Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận án là quá trình phát triển của đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương từ năm 1997 đến 2017
Đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương, một phần quan trọng của giai cấp công nhân Việt Nam, đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ Luận án này tập trung nghiên cứu những người lao động hưởng lương trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, mà không xem xét các chủ doanh nghiệp, chuyên gia và lao động nước ngoài Mục tiêu của luận án là làm rõ những vấn đề cơ bản liên quan đến sự phát triển của đội ngũ công nhân và những đóng góp của họ vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại địa phương.
Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu phát triển đội ngũ công nhân tại tỉnh Bình Dương tập trung vào các yếu tố cơ bản như số lượng, cơ cấu lao động, trình độ học vấn và chuyên môn của công nhân Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng xem xét đời sống vật chất và tinh thần của công nhân, cùng với một số hoạt động của tổ chức công đoàn nhằm cải thiện điều kiện làm việc và nâng cao chất lượng cuộc sống cho đội ngũ lao động.
- Về không gian: Luận án nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Bình Dương từ khi địa phương này được thành lập từ ngày 01/01/1997
- Về thời gian: Luận án nghiên cứu quá trình phát triển đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương trong 20 năm, từ năm 1997 (năm thành lập tỉnh) đến năm 2017.
Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
Cơ sở lý luận
Luận án được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với các đường lối, quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam liên quan đến giai cấp công nhân.
Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam đã có những biến đổi đáng kể Luận án này dựa trên quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giai cấp công nhân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa để nghiên cứu sự phát triển của đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương từ năm 1997 đến 2017 Giai cấp công nhân Việt Nam được xác định là một lực lượng xã hội lớn, đang phát triển, bao gồm cả lao động chân tay và trí óc, làm việc hưởng lương trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án nghiên cứu sự phát triển của đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương từ năm 1997 đến 2017, sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic Phương pháp lịch sử giúp tái hiện quá trình hình thành và phát triển của đội ngũ công nhân trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Qua đó, luận án phục dựng bức tranh toàn cảnh về sự phát triển của đội ngũ công nhân tại Bình Dương, một địa phương có sự phát triển công nghiệp mạnh mẽ Phương pháp logic được áp dụng để làm rõ các mối liên hệ trong quá trình phát triển, từ đó rút ra bản chất, khuynh hướng và quy luật phát triển của đội ngũ công nhân, cùng với các đánh giá và dự báo về tương lai của họ.
Ngoài hai phương pháp nghiên cứu chính là lịch sử và logic, luận án còn kết hợp nhiều phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê và khảo sát thực địa Những phương pháp này được áp dụng trong quá trình thực hiện đề tài nhằm làm rõ các nội dung liên quan, từ đó góp phần đánh giá tổng thể và những đặc thù của vấn đề nghiên cứu.
Nguồn tài liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài, luận án sử dụng một cách chọn lọc các nguồn tài liệu gồm:
Các văn kiện của Đại hội Trung ương Đảng và Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Dương, cùng với các văn bản pháp quy của Chính phủ và các cơ quan trực thuộc, là những tài liệu quan trọng Ngoài ra, các văn bản pháp quy do Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương, các Sở, Ban, Ngành và các đơn vị quản lý trong tỉnh ban hành cũng đóng vai trò thiết yếu trong việc thực hiện các chính sách và quy định của địa phương.
Các ấn phẩm thống kê của Cục Thống kê tỉnh Bình Dương và Tổng Cục Thống kê Việt Nam cung cấp thông tin quan trọng về tình hình kinh tế - xã hội Số liệu báo cáo và thống kê từ các sở, ban, ngành của tỉnh cùng với dữ liệu từ các cuộc điều tra kinh tế - xã hội là nguồn tài liệu quý giá cho việc phân tích và đánh giá phát triển.
Các luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ liên quan đến đề tài nghiên cứu, cùng với các công trình khoa học nghiên cứu về công nhân, bài viết trên các tạp chí nghiên cứu, cũng như các bài viết trích từ kỷ yếu hội thảo, hội nghị và bài viết báo chí, đều đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin và tài liệu hỗ trợ cho vấn đề nghiên cứu này.
Các nguồn tư liệu từ các website của cơ quan chính phủ, tổ chức kinh tế, chính trị và văn hóa - xã hội tại Việt Nam, đặc biệt là tỉnh Bình Dương, cùng với thông tin thu thập qua khảo sát thực địa tại địa bàn tỉnh này, cung cấp cái nhìn tổng quan và sâu sắc về tình hình phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa của khu vực.
Những đóng góp của luận án
5.1 Về phương diện khoa học
Bài viết tổng hợp các tài liệu nghiên cứu để trình bày một cách hệ thống và toàn diện về sự phát triển của đội ngũ công nhân tại tỉnh Bình Dương trong giai đoạn 1997 – 2017.
Nghiên cứu về thực tiễn đội ngũ công nhân tại tỉnh Bình Dương trong giai đoạn 1997 – 2017 đã chỉ ra những đặc điểm nổi bật của sự phát triển đội ngũ này và những tác động tích cực của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
5.2 Về phương diện thực tiễn
Nghiên cứu trong luận án cung cấp cơ sở khoa học giúp chính quyền tỉnh Bình Dương xây dựng các chính sách và biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công nhân, góp phần phát triển nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Luận án cung cấp nguồn tư liệu tương đối hoàn chỉnh về quá trình phát triển đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương giai đoạn 1997 –
Kết quả nghiên cứu của luận án năm 2017 có thể trở thành nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho sinh viên, giảng viên và những ai quan tâm đến chủ đề của luận án, hỗ trợ cho công việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu.
Bố cục của luận án
Ngoài phần dẫn luận, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung luận án có bố cục gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 2: Đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương thời kỳ đầu tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1997 - 2007)
Chương 3: Đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (2008 - 2017)
Chương 4: Đặc điểm phát triển của đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương (1997 - 2017)
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
Các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án
Luận án “Sự phát triển của đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương
Từ năm 1997 đến 2017, nghiên cứu đã kế thừa và tham khảo một khối lượng lớn kết quả từ các công trình khoa học có nội dung liên quan, được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau.
1.1.1 Những nghiên cứu bàn về lý luận giai cấp công nhân trong giai đoạn hiện nay
Trong thế kỷ XIX, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã phân tích sự ra đời và phát triển của giai cấp công nhân, cung cấp nền tảng lý luận và phương pháp nghiên cứu khoa học cho việc nghiên cứu giai cấp này trong thời đại mới Hiện nay, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và toàn cầu hóa, giai cấp công nhân đã xuất hiện những đặc trưng mới Nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã bàn luận về lý luận giai cấp công nhân trong nhiều năm qua.
- Nhận định của một số nhà nghiên cứu ở nước ngoài:
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, các nước tư bản phát triển đã điều chỉnh chính sách đối với giai cấp công nhân, giúp họ thoát khỏi tình trạng bần cùng và cải thiện đời sống Nhiều công nhân đã sở hữu nhà ở, xe ô tô và cổ phần trong doanh nghiệp Các quốc gia này cũng đã xây dựng hệ thống bảo hiểm và phúc lợi xã hội, bao gồm tiền dưỡng lão, trợ cấp người tàn tật, trợ cấp y tế và hỗ trợ cho gia đình thu nhập thấp Giai cấp công nhân hiện đại ở các nước phát triển đã có nhiều thay đổi về cả số lượng và chất lượng.
Trong bối cảnh thay đổi điều kiện sống ở các nước tư bản phát triển, nhiều học giả cho rằng việc nghiên cứu về giai cấp công nhân đã trở nên lỗi thời Họ lập luận rằng trong xã hội hậu công nghiệp, phần lớn dân cư đã đạt được sự khá giả nhờ vào trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp cao Do đó, việc phân chia xã hội thành các giai cấp, bao gồm cả giai cấp công nhân, không còn có cơ sở thực tế.
Tuy nhiên, ngay cả ở những quốc gia tư bản phát triển nhất, vẫn có nhiều nhà khoa học nổi tiếng như Michael Zweig, Dennis Gilbert, Joseph Kahl, William Thompson, Joseph Hickey (Mỹ), Eric Hobsbawn và Ross.
Mc Kibbin (Anh) nhấn mạnh rằng nghiên cứu cơ cấu xã hội ở các nước này không thể bỏ qua sự hiện diện rõ ràng của các giai cấp, trong đó giai cấp công nhân chiếm khoảng một phần ba lực lượng lao động xã hội.
Các nhà xã hội học như Dennis Gilbert và Joseph Kahl đã xác định giai cấp công nhân là tầng lớp đông nhất ở Mỹ, chiếm từ 25% đến 55% dân số Trong khi đó, ở các nước Tây Âu, giai cấp công nhân chiếm từ 30% đến 35% dân số và có thể được phân chia thành nhiều giai tầng khác nhau như “công nhân cổ trắng”, “công nhân cổ vàng” và “công nhân cổ xanh” Việc phân loại này dựa trên các tiêu chí như loại công việc, trình độ học vấn, tính chuyên nghiệp và thu nhập hàng năm.
Michael Zweig, một nhà xã hội học nổi tiếng của Mỹ, định nghĩa giai cấp công nhân là nhóm người lao động làm thuê cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ và cơ quan chính phủ Giai cấp này bao gồm nhiều trình độ, kỹ năng và hàng trăm loại công việc khác nhau, được quản lý bởi Bộ Lao động Hoa Kỳ Trong đó, có "công nhân cổ xanh" làm việc tại các nhà máy, công trường xây dựng, và "công nhân cổ trắng" như giao dịch viên ngân hàng, kỹ thuật viên tin học và thư ký văn phòng.
Những người thuộc giai cấp công nhân chiếm phần lớn trong xã hội với khoảng 62% lực lƣợng lao động (Michael Zweig, 2004, tr.4)
Giai cấp công nhân, theo Will Kenton, là thuật ngữ kinh tế - xã hội chỉ những người thuộc tầng lớp xã hội có công việc thu nhập thấp, yêu cầu kỹ năng hạn chế hoặc lao động thể chất Các công việc này thường không đòi hỏi trình độ cao, và những người thất nghiệp hoặc nhận hỗ trợ từ chương trình phúc lợi xã hội cũng được xem là thuộc giai cấp công nhân Hiện nay, nhiều công việc trong giai cấp công nhân chủ yếu tập trung trong lĩnh vực dịch vụ như nhân viên văn thư, bán lẻ và lao động thủ công tay nghề thấp.
Nghiên cứu từ các học giả quốc tế cho thấy, trong bối cảnh phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật, đặc biệt ở các nước tư bản phát triển, giai cấp công nhân không chỉ tồn tại mà còn ngày càng đông đảo và có sự chuyển biến về chất Số lượng công nhân trí thức gia tăng, cùng với việc công nhân được bồi dưỡng và đào tạo về học vấn, chuyên môn và tay nghề, thể hiện sự tiến bộ và khác biệt so với công nhân thế kỷ XIX Đây là xu hướng phát triển chung của giai cấp công nhân trên toàn thế giới trong giai đoạn hiện nay.
- Một số nhận định của các nhà nghiên cứu ở trong nước:
Khi bàn về giai cấp công nhân, các học giả trong nước thời gian qua cũng đã đƣa ra khá nhiều quan điểm Trong công trình nghiên cứu
Giai cấp công nhân Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, được xem là một tập đoàn ổn định gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp Họ không chỉ là lực lượng sản xuất cơ bản mà còn là động lực chủ yếu trong quá trình chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội Sự phát triển của giai cấp công nhân ngày càng xã hội hóa và quốc tế hóa, thể hiện tầm quan trọng của họ trong bối cảnh toàn cầu hiện nay.
Trong công trình khoa học “Xây dựng giai cấp công nhân Việt
Giai cấp công nhân hiện đại được định nghĩa là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với cách mạng công nghiệp, phản ánh nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại với tính chất xã hội hóa ngày càng cao Họ là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến trong nền sản xuất hiện đại, hoạt động trong môi trường công nghiệp và dịch vụ công nghiệp, tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất, đồng thời cải tạo các quan hệ xã hội Giai cấp này đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến và là động lực chính của tiến trình lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.
Giai cấp công nhân là sản phẩm và chủ thể của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, đóng vai trò quan trọng trong mọi chế độ xã hội Với vị trí của mình, giai cấp công nhân mang sứ mệnh lịch sử là xóa bỏ chế độ áp bức và bóc lột, đồng thời xây dựng thành công chế độ xã hội mới - chủ nghĩa xã hội, không chỉ trong từng quốc gia mà còn trên toàn thế giới.
1.1.2 Những công trình nghiên cứu về giai cấp công nhân Việt Nam và đội ngũ công nhân ở các địa phương thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Nghiên cứu về giai cấp công nhân Việt Nam đã thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả, đặc biệt từ khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu đã được công bố, phản ánh sự phát triển và biến đổi của giai cấp công nhân trong bối cảnh mới.
Cuốn sách “Xu hướng biến động giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI” (2001) của Tổng Liên đoàn Lao động
Bài viết phân tích xu hướng biến đổi của giai cấp công nhân Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập Tác giả làm rõ các đặc điểm, thực trạng và giải pháp xây dựng giai cấp công nhân, đồng thời đề cập đến toàn cầu hoá và những biến động của giai cấp này Bài viết cũng nêu bật những thách thức mà giai cấp công nhân Việt Nam phải đối mặt trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI.
Khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu có liên
1.2.1 Kết quả các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án
Liên quan đến đề tài luận án “Sự phát triển của đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương (1997 – 2017)”, đã có nhiều nghiên cứu về giai cấp công nhân Việt Nam, đặc biệt là đội ngũ công nhân tại Bình Dương, từ nhiều phương diện khác nhau với các mức độ và góc độ tiếp cận đa dạng.
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp công nhân, các nhà khoa học đã bổ sung và phát triển những biểu hiện mới phù hợp với thực tế hiện đại Trong nền sản xuất công nghiệp hiện nay, đội ngũ công nhân có trình độ học vấn và tay nghề ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất Ngoài ra, một bộ phận trí thức và người lao động trong các ngành dịch vụ cũng đã gia nhập vào giai cấp công nhân.
Nghiên cứu về giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập đã chỉ ra thực trạng xây dựng giai cấp công nhân trên nhiều phương diện Từ đó, các quan điểm, mục tiêu và giải pháp được đề xuất nhằm phát triển giai cấp công nhân phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Nhiều địa phương đã triển khai chính sách cụ thể để xây dựng đội ngũ công nhân, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và phục vụ hiệu quả cho sự phát triển kinh tế địa phương.
Thứ ba, nghiên cứu đề cập đến đội ngũ công nhân tỉnh Bình
Trong thời gian qua, nghiên cứu về sự phát triển của đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương đã trở nên đa dạng và phong phú, thu hút sự quan tâm từ nhiều ngành khoa học xã hội Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào hệ thống và đầy đủ về vấn đề này trong khoảng thời gian 20 năm (1997 – 2017) từ góc độ lịch sử Đề tài “Sự phát triển của đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương (1997 – 2017)” sẽ tập trung vào việc nghiên cứu và giải quyết vấn đề này, nhằm làm rõ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.
Các công trình nghiên cứu liên quan cung cấp cho tác giả những phương pháp tiếp cận và cách trình bày nội dung luận án Bên cạnh đó, chúng cũng cung cấp luận cứ và tài liệu tham khảo quan trọng, giúp tác giả kế thừa và phát triển trong quá trình thực hiện luận án.
1.2.2 Những nội dung luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Kế thừa những thành quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan, căn cứ vào nguồn tài liệu và mục đích nghiên cứu, luận án
“Sự phát triển của đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương (1997 – 2017)” sẽ tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, phân tích, làm rõ những nhân tố tác động đến sự phát triển của đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương trong giai đoạn 1997 –
Thứ hai, tái hiện quá trình phát triển đội ngũ công nhân tỉnh Bình
Trong 20 năm qua, từ 1997 đến 2017, Dương đã trải qua hai giai đoạn quan trọng, tập trung vào các vấn đề như số lượng và cơ cấu lao động, chất lượng đội ngũ công nhân, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân, cũng như hoạt động tổ chức công đoàn.
Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích những đặc điểm nổi bật của quá trình phát triển đội ngũ công nhân tại tỉnh Bình Dương, đồng thời đánh giá những đóng góp và các vấn đề tồn tại trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sẽ dự báo xu hướng phát triển của đội ngũ công nhân Bình Dương trong thời gian tới.
Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về sự phát triển của đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương giai đoạn 1997 – 2017, tập trung vào giai cấp công nhân Việt Nam với các phương diện và góc độ tiếp cận đa dạng.
Các nghiên cứu liên quan đến luận án đã làm rõ lý luận và thực tiễn về giai cấp công nhân, đặc biệt là giai cấp công nhân Việt Nam Dựa trên lý thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin, các nhà khoa học đã cập nhật và phát triển những biểu hiện mới phù hợp với thời đại hiện nay Nghiên cứu cũng đã phân tích thực trạng, phương hướng và giải pháp cho việc xây dựng và phát triển giai cấp công nhân Việt Nam, đặc biệt là đội ngũ công nhân tại tỉnh Bình Dương trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về quá trình phát triển đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương trong 20 năm qua kể từ khi thành lập vào năm 1997.
Luận án “Sự phát triển của đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương (1997 – 2017)” sẽ phân tích thực tiễn giai cấp công nhân tại Bình Dương, một địa phương có sự phát triển công nghiệp mạnh mẽ Nghiên cứu này nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quá trình phát triển giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ mới Các công trình khoa học liên quan sẽ cung cấp luận cứ và tài liệu tham khảo quan trọng cho tác giả trong quá trình thực hiện luận án.
ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG THỜI KỲ ĐẦU TIẾN HÀNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA (1997 – 2007)
Bối cảnh lịch sử và những nhân tố tác động đến sự phát triển đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương (1997 – 2007)
2.1.1 Bối cảnh thế giới và trong nước
Cuối những năm 80 và đầu 90 của thế kỷ XX, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu tạm thời làm suy yếu chủ nghĩa xã hội, nhưng không thay đổi bản chất của thời đại mà nhân loại vẫn đang trong quá trình chuyển tiếp lên chủ nghĩa xã hội Mặc dù nguy cơ chiến tranh thế giới đã giảm, nhưng xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, và các cuộc xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo vẫn tiếp diễn ở nhiều nơi, cùng với các hoạt động can thiệp, lật đổ và khủng bố.
Trong những năm đầu thế kỷ XXI, cách mạng khoa học và công nghệ đã phát triển mạnh mẽ, nâng cao năng lực sản xuất và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn cầu Sự quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội trong bối cảnh này đã ảnh hưởng sâu sắc đến công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước.
Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về mọi mặt Đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, cải thiện một bước đời sống vật chất của đông đảo nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh đƣợc củng cố Đồng thời, thành tựu 10 năm đổi mới đã tạo đƣợc nhiều tiền đề cần thiết cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Bên cạnh những thành tựu đạt được, nước ta cũng phải đối đầu với nhiều thách thức nhƣ nguy cơ tụt hậu xa về kinh tế, “diễn biến hoà bình”; tệ quan liêu, tham nhũng; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa
Đại hội VIII của Đảng (1996) đã nhận định rõ ràng về tình hình thế giới, xác định mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm xây dựng Việt Nam thành một nước công nghiệp với cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại và cơ cấu kinh tế hợp lý Điều này không chỉ nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân mà còn đảm bảo quốc phòng, an ninh vững chắc Giai cấp công nhân Việt Nam sẽ tiếp tục giữ vai trò tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và là lực lượng nòng cốt trong liên minh với nông dân và trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Sự phát triển mạnh mẽ của giai cấp công nhân có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc đổi mới và thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2.1.2 Những nhân tố tác động đến sự phát triển đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương (1997 – 2007)
- Đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương
Bình Dương, một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, đã trải qua nhiều thay đổi về địa giới hành chính và tên gọi trong quá trình phát triển Ngày 01/01/1997, tỉnh Bình Dương chính thức được thành lập từ tỉnh Sông Bé Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, Bình Dương đã khẳng định vị thế quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên:
Bình Dương có tổng diện tích tự nhiên là 2.694,64 km², nằm ở vị trí chiến lược khi phía bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, và phía tây giáp thành phố Hồ Chí Minh cùng tỉnh Tây Ninh.
Bình Dương, nằm ở vị trí cửa ngõ phía bắc của thành phố Hồ Chí Minh, là địa phương quan trọng thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Tại đây, Bình Dương đóng vai trò cầu nối giữa các đô thị lớn của Đông Nam Bộ và tập trung nhiều khu công nghiệp lớn nhất cả nước.
Hệ thống giao thông thuận tiện tại Bình Dương kết nối các khu công nghiệp với các đầu mối giao thông trong tỉnh và các vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội toàn diện Đầu tư và nâng cấp hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy đã hoàn thiện, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và được các nhà đầu tư đánh giá cao so với các địa phương khác trong cả nước.
Bình Dương, nằm giữa Nam Trường Sơn và đồng bằng sông Cửu Long, sở hữu địa hình đa dạng với phần lớn là bình nguyên sóng nhẹ, cùng với vùng núi thấp và thung lũng bãi bồi Khí hậu tại đây thuộc miền Đông Nam Bộ, đặc biệt Bình Dương hầu như không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ bão, chỉ bị tác động bởi những cơn bão gần Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư phát triển sản xuất và kinh doanh, đặc biệt là trong các khu công nghiệp.
Bình Dương, với vị trí địa lý thuận lợi và điều kiện tự nhiên đặc biệt, nằm sát bên Thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo ra một vị thế quan trọng trong sự phát triển kinh tế – xã hội Điều này không chỉ thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa mà còn tạo điều kiện cho sự hiện đại hóa của khu vực.
Đầu thập niên 90 thế kỷ XX, Bình Dương chủ yếu là một tỉnh thuần nông với ngành công nghiệp và dịch vụ còn hạn chế Tuy nhiên, sau khi được thành lập vào năm 1997, tỉnh đã trải qua sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế và xã hội nhờ vào chủ trương đổi mới, tạo điều kiện cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Bình Dương, với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh nhờ sự chỉ đạo sát sao của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, cùng với sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế phù hợp với tiềm năng và lợi thế của tỉnh đã giúp Bình Dương trở thành một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu hút vốn đầu tư cao.
Từ khi thành lập, Bình Dương đã trở thành một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, với sự phát triển năng động của ngành công nghiệp và dịch vụ Tỉnh nằm trong nhóm các tỉnh thu hút nhiều nguồn vốn FDI và có môi trường kinh doanh cùng cải cách thủ tục hành chính tốt nhất cả nước Sự đổ bộ ồ ạt của vốn đầu tư đã biến Bình Dương từ một vùng đất nông nghiệp kém hiệu quả thành một trong những địa phương công nghiệp trọng điểm Nhờ chính sách "trải chiếu hoa đón các nhà đầu tư" và tập trung phát triển các khu công nghiệp, tỉnh đã huy động được nhiều nguồn lực kinh tế, phát huy tiềm năng và thế mạnh của mình.
Tỉnh Bình Dương đang chuyển mình từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp nhờ vào chiến lược phát triển đúng đắn và chính sách thông thoáng Hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu phát triển Bên cạnh việc thu hút đầu tư công nghiệp, quá trình phát triển đô thị của tỉnh cũng diễn ra mạnh mẽ, chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, nâng cao chất lượng đô thị.
Các hoạt động dịch vụ đang phát triển mạnh mẽ và có sự chuyển biến tích cực về chất lượng Ngành bưu chính viễn thông phát triển nhanh chóng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng Đồng thời, lĩnh vực tài chính ngân hàng cũng không ngừng nâng cao, cung cấp các giải pháp thanh toán và tín dụng, phục vụ cho sự phát triển kinh doanh, sản xuất và tiêu dùng của xã hội.
Tình hình đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương trong mười năm đầu sau khi thành lập tỉnh và tiến hành công nghiệp hóa (1997 – 2007)
2.2.1 Số lƣợng và cơ cấu của đội ngũ công nhân
Từ khi thành lập, tỉnh Bình Dương đã nhận thức rằng để phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần phải phát triển các ngành công nghiệp tiên tiến và dịch vụ hỗ trợ Sự hình thành và hoạt động của các khu công nghiệp tập trung đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp tại tỉnh, đồng thời kéo theo sự gia tăng đáng kể số lượng công nhân.
Năm 1997, tổng số lao động công nghiệp toàn tỉnh tăng 10.914 người so với năm 1996, đạt 76.294 người, trong đó khu vực kinh tế trong nước có 60.946 công nhân (chiếm 79,88%) và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có 15.348 công nhân (chiếm 20,12%) Đến năm 2007, sau 10 năm, tổng số công nhân toàn tỉnh đã tăng lên 493.899 người, gấp 6,47 lần so với năm 1997, với khu vực kinh tế nhà nước có 186.743 người (chiếm 37,8%) và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có 307.156 người (chiếm 62,2%).
Bảng 2.1: Công nhân công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương phân theo thành phần kinh tế (1997 – 2007) Đơn vị: người
Khu vực kinh tế trong nước
Nhà nước 15.040 12.351 15.427 13.252 14.453 Trung ƣơng 2.319 2.641 4.231 3.398 2.587 Địa phương 12.721 9.710 11.196 9.854 11.866
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương
Trong giai đoạn 1997 - 2007, tỉnh Bình Dương chứng kiến sự gia tăng đáng kể số lượng công nhân, chủ yếu nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp trong các thành phần kinh tế Mặc dù khu vực kinh tế nhà nước có sự tăng trưởng về số lượng công nhân, nhưng tỷ lệ này giảm 42,08% so với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, chỉ còn chiếm 37,8% Ngược lại, số lượng công nhân ở các thành phần kinh tế khác ngoài nhà nước lại tăng nhanh chóng, cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ từ khu vực kinh tế nhà nước sang các lĩnh vực kinh tế tư nhân.
Trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa, tỉnh Bình Dương đã áp dụng chính sách thu hút đầu tư từ các nước như Đài Loan và Hàn Quốc mà không phân loại ngành nghề và công nghệ Hầu hết các doanh nghiệp đầu tư vào khu công nghiệp tại đây chủ yếu tập trung vào sản xuất gia công, yêu cầu lượng lớn lao động phổ thông mà không có hàm lượng công nghệ cao Điều này dẫn đến việc các ngành công nghiệp như dệt may, da - giày và chế biến gỗ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lao động so với các ngành khác.
Sự cởi mở trong việc thu hút đầu tư FDI đã mang lại lợi thế cho kinh tế Bình Dương, như tạo ra nhiều việc làm cho người lao động và chuyển dịch từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp Tuy nhiên, điều này cũng kéo theo những hệ lụy như giá trị sản xuất chưa được nâng cao, sức cạnh tranh giảm, và nguy cơ thu hút công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường trong tương lai.
Bảng 2.2: Công nhân công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương phân theo địa phương (1997 – 2007) Đơn vị: người Địa phương
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương
Tỉnh Bình Dương có một lực lượng công nhân đông đảo, chủ yếu tập trung tại các khu công nghiệp Đặc biệt, nhiều lao động trong số này là người nhập cư, tạo nên đặc điểm nổi bật của thị trường lao động trong giai đoạn hiện nay.
Năm 1997, Thị xã Thủ Dầu Một dẫn đầu tỉnh Bình Dương với 27.413 công nhân, chiếm 35,93% tổng số lao động; huyện Thuận An đứng thứ hai với 25,78%, trong khi huyện Dầu Tiếng có tỷ lệ công nhân thấp nhất, chỉ 0,38% Mặc dù số lượng công nhân tại Thủ Dầu Một tăng dần theo thời gian, nhưng không đột biến như các địa phương khác, do Thủ Dầu Một được định hướng phát triển thành đô thị mới, tập trung vào dịch vụ và thương mại hơn là công nghiệp Trong khi đó, Dầu Ti
Từ năm 2001 đến 2005, huyện Thuận An nổi bật với vị trí tập trung nhiều khu công nghiệp, thu hút lượng lao động lớn nhất tỉnh, tiếp theo là huyện Dĩ An Tuy nhiên, đến năm 2007, huyện Dĩ An đã có sự phát triển vượt bậc, vượt qua Thuận An về số lượng công nhân, với 200.664 người so với 143.544 người.
Nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy người lao động đến Bình Dương thường xuất phát từ động cơ kinh tế, đến Bình Dương để tìm việc làm
Các khu vực như Thuận An và Dĩ An đã thu hút lượng lớn lao động nhập cư nhờ vào quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng, cùng với nguồn lao động dồi dào từ các khu và cụm công nghiệp.
Trong tỉnh Bình Dương, lực lượng lao động chủ yếu là công nhân ngoại tỉnh, với khoảng 30.000 lao động nhập cư mỗi năm Đến năm 2007, tỷ lệ lao động ngoại tỉnh đã chiếm khoảng 80% tổng số công nhân làm việc tại các doanh nghiệp trong khu vực.
Người nhập cư chủ yếu đến từ nông thôn các tỉnh đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ và đồng bằng Sông Cửu Long, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa tỉnh Bình Dương Tuy nhiên, tỷ lệ lao động nhập cư cao cũng tạo ra áp lực về quản lý, quy hoạch và chính sách xã hội, đặc biệt là trong các vấn đề việc làm, nhà ở, và cơ sở hạ tầng kỹ thuật như giao thông, trường học, bệnh viện Tình trạng tệ nạn xã hội và an ninh trật tự cũng cần được chú trọng Đáng lưu ý, tại nhiều khu công nghiệp ở Bình Dương, tỷ lệ nữ công nhân chiếm tới 70%, trong đó một số ngành như may mặc, da giày, chế biến nông sản có tỷ lệ nữ công nhân lên đến 75%.
2.2.2 Trình độ học vấn và chuyên môn của công nhân
Bình Dương là một trong những địa phương có chỉ số phát triển giáo dục cao và hệ thống giáo dục hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng nguồn lao động phục vụ công nghiệp hóa Hàng năm, tỉnh cung cấp một lượng lớn lao động tốt nghiệp từ các trường đại học, cao đẳng và nghề, góp phần quan trọng vào đội ngũ công nhân, tăng tỷ trọng công nhân được đào tạo có trình độ chuyên môn và tay nghề.
Tỉnh Bình Dương, với sự phát triển công nghiệp mạnh mẽ, đã thu hút nguồn nhân lực dồi dào, đặc biệt là lực lượng lao động trẻ tuổi Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao tay nghề và tiếp cận với các kiến thức khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới.
Bảng 2.3: Cơ cấu dân số tỉnh Bình Dương theo nhóm tuổi năm 2006 Đơn vị: người
STT Tiêu chí Tổng số Tỷ lệ (%)
1 Dân số dưới độ tuổi lao động 257.839 24,3
2 Dân số trong độ tuổi lao động 720.839 68,0
3 Dân số trên độ tuổi lao động 81.749 7,7
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương năm 2007
Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, tỉnh Bình Dương đã áp dụng chính sách thu hút đầu tư chủ yếu từ các doanh nghiệp sản xuất gia công với yêu cầu về số lượng lao động phổ thông lớn, mà không chú trọng đến công nghệ cao Sự gia tăng lao động tại Bình Dương hàng năm chủ yếu đến từ lao động địa phương và một lượng lớn lao động nhập cư chưa qua đào tạo.
Bảng 2.4: Cơ cấu lao động tỉnh Bình Dương theo trình độ học vấn phổ thông
Trình độ học vấn phổ thông
Số lƣợng (người) Tỷ lệ (%)
Chƣa tốt nghiệp tiểu học
Nguồn: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Dương, 2008
Trình độ học vấn thấp của công nhân gây khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức từ chương trình đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề, hạn chế khả năng nâng cao tay nghề và tiếp cận công nghệ mới, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất lao động.
Bảng 2.5: Cơ cấu lao động tỉnh Bình Dương theo trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Tỷ lệ (%) Đại học trở lên 3.992 2,49 4.141 2,84
Trung học chuyên nghiệp 4.103 2,56 4.064 2,79 CNKT có bằng nghề 4.840 3,02 4.208 2,88
CNKT có chứng chỉ nghề ngắn hạn
CNKT không có bằng, chứng chỉ nghề 82.844 51,72 82.113 56,31
Không có trình độ chuyên môn nghiệp vụ 59.241 36,95 45.958 31,51
Nguồn: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Dương, 2008