nhận được sự hỗ trợ hiệu quả từ các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
Tổ chức JICA - Nhật Bản và các trường đại học y trên Thế giới
- Những thách thức trong giai đoạn tới:
Bệnh viện là cơ sở y tế tuyến cuối, luôn trong tình trạng quá tải do nhu cầu khám chữa bệnh cao Thời gian qua, bệnh viện đã đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm việc duy trì hoạt động khám chữa bệnh trong khi phối hợp với Bộ Y tế và tỉnh Hà Nam để xây dựng Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2 Đồng thời, bệnh viện cũng tiến hành cải tạo cơ sở hạ tầng tại Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cho Nhân dân.
Nguồn ngân sách Nhà nước cho ngành y tế còn hạn hẹp, cùng với việc triển khai hoạt động tại bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2 ở Hà Nam, đã tạo ra nhiều thách thức Những biến động trong chính sách giá dịch vụ khám chữa bệnh và bảo hiểm y tế, sự thay đổi lãnh đạo bệnh viện, cùng với áp lực từ xã hội, yêu cầu các bệnh viện cần có giải pháp hiệu quả Mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng chuyên môn và sự hài lòng của người bệnh, điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động của bệnh viện.
3.1.2.2 Định hướng quản lý tài chính của bệnh viện Bạch Mai trong giai đoạn tới
Hoàn thành thí điểm đề án tự chủ toàn diện theo Nghị quyết 33/NQ-CP ngày 19/5/2019 của Chính phủ, liên quan đến việc thực hiện tự chủ cho 04 bệnh viện thuộc Bộ Y tế Đồng thời, thực hiện Quyết định 286/QĐ-TTg ngày 17/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Đề án thí điểm tự chủ của Bệnh viện Bạch Mai trong giai đoạn 2020-2021.
Chủ động quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính của đơn vị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng.
Tăng cường nguồn thu và tiết kiệm chi phí giúp đơn vị tự cân đối thu - chi, đảm bảo nguồn thu bù đắp chi phí và tích lũy mở rộng quỹ Qua đó, cải thiện thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cán bộ công nhân viên.
Chủ trương xã hội hóa trong cung cấp dịch vụ y tế nhằm huy động sự đóng góp từ cộng đồng để phát triển các hoạt động sự nghiệp, đồng thời giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước Nhà nước cũng chú trọng đầu tư để đảm bảo các đối tượng chính sách - xã hội được tiếp cận dịch vụ ngày càng tốt hơn.
Giải pháp quản lý tài chính tại bệnh viện Bạch Mai
3.2.1 Tăng cường kiểm tra rà soát công tác lập kế hoạch tài chính tại bệnh viện Bạch Mai
Giải pháp nhằm xác định các nguồn thu dự kiến để tăng cường khoản thu và lập kế hoạch chi tiêu hợp lý, hiệu quả cho Bệnh viện Bạch Mai Để hoàn thiện công tác lập kế hoạch tài chính, cần tiến hành nghiên cứu và dự báo môi trường bên ngoài lẫn bên trong của các Bệnh viện nhằm thu thập thông tin cần thiết.
- Thực trạng tài chính của bệnh viện; các báo cáo quyết toán các năm trước.
- Các tác động của môi trường đến hoạt động tài chính và các quy định của Nhà nước về phân bổ các nguồn tài chính của bệnh viện.
Để lập dự toán thu/chi tại bệnh viện Bạch Mai một cách thực tế và hiệu quả, cần phải xem xét các chỉ tiêu về biên chế, giường bệnh do cơ quan chủ quản phân bổ, cũng như các chỉ tiêu chuyên môn và nhiệm vụ mới được giao Đồng thời, cần tăng cường công tác kiểm tra và rà soát các hoạt động liên quan.
+ Định kỳ kiểm tra công tác lập dự toán thu chi
+ Rà soát kiểm tra công tác lập dự toán thu chi để phát hiện kịp thời, ngăn chặn các sai sót trong công tác lập dự toán.
+ Điều chỉnh bổ sung kịp thời các sai sót trong công tác này
+ Hoàn chỉnh dự toán trình lãnh đạo
3.2.2 Mở rộng và nâng cao hiệu quả quản lý các nguồn thu của bệnh viện Bạch Mai
Thu đúng và thu đủ các nguồn thu
Bệnh viện Bạch Mai cần tăng cường quản lý các nguồn thu, đặc biệt là viện phí, tiền thuốc, vật tư tiêu hao và hóa chất, để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong công tác tài chính.
Bệnh viện Bạch Mai đã chủ động nghiên cứu và xây dựng đơn giá thu viện phí cho các dịch vụ, đảm bảo phù hợp với mặt bằng giá cả và chất lượng dịch vụ Mục tiêu là tạo ra mức giá cạnh tranh đồng thời vẫn đảm bảo có lãi Để khuyến khích các khoa phòng tích cực tăng trưởng nguồn thu, bệnh viện đang triển khai nhiều chính sách hỗ trợ.
Bệnh viện Bạch Mai cũng cần nghiên cứu, tạo cơ chế thưởng các khoa phòng có nguồn thu tại đơn vị tăng trưởng nhanh, vượt kế hoạch.
Bệnh viện Bạch Mai cần nghiên cứu và áp dụng các giải pháp quản lý hiệu quả để giảm thiểu lãng phí nguồn nhân lực trong quá trình mua sắm và sử dụng trang thiết bị y tế Đồng thời, việc xây dựng hệ thống thông tin giám sát và đánh giá hoạt động của toàn đơn vị là cần thiết, nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch Hệ thống này cũng sẽ hỗ trợ Bộ Y tế trong việc chỉ đạo, định hướng và kiểm soát quy trình mua sắm trang thiết bị y tế kỹ thuật cao và đắt tiền.
Hiện nay, nhiều khoa phòng đang gặp tình trạng thất thu nghiêm trọng về vật tư tiêu hao, hóa chất xét nghiệm và thuốc, trong khi bệnh nhân có thể trốn viện mà không bị xử phạt thích đáng Để giảm thiểu tình trạng này, các bệnh viện cần thiết lập một cơ chế xử phạt tài chính nghiêm khắc, nhằm kiểm soát và hạn chế thất thoát, đồng thời gia tăng nguồn thu cho bệnh viện.
Để tăng cường huy động sự đóng góp của nhân dân và xã hội, bệnh viện Bạch Mai cần chú trọng vào việc tăng nguồn thu từ viện phí và bảo hiểm y tế (BHYT) Đây là nguồn thu chính hỗ trợ cho hoạt động chuyên môn của bệnh viện Trong những năm qua, nguồn thu viện phí đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ, vì vậy bệnh viện cần duy trì đà phát triển này và tối ưu hóa khai thác nguồn thu từ viện phí và BHYT Đồng thời, mở rộng đối tượng tham gia BHYT cũng là một giải pháp quan trọng để nâng cao nguồn thu cho bệnh viện.
Bệnh viện nên đa dạng hóa các phương pháp định giá dịch vụ y tế cho hình thức khám chữa bệnh tự nguyện nhằm thu hút người bệnh sử dụng dịch vụ của mình.
Giá chi trả cho từng loại dịch vụ y tế được xác định dựa trên các chi phí trực tiếp và gián tiếp liên quan đến các dịch vụ mà bệnh nhân đã sử dụng, bao gồm khám bệnh, thuốc và can thiệp.
Giá cố định cho từng dịch vụ y tế được quy định đồng nhất theo tiêu chuẩn của hội nghề nghiệp hoặc Nhà nước Phương pháp tính giá này dựa trên việc nghiên cứu hồi cứu số liệu thống kê từ các chi phí thực tế trong quá khứ, sau đó điều chỉnh bằng một tỷ lệ phù hợp với tình hình hiện tại Thực chất, đây là giá trị trung bình cho mỗi loại dịch vụ, như giá trung bình cho mỗi lần khám hoặc chẩn đoán.
Giá dịch vụ trọn gói trong y tế là hình thức mà người sử dụng chỉ phải trả một khoản phí cố định cho một loại hình khám chữa bệnh, không cần lo lắng về diễn biến của quá trình điều trị Hình thức định giá này cho thấy nhà cung cấp dịch vụ đã ước lượng chi phí cần thiết một cách tương đối chính xác, với mức giá thường cao hơn giá trị trung bình cần thiết cho dịch vụ đó.
Bệnh viện Bạch Mai áp dụng giá cố định cho khách hàng mắc bệnh mãn tính và “khách hàng thuỷ chung”, giúp họ tiết kiệm chi phí Theo đó, bệnh viện chỉ thu tiền công chẩn đoán lần đầu, các lần sau nếu không có bệnh tình mới thì không phải trả thêm Cách định giá này khuyến khích khách hàng duy trì chu kỳ điều trị hoàn chỉnh và quay lại trong tương lai.
- Định giá từng ngày: Đó là việc định giá cố định cho một ngày nằm viện dựa trên chi phí của một ngày.
Bệnh viện Bạch Mai cần thiết lập và duy trì mối quan hệ vững chắc với cộng đồng và bệnh nhân bằng cách triển khai các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao sự gắn kết và hỗ trợ lẫn nhau.
Để nắm bắt tình hình sức khỏe cộng đồng, chúng tôi thường xuyên tổ chức các cuộc điều tra và phỏng vấn Qua đó, không chỉ khảo sát tình hình bệnh tật mà còn tìm hiểu nguyện vọng và nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, cũng như khả năng chi trả tài chính cho các dịch vụ y tế.
- Thành lập hội đồng khách hàng làm nhiệm vụ tiếp nhận những phản hồi từ phía khách hàng.
- Quảng cáo và mở rộng các hình thức cung cấp dịch vụ: KCB tại nhà (mô hình bác sĩ gia đình), KCB theo yêu cầu từng dịch vụ.
Hoàn thiện cơ chế thu và tăng cường nguồn thu từ viện phí và bảo hiểm y tế
Trong bối cảnh nguồn vốn ngân sách nhà nước còn hạn chế, viện phí và bảo hiểm y tế trở thành nguồn thu chủ yếu cho Bệnh viện Bạch Mai, giúp đáp ứng kinh phí cho các hoạt động chuyên môn Do đó, việc thu đúng và thu đủ viện phí là điều cần thiết, không chỉ để tăng cường nguồn vốn quan trọng này mà còn đảm bảo công bằng trong lĩnh vực y tế.
Kiến nghị
3.3.1 Kiến nghị với Nhà nước
Cần hoàn thiện các văn bản pháp lý đồng bộ để thực hiện cơ chế tự chủ và tài chính trong ngành y tế Đồng thời, tăng cường vai trò quản lý nhà nước trong việc thực hiện tự chủ tại các bệnh viện bằng cách nghiên cứu và ban hành tiêu chí, điều kiện cho các đơn vị y tế, cũng như xây dựng hệ thống giám sát chất lượng và chi phí dịch vụ bệnh viện.
Cần thiết lập các chính sách và chế độ quản lý tài chính đồng bộ, ổn định cho các đơn vị sự nghiệp công lập trong ngành y tế, đặc biệt là Bệnh viện Bạch Mai Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho kế toán, với vai trò là công cụ quản lý tài chính, phát huy hiệu quả trong công tác quản lý.
Cần khẩn trương hoàn thiện căn cứ và hệ thống định mức để thực hiện phân bổ ngân sách nhà nước (NSNN) một cách công bằng, khoa học và thực tiễn Việc phân bổ NSNN cần chú trọng đến tình hình, đặc điểm và quy mô hoạt động của từng đơn vị.
- Giao quyền chủ động cao hơn cho các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc
Bộ Y tế cần được trao quyền tự chủ không chỉ trong quản lý tài chính mà còn về lao động, biên chế và phát triển quy mô, đồng thời vẫn phải đảm bảo vai trò quản lý vĩ mô của các cơ quan Nhà nước.
Nhà nước và các cơ quan quản lý cần tiến hành nghiên cứu để đổi mới và hoàn thiện hệ thống định mức tiêu chuẩn Việc xây dựng định mức chi phí hợp lý là cần thiết, nhằm phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của đất nước cũng như quy mô phát triển của Ngành.
Cần tiến hành nghiên cứu và cải tiến các biểu mẫu chứng từ, sổ kế toán, và báo cáo tài chính để đảm bảo tính hợp lý, khả thi và thống nhất Việc này cần phù hợp với sự phát triển của công nghệ thông tin hiện nay.
Cần hoàn thiện công tác đánh giá và kiểm toán đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trong ngành Y tế, vì hiện tại, thanh tra và kiểm toán chủ yếu chỉ tập trung vào việc kiểm tra tính trung thực của hoạt động tài chính Kiểm toán nên mở rộng để đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực, liên hệ giữa các hoạt động tài chính với mục tiêu chính sách và tần suất sử dụng nguồn lực của đơn vị Việc này không chỉ nhằm khắc phục và điều chỉnh mà còn hướng tới phát triển tích cực, dự báo và định hướng cho tương lai.
Nhà nước và các cơ quan liên quan cần tiến hành nghiên cứu để hợp nhất các hệ thống kế toán Nhà nước hiện tại, nhằm đảm bảo phù hợp với chuẩn mực kế toán công quốc tế cũng như các hệ thống kế toán khác đang áp dụng tại Việt Nam.
3.3.2 Kiến nghị với Bộ Y tế
Việc đổi mới cơ chế tài chính bệnh viện theo chủ trương “xã hội hoá” và “tự chủ” đang diễn ra, nhưng cần xem xét từ góc độ toàn hệ thống y tế và lợi ích của người dân, đặc biệt là nhóm thu nhập thấp Sự gia tăng nguồn thu của bệnh viện công hiện nay ảnh hưởng đến tính công bằng và lợi ích của người dân Giải pháp cơ bản là nâng cao chất lượng bảo hiểm y tế (BHYT) và tiến tới BHYT toàn dân, xã hội hoá khám chữa bệnh Bộ Y tế cần cải cách thủ tục hành chính để giảm phiền hà cho bệnh nhân và xây dựng hành lang pháp lý nhằm kiểm soát hoạt động tài chính, hướng tới việc giao quyền tự chủ cho các bệnh viện.
Bộ Y tế nên phát triển dịch vụ theo gói để các bệnh viện có thể tự quản lý chuyên môn, thay vì phụ thuộc vào các thủ tục hành chính hiện tại Điều này sẽ giúp bệnh viện chủ động hơn trong việc cân đối thu chi và tự chủ về kinh tế Đồng thời, Bộ Y tế cần tăng cường hướng dẫn cho các đơn vị trực thuộc nhằm đổi mới công tác lập dự toán ngân sách nhà nước, từ đó nâng cao chất lượng dự toán và hiệu quả trong việc chấp hành và quyết toán kinh phí.
Bộ Y tế cần nghiên cứu và đề xuất các giải pháp khuyến khích cho cán bộ công chức viên chức tại các đơn vị y tế công lập, nhằm tạo động lực cống hiến cho công tác chuyên môn.
3.3.3 Kiến nghị với Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội chỉ đạo Sở Y tế phối hợp với Bệnh viện Bạch Mai trong công tác đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ trong công tác quản lý tài chính Cụ thể, UBND thành phố Hà Nội nên tổ chức các lớp bồi dưỡng để đánh giá các khoản cần phải chi đối với bệnh viện cấp Trung ương (ví dụ, chi mua máy móc thiết bị để khám bệnh), nhằm tránh tình trạng phải mua thiết bị với giá quá cao như đã phát hiện sau dịch Covid 19 Ngoài ra, UBND thành phố cần tiến hành kiểm tra, thanh tra đối với các cơ sở có khả năng cung cấp thiết bị y tế để có thể hạn chế tình trạng bán giá máy móc thiết bị với giá chênh lệch quá nhiều, từ đó ảnh hưởng đến dự báo tài chính của bệnh viện Bạch Mai. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội chỉ đạo Sở Tài chính, Sở Y tế tăng cường các lớp khảo sát thực tế cho các cán bộ làm công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai được tham quan các đơn vị, các ngành liên quan để học tập kinh nghiệm quản lý tài chính áp dụng vào công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai. Các lớp này có thể tổ chức tại các bệnh viện cấp trung ương như bệnh viện Viện Đức, bệnh Viện K… để có thể thấy được các bệnh viện khác quản lý tài chính ra sao, những vướng mắc mà bệnh viện Bạch Mai đang gặp phải để có thể tìm cách tháo gỡ Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tạo điều kiện cho cán bộ làm công tác quản lý tài chính được đi học tập kinh nghiệm về quản lý tài chính của một số bệnh viện một số nước trên thế giới để áp dụng vào công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai.
Tổ chức triển khai các chương trình và đề án phát triển y tế, đồng thời tối ưu hóa việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư cho các dự án y tế Tăng cường hợp tác quốc tế để thu hút đầu tư vào lĩnh vực y tế qua các hình thức như đầu tư nước ngoài trực tiếp và vốn ODA Các nguồn vốn này cần được giải ngân một cách hợp lý để đảm bảo hiệu quả trong phát triển y tế.
Sở Tài chính Hà Nội phối hợp với Bộ Tài chính nhằm thúc đẩy nghiên cứu khoa học tại các bệnh viện, đồng thời tiếp nhận máy móc và thiết bị từ các tổ chức quốc tế.
Để nâng cao kiến thức quản lý nhà nước và ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ y tế, cần tập trung vào việc tuyên truyền ý thức quản lý tài chính Đồng thời, việc thiết lập cơ chế xử phạt theo ngành dọc là cần thiết để ngăn chặn tình trạng thất thoát nguồn chi tại Bệnh viện Bạch Mai, đặc biệt liên quan đến máy móc và thiết bị.