1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía nam

299 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 299
Dung lượng 7,22 MB

Cấu trúc

  • 1. Tính cần thiết của đề tài (15)
  • 2. Mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu (18)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (18)
  • 4. Giới hạn của nghiên cứu (19)
  • 5. Đóng góp mới của luận án (19)
  • 6. Kết cấu của luận án (21)
  • Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG PHÂN TÍCH VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ (22)
    • 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu (22)
      • 1.1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan ở nước ngoài (22)
      • 1.1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan ở trong nước (32)
    • 1.2. Những khoảng trống nghiên cứu (41)
    • 1.3. Khung phân tích của luận án (42)
    • 1.4. Các giả thuyết nghiên cứu (43)
  • Chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ (48)
    • 2.1. Cơ sở lý thuyết về chất lượng tăng trưởng kinh tế (48)
      • 2.1.1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế (48)
      • 2.1.2. Khái niệm về chất lượng tăng trưởng kinh tế (48)
      • 2.1.3. Một số quan niệm đáng chú ý về chất lượng tăng trưởng kinh tế (51)
      • 2.1.4. Các chỉ tiêu đo lường chất lượng tăng trưởng kinh tế (54)
        • 2.1.4.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế (54)
        • 2.1.4.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của nền kinh tế (56)
        • 2.1.4.3. Nhóm chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế (57)
        • 2.1.4.4. Nhóm chỉ tiêu liên quan đến phúc lợi xã hội (59)
        • 2.1.4.6. Nhóm chỉ tiêu đánh giá tiến bộ đến tăng trưởng xanh (64)
    • 2.2. Các mô hình lý thuyết nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng kinh tế (0)
      • 2.2.1. Mô hình của Roy Harrod (1900 – 1978) – Evsey Domar (1914 – 1977) (67)
      • 2.2.2. Mô hình của Cobb – Douglas (69)
      • 2.2.3. Mô hình của Robert Merton Solow (70)
      • 2.2.4. Mô hình lý thuyết tăng trưởng nội sinh (72)
      • 2.2.5. Mô hình lý thuyết tăng trưởng xanh (77)
  • Chương 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ (86)
    • 3.1. Cách tiếp cận phân tích chính (86)
    • 3.2. Quy trình nghiên cứu (86)
    • 3.3. Phương pháp nghiên cứu (88)
      • 3.3.1. Phương pháp nghiên cứu định tính (88)
        • 3.3.1.1. Phương pháp logic và lịch sử (88)
        • 3.3.1.2. Phương pháp trừu tượng hoá khoa học (88)
        • 3.3.1.3. Phương pháp phân tích và tổng hợp (89)
        • 3.3.1.4. Phương pháp chuyên gia (89)
      • 3.3.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng (89)
        • 3.3.2.1. Phương pháp thống kê kinh tế (89)
        • 3.3.2.2. Phương pháp thống kê mô tả (90)
        • 3.3.2.3. Phương pháp kinh tế lượng (90)
    • 3.4. Nguồn dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu (91)
    • 3.5. Biến số và thước đo (91)
    • 3.6. Công cụ phân tích dữ liệu (97)
    • 3.7. Thủ tục thực hiện ước lượng thực nghiệm (98)
      • 3.7.1. Mô hình hệ số không thay đổi (Pooled OLS, viết tắt POLS) (98)
      • 3.7.2. Mô hình đánh giá tác động cố định (FEM) (99)
      • 3.7.3. Mô hình đánh giá tác động ngẫu nhiên (REM) (99)
  • Chương 4. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG (101)
    • 4.1. Tổng quan về vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (101)
      • 4.1.1. Vị trí và lợi thế so sánh của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (0)
      • 4.1.2. Vai trò của vùng KTTĐ phía Nam đối với sự phát triển chung của cả nước (106)
    • 4.2. Thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng KTTĐ phía Nam (110)
      • 4.2.1. Chất lượng tăng trưởng xét trên khía cạnh kinh tế (111)
        • 4.2.1.1. Kết quả sản xuất và tốc độ tăng trưởng của vùng KTTĐ phía Nam (111)
        • 4.2.1.2. Đánh giá kinh tế tăng trưởng theo chiều sâu của vùng KTTĐ phía (119)
        • 4.2.1.3. Năng lực cạnh tranh của các tỉnh, thành phố của vùng KTTĐ phía (126)
      • 4.2.4. Tăng trưởng gắn với phúc lợi xã hội, công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo (0)
        • 4.2.4.1. Phúc lợi xã hội (0)
        • 4.2.4.2. Công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo (0)
      • 4.2.3. Chất lượng tăng trưởng xét trên khía cạnh môi trường (141)
        • 4.2.2.1. Đánh giá chất lượng môi trường vùng KTTĐ phía Nam (0)
        • 4.2.2.2. Đánh giá về bảo tồn đa dạng sinh học (0)
        • 4.2.2.3. Tổ chức quản lý các hoạt động bảo vệ môi trường (0)
      • 4.2.4. Hiệu lực quản lý của nhà nước (156)
        • 4.2.4.1. Các chính sách vĩ mô (156)
        • 4.2.4.2. Hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước (164)
        • 4.2.4.3. Tình hình triển khai liên kết phát triển vùng KTTĐ phía Nam (168)
      • 4.2.5. Thảo luận kết quả nghiên cứu thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng KTTĐ phía Nam (171)
  • Chương 5. PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VÙNG KTTĐ PHÍA NAM (176)
    • 5.1. Thống kê mô tả các biến số (176)
    • 5.2. Kết quả ước lượng mô hình tăng trưởng kinh tế của vùng KTTĐ phía Nam (179)
      • 5.2.1. Phân tích các đặc điểm riêng biệt của các tỉnh, thành phố của vùng KTTĐ phía Nam trong ước lượng mô hình hồi quy (179)
      • 5.2.2. Kết quả kiểm định giả thuyết của mô hình (184)
      • 5.2.3. Phân tích lựa chọn mô hình (185)
      • 5.2.4. Thảo luận kết quả nghiên cứu mô hình hồi quy (186)
  • Chương 6. GỢI Ý CÁC CHÍNH SÁCH ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VÙNG KTTĐ PHÍA NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO (0)
    • 6.1. Đánh giá chung về chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng KTTĐ phía Nam (192)
    • 6.2. Gợi ý các chính sách để nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng (195)
      • 6.2.1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (195)
      • 6.2.2. Tăng cường vốn đầu tư thực hiện từ huy động nguồn vốn trong nước, nước ngoài và phát triển thị trường vốn để đầu tư phát triển vùng (198)
      • 6.2.3. Phát triển cơ sở hạ tầng (0)
      • 6.2.4. Nâng cao chất lượng môi trường (0)
      • 6.2.5. Phát huy lợi thế của hội nhập để phát triển doanh nghiệp (0)
      • 6.2.6. Cải thiện môi trường đầu tư, mở rộng hợp tác quốc tế và khai thác lợi thế của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (0)
    • 6.3. Định hướng nghiên cứu tiếp theo (0)
  • KẾT LUẬN (0)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (0)
  • PHỤ LỤC (0)
    • theo 5 nhóm thu nhập và phân theo địa phương của vùng KTTĐ phía Nam (0)

Nội dung

Tính cần thiết của đề tài

Trong chiến lược phát triển đất nước, tăng trưởng kinh tế là mục tiêu quan trọng trong điều tiết kinh tế vĩ mô của chính phủ, ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực, khu vực và địa phương, đặc biệt là những vùng kinh tế trọng điểm với tốc độ tăng trưởng cao.

Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (VKTTĐPN) bao gồm 8 tỉnh, thành phố:

TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh, Long An và Tiền Giang là vùng kinh tế trọng điểm lớn nhất Việt Nam, đóng vai trò là trung tâm công nghiệp, thương mại và tài chính hàng đầu Khu vực này chiếm 22,17% dân số cả nước, hơn 9% diện tích, sản xuất hơn 46% GDP và gần 40% kim ngạch xuất khẩu Năm 2019, vùng này đã đóng góp gần 46% ngân sách quốc gia.

Tăng trưởng kinh tế vùng KTTĐ phía Nam đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của khu vực và góp phần vào mục tiêu tăng trưởng quốc gia Năm 2018, GDP bình quân đầu người của vùng này đạt gấp 1,46 lần mức trung bình cả nước, đứng thứ hai về GDP đầu người trong toàn quốc Những chỉ số này phản ánh rõ ràng trình độ phát triển và lợi thế cạnh tranh của vùng KTTĐ phía Nam so với các khu vực khác.

Vùng KTTĐ phía Nam đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, với điều kiện và lợi thế nổi bật cho ngành công nghiệp và dịch vụ Đây là khu vực tiên phong trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, điện tử, tin học, dầu khí và sản phẩm hóa dầu Ngoài ra, vùng cũng phát triển dịch vụ cao cấp, du lịch, viễn thông, tài chính và ngân hàng, đồng thời chú trọng nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, cùng với đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

Vùng này sở hữu hạ tầng đồng bộ, tập trung nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học và trung tâm y tế, tạo ra nguồn nhân lực dồi dào và có kỹ năng cao, khiến nó trở thành điểm đến đầu tư hấp dẫn hàng đầu cả nước Đây là trung tâm dịch vụ và thương mại quy mô khu vực và quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực du lịch, tài chính, ngân hàng, viễn thông và logistics Khu vực này cũng hình thành mạng lưới đô thị vệ tinh phát triển xung quanh thành phố Hồ Chí Minh, được kết nối bởi các tuyến đường vành đai thông thoáng.

Vùng KTTĐ phía Nam là khu vực công nghiệp lớn nhất Việt Nam, với mạng lưới các khu công nghiệp tập trung phát triển các ngành công nghiệp chủ lực như khai thác và chế biến dầu khí, luyện cán thép, năng lượng điện, công nghệ thông tin, hóa chất cơ bản, phân bón và vật liệu Khu vực này đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, không chỉ cho riêng vùng mà còn cho toàn quốc Ngoài ra, vùng còn phát triển hệ thống đào tạo và trung tâm nghiên cứu khoa học, cùng với các cơ sở y tế chất lượng cao, đảm bảo cung cấp dịch vụ y tế cho toàn vùng Đây cũng là một trong hai khu vực có khu công nghệ cao và trung tâm đào tạo, sản xuất công nghệ phần mềm hàng đầu của cả nước.

Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam đang trở thành động lực phát triển mạnh mẽ nhất của Việt Nam nhờ vào tầm vóc và vị thế vượt trội, kết quả của quá trình phát triển lâu dài và những nỗ lực cải cách quyết liệt Trong những năm qua, các ngành kinh tế của vùng đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể với tốc độ tăng trưởng GDP đạt 10,2% trong giai đoạn 2011 – 2014, cao hơn nhiều so với mức 5,7% của cả nước Mặc dù vậy, tiềm năng phát triển và lợi thế của vùng vẫn chưa được khai thác triệt để, đòi hỏi sự chú ý và đầu tư hơn nữa để phát huy hết sức mạnh của vùng KTTĐ phía Nam.

Cơ cấu kinh tế vùng KTTĐPN đang chuyển dịch nhanh chóng theo hướng giảm tỷ trọng GDP của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản và công nghiệp, xây dựng, đồng thời tăng tỷ trọng GDP của khu vực dịch vụ.

Trong quá trình phát triển, vùng KTTĐ phía Nam đã gặp phải nhiều dấu hiệu bất ổn, bao gồm sự giảm sút về tốc độ tăng trưởng và những vấn đề nghiêm trọng liên quan đến môi trường sinh thái, đầu tư và thể chế Tình trạng đô thị hóa nhanh chóng không đi đôi với phát triển hạ tầng, dẫn đến nghèo đói và chênh lệch mức sống giữa thành phố và nông thôn Sự bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ xã hội và cơ hội việc làm cũng là một thách thức lớn Chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có trình độ cao, vẫn chưa đáp ứng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và xã hội Do đó, các tỉnh, thành phố trong vùng cần chú trọng hơn đến chất lượng tăng trưởng kinh tế, không chỉ tập trung vào tốc độ tăng trưởng Việc nâng cao chất lượng tăng trưởng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế là điều kiện cần thiết để phát triển bền vững và hợp lý cho vùng KTTĐ phía Nam.

Đề tài này không chỉ có tính cần thiết do bối cảnh thực tiễn của vùng KTTĐ phía Nam, mà còn phản ánh xu hướng nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng kinh tế từ nhiều tác giả trong và ngoài nước, như Thomas và cộng sự (2000), Thomas, Dailami và Dhareshwar (2004), Xiaojing Chao, Baoping Ren (2018) và Nguyễn Thị Thơm.

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, như của Vũ Thuý Anh (2014), Lê Xuân Bá và Hoàng Thu Hòa (2010), và Đỗ Phú Trần Tình (2010), nhưng hầu hết chỉ tập trung vào một số ngành hoặc tỉnh, thành phố cụ thể Đặc biệt, chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam Thêm vào đó, các nghiên cứu này chủ yếu áp dụng phương pháp định tính, thiếu sự sử dụng đầy đủ các công cụ định lượng và chưa xây dựng các mô hình kinh tế phù hợp để phân tích và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng kinh tế trong khu vực này.

Xuất phát từ bối cảnh tăng trưởng của vùng KTTĐ phía Nam và các nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng kinh tế, việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng là rất cần thiết để phát triển kinh tế bền vững cho khu vực và cả nước Nghiên cứu này nhằm đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng KTTĐ phía Nam trong thời gian qua, đồng thời đề xuất các chính sách nhằm cải thiện chất lượng tăng trưởng kinh tế trong tương lai.

Mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu của luận án

Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá thực trạng chất lượng thương mại kỹ thuật (TTKT) và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến TTKT trong khu vực, từ đó đề xuất các chính sách nhằm nâng cao chất lượng TTKT tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Luận án nghiên cứu tập trung vào ba mục tiêu chính: Thứ nhất, xây dựng khung phân tích chất lượng thị trường kinh tế (TTKT) của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Thứ hai, đánh giá thực trạng chất lượng TTKT trong khu vực này Cuối cùng, nghiên cứu sẽ phân tích định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến TTKT của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong giai đoạn từ 2000 đến 2019.

(iv) Gợi ý các chính sách để nâng cao chất lượng TTKT của vùng KTTĐPN

2.2 Các câu hỏi nghiên cứu của luận án Để đạt được mục tiêu trên, nội dung nghiên cứu của luận án đề cập đến các vấn đề sau đây:

(i) Cơ sở lý thuyết và khung phân tích nào phù hợp với chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng KTTĐ phía Nam?

Chất lượng thực hiện chuyển đổi kinh tế (TTKT) của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam hiện đang gặp nhiều thách thức Các nhân tố ảnh hưởng đến TTKT bao gồm chính sách phát triển, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và sự hỗ trợ từ các tổ chức Mỗi nhân tố này có mức độ tác động khác nhau, từ việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đến việc cải thiện năng lực cạnh tranh của vùng Việc nhận diện và tối ưu hóa các yếu tố này là cần thiết để nâng cao hiệu quả TTKT tại khu vực.

(iv) Vùng KTTĐ phía Nam cần có các chính sách nào để nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế?

Giới hạn của nghiên cứu

Nghiên cứu này chỉ tập trung vào thực trạng chất lượng thị trường tài chính khu vực phía Nam Việt Nam, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng này, mà chưa xem xét đến tình hình chất lượng thị trường tài chính ở các vùng khác trong cả nước.

Nghiên cứu này tập trung vào 8 tỉnh, thành phố thuộc vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam, nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2000 - 2019 Tuy nhiên, số liệu quan sát còn hạn chế, khiến việc so sánh với các vùng khác của Việt Nam trở nên khó khăn.

Đóng góp mới của luận án

Luận án này kế thừa và tiếp thu nhiều tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu, từ đó bổ sung và phát triển phù hợp với yêu cầu của đối tượng nghiên cứu Những đóng góp mới của luận án bao gồm lý thuyết, thực nghiệm và chính sách, nhằm nâng cao giá trị nghiên cứu trong lĩnh vực này.

Luận án cung cấp thêm bằng chứng thực tiễn tại Việt Nam về khái niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế, bao gồm các khía cạnh như tăng trưởng kinh tế, phát triển và phát triển bền vững Bài viết nhấn mạnh mối liên hệ giữa bốn thành tố chính: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế.

Luận án hệ thống các mô hình lý thuyết liên quan đến tăng trưởng và chất lượng thị trường kinh tế, tổng hợp năm mô hình lý thuyết quan trọng: mô hình Roy Harrod – Evsey Domar, mô hình Cobb – Douglas, mô hình Robert Merton Solow, mô hình lý thuyết tăng trưởng nội sinh và mô hình lý thuyết tăng trưởng xanh Mỗi mô hình được phân tích để rút ra các khái niệm, tính chất, cũng như ưu điểm và nhược điểm của chúng, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển kinh tế.

Luận án này tổng hợp và lựa chọn các chỉ tiêu đo lường chất lượng TTKT, khác biệt so với các nghiên cứu trước đây, nhằm phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng TTKT tại vùng KTTĐPN Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm tỷ lệ đóng góp của các yếu tố vào tốc độ tăng GDP (do tăng TFP, vốn vật chất và lực lượng lao động) theo phương pháp hạch toán, tốc độ tăng TFP theo phương pháp bình quân, và tỷ lệ tăng GDP do tăng năng suất lao động, cùng với HDI và các chỉ số cấu thành của vùng.

Luận án xây dựng khung phân tích chất lượng thị trường kinh tế (TTKT) của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT Nghiên cứu đề xuất mô hình định lượng để đánh giá tác động của các yếu tố như TFP, đầu tư cho R&D, chuyển giao công nghệ, nguồn nhân lực, chi tiêu công cho hạ tầng, phát triển hệ thống tài chính và thể chế, cũng như hội nhập vào chất lượng TTKT của vùng.

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, áp dụng thống kê mô tả để phân tích chất lượng TTKT tại vùng KTTĐ phía Nam Đồng thời, nghiên cứu sử dụng phương pháp kinh tế lượng để đánh giá tác động của các yếu tố đến TTKT trong khu vực này.

Luận án áp dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng để phân tích định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của vùng KTTĐ phía Nam Sử dụng số liệu thứ cấp với 160 quan sát từ 8 tỉnh/thành phố trong giai đoạn 2000-2019, nghiên cứu đánh giá mức độ tác động của các nhân tố này đến sự phát triển kinh tế của khu vực.

Luận án này đưa ra các luận cứ khoa học nhằm đề xuất chính sách nâng cao chất lượng thị trường kinh tế (TTKT) vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Các chính sách này bao gồm: (i) nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, (ii) tăng cường vốn đầu tư từ nguồn trong nước và nước ngoài, phát triển thị trường vốn, (iii) phát triển cơ sở hạ tầng, (iv) cải thiện chất lượng môi trường, (v) tận dụng lợi thế hội nhập để phát triển doanh nghiệp, và (vi) cải thiện môi trường đầu tư, mở rộng hợp tác quốc tế, khai thác lợi thế của vùng Những gợi ý này sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách và chính quyền địa phương hoàn thiện các chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững cho vùng KTTĐ phía Nam.

Kết cấu của luận án

Ngoài các phần như lời cam đoan, mục lục, danh mục chữ viết tắt, bảng biểu, hình vẽ, biểu đồ, phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án nghiên cứu được chia thành 6 chương.

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và khung phân tích về chất lượng TTKT

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về chất lượng tăng trưởng kinh tế

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng kinh tế Chương 4: Phân tích thực trạng chất lượng TTKT của vùng KTTĐ phía

Chương 5: Phân tích định lượng các nhân tố tác động đến TTKT của vùng

Chương 6: Gợi ý các chính sách để nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng KTTĐ phía Nam và định hướng nghiên cứu tiếp theo.

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG PHÂN TÍCH VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, chất lượng và tính hiệu quả của thị trường tài chính (TTKT) đang thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Nhiều công trình nghiên cứu, bao gồm sách, bài báo và luận án, đã được công bố cả trong và ngoài nước để phân tích vấn đề này Các nghiên cứu tiêu biểu đã góp phần làm sáng tỏ tầm quan trọng của TTKT đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia, vùng và địa phương.

1.1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan ở nước ngoài

Nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế (TTKT) ngày càng trở nên hệ thống và hoàn thiện, với sự đồng thuận từ các nhà khoa học rằng TTKT là sự gia tăng thu nhập hoặc sản lượng của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm TTKT không chỉ phản ánh sự tăng trưởng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ mà còn được sử dụng để so sánh tương đối Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, các nghiên cứu về chất lượng TTKT đã bắt đầu xuất hiện từ cuối những năm 90, dựa trên nền tảng của các nghiên cứu trước đó.

Nghiên cứu của Saibal Ghosh (2016) về “Chỉ số chất lượng tăng trưởng: Bằng chứng từ các bang của Ấn Độ” đã sử dụng dữ liệu từ giai đoạn 1971 - 2011 để xây dựng chỉ số chất lượng tăng trưởng cho các bang lớn của Ấn Độ Chỉ số này không chỉ phản ánh sự tăng trưởng và tính bền vững mà còn bao gồm các khía cạnh xã hội như sự ổn định, đa dạng hóa tăng trưởng, chất lượng thể chế, tuổi thọ và tỷ lệ biết chữ Kết quả cho thấy giá trị trung bình của các chỉ số tăng cao trong giai đoạn hậu cải cách, cho thấy sự cải thiện tổng thể về chất lượng tăng trưởng Tuy nhiên, các bang Bimarou dù có chỉ số tăng nhưng vẫn tụt lại so với các bang tương đương Ngoài ra, các bang công nghiệp hóa thể hiện chỉ số chất lượng tăng trưởng cao hơn nhờ vào khả năng tiếp cận tài chính tốt hơn và cơ sở hạ tầng được nâng cấp.

Nghiên cứu của Xiaojing Chao và Baoping Ren (2018) phân tích ảnh hưởng của chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn đến chất lượng tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc Mục tiêu là xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng tăng trưởng theo ba cấp độ: điều kiện, quy trình và kết quả, từ góc độ chất lượng kinh tế Tác giả lý giải rằng khoảng cách thu nhập lớn sẽ tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế và hạn chế chất lượng tăng trưởng Nghiên cứu thực nghiệm sử dụng dữ liệu bảng từ 30 tỉnh và áp dụng mô hình GMM, cho thấy đầu tư vào vốn nhân lực, vật chất, cải thiện cơ sở hạ tầng và mở cửa kinh tế có vai trò tích cực trong nâng cao chất lượng tăng trưởng, trong khi chi tiêu chính phủ, phát triển tài chính và sai lệch cơ cấu công nghiệp lại có ảnh hưởng tiêu cực.

Robert J Barro (2002) đã tiến hành nghiên cứu về "Số lượng và chất lượng của tăng trưởng kinh tế", sử dụng mô hình dữ liệu bảng để phân tích tăng trưởng kinh tế ở 84 quốc gia qua 7 giai đoạn khác nhau Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng trong sự phát triển kinh tế toàn cầu.

Nghiên cứu từ năm 1965 đến 2000 chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ lệ đầu tư so với GDP có mối liên hệ chặt chẽ với các yếu tố chất lượng của sự phát triển kinh tế như tuổi thọ, khả năng sinh sản, điều kiện môi trường, bất bình đẳng thu nhập và các khía cạnh thể chế chính trị Kết quả cho thấy phát triển kinh tế gắn liền với tuổi thọ cao hơn, giảm khả năng sinh sản, và cải thiện mức sống đi đôi với mở rộng dân chủ, duy trì luật pháp và giảm tham nhũng Mặc dù bất bình đẳng thu nhập ít bị ảnh hưởng bởi mức độ phát triển kinh tế, tỷ lệ tội phạm lại liên quan đến bất bình đẳng thu nhập hơn là phát triển kinh tế Ngoài ra, sự tham gia tôn giáo có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế, nhưng lại có mối quan hệ tích cực với giáo dục, đóng vai trò quan trọng trong các chỉ số phát triển kinh tế.

Nghiên cứu của Montfort Mlachila, René Tapsoba, Sampawende Tapsoba

Nghiên cứu năm 2014 về chỉ số chất lượng tăng trưởng cho các nước đang phát triển đã đề xuất một chỉ số mới, bao gồm các yếu tố như bền vững, ổn định, cơ cấu ngành và nhu cầu, cũng như các khía cạnh xã hội như y tế và giáo dục Dữ liệu từ hơn 90 quốc gia trong giai đoạn 1990 - 2011 cho thấy chất lượng tăng trưởng đã cải thiện ở hầu hết các nước đang phát triển trong hai thập kỷ qua, mặc dù tốc độ hội tụ còn chậm Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt rõ rệt giữa các quốc gia về mức thu nhập và khu vực, với các yếu tố chính ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng bao gồm ổn định chính trị, chi tiêu công cho người nghèo, ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển tài chính, chất lượng thể chế và các yếu tố bên ngoài như FDI.

Nghiên cứu của Hong Y (1994) về “Chất lượng tăng trưởng kinh tế và ảnh hưởng của dân số” nhấn mạnh rằng mục tiêu phát triển kinh tế không chỉ là đạt tốc độ tăng trưởng cao mà còn phải cải thiện chất lượng tăng trưởng kinh tế (TTKT) Để nâng cao chất lượng TTKT, cần thúc đẩy tiến bộ công nghệ, cải thiện quản lý, tối ưu hóa cơ cấu công nghiệp và nâng cao kỹ năng của công nhân Các quốc gia xã hội chủ nghĩa cần nhận thức rõ sự tương tác giữa phát triển kinh tế, xã hội và vai trò của kiểm soát dân số Chất lượng TTKT có thể được đánh giá qua các chỉ số như tốc độ tăng trưởng, mức tăng năng suất, trình độ học vấn và mức sống Nghiên cứu cũng phân loại mô hình tăng trưởng thành hai loại: loại A ở các nước phát triển với chất lượng tăng trưởng thông qua tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người và loại B ở các nước mới công nghiệp hóa với sự tăng trưởng nhanh của GNP Tác giả khuyến nghị cần cải thiện chất lượng dân số cùng với kiểm soát dân số, kết hợp tiến bộ công nghệ và năng suất, đồng thời tích hợp chính sách kế hoạch hóa gia đình vào chính sách phát triển để thúc đẩy chất lượng TTKT.

Ngoài các nghiên cứu trong nước, nhiều tác giả nước ngoài cũng đã tiến hành nghiên cứu về TTKT và chất lượng của nó, tập trung vào việc xác định các yếu tố quyết định năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) Tình hình nghiên cứu trong lĩnh vực này có thể được tổng quan như sau:

Theo nghiên cứu của Theo P Romer (1990), tiến bộ công nghệ ảnh hưởng đến tăng trưởng TFP của vốn và lao động, tác động đến tăng trưởng kinh tế Chen và Dahlman (2004) chỉ ra rằng quy tắc và thủ tục ảnh hưởng đến cách một quốc gia tạo ra và sử dụng kiến thức Hệ thống đổi mới đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động R&D, dẫn đến sản phẩm và quy trình mới, từ đó tăng trưởng TFP và kinh tế Furman và Hayes (2004) cho rằng khoảng cách giữa các quốc gia sáng tạo đã thu hẹp, với sự gia tăng quy mô của các nước đổi mới, góp phần vào tăng trưởng TFP và kinh tế Nghiên cứu của Ulku (2004) cho thấy đầu tư R&D ở các nước OECD lớn rất quan trọng cho GDP và TFP, trong khi các nước nhỏ hơn học hỏi để cải thiện đổi mới Abdih và Joutz (2005) chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa TFP và chức năng sản xuất tri thức qua dữ liệu chuỗi thời gian của Hoa Kỳ Cuối cùng, Isaksson (2006) khẳng định rằng đầu tư vào đổi mới công nghệ có tương quan dương với tăng trưởng năng suất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Nghiên cứu của Aitken và Harrison (1999) về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Venezuela cho thấy FDI có ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất của các nhà máy địa phương, khi các công ty nước ngoài chủ yếu tuyển dụng công nhân lành nghề, làm giảm số lượng công nhân có tay nghề tại các doanh nghiệp trong nước Tương tự, Gurg và Greenaway (2002) cũng khẳng định rằng doanh nghiệp trong nước khó có thể hưởng lợi từ FDI Mặc dù FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng tổng năng suất yếu tố (TFP) ở các nước công nghiệp hóa, nhưng những lợi ích này ít thấy ở các nước đang phát triển Mayer (2001) nhấn mạnh rằng để tăng trưởng năng suất, các nước đang phát triển cần chú trọng vào việc nhập khẩu công nghệ nước ngoài và phát triển nguồn nhân lực, đồng thời tạo ra công nghệ phù hợp trong nước Các mặt hàng nhập khẩu như máy móc thiết bị liên quan đến R&D có khả năng tạo ra chuyển giao công nghệ lớn hơn, góp phần tích cực vào tăng trưởng TFP.

Nghiên cứu của Keller và Yeaple (2003) về "Các doanh nghiệp đa quốc gia, thương mại quốc tế và tăng trưởng năng suất: Bằng chứng từ Hoa Kỳ" chỉ ra rằng giữa FDI và tăng trưởng năng suất có mối liên hệ chặt chẽ Trong giai đoạn 1987-1996, khoảng 14% tăng trưởng năng suất tại Hoa Kỳ được thúc đẩy bởi sự gia tăng FDI, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ cao Tác giả cho rằng sự gia tăng mạnh mẽ này chủ yếu xuất phát từ việc đánh giá cao hơn các hoạt động của doanh nghiệp đa quốc gia.

Nghiên cứu của Nelson và Phelps (1966) chỉ ra rằng sự phát triển công nghệ ở các quốc gia phụ thuộc vào trình độ học vấn, với vốn con người ảnh hưởng đến sản lượng chỉ khi có công nghệ mới Benhabib và Spiegel (1994) nhấn mạnh rằng vốn con người quyết định khả năng đổi mới công nghệ và tăng trưởng TFP của quốc gia Acemoglu và Zilibotti (1999) cho rằng sự khác biệt về năng suất giữa các nước, mặc dù sử dụng công nghệ tương tự, xuất phát từ khía cạnh chuyển giao công nghệ, đặc biệt là công nghệ nhập khẩu Benhabib và Spiegel (2002) tiếp tục phát triển mô hình khuếch tán công nghệ, cho thấy vai trò quan trọng của nguồn nhân lực trong đổi mới và tăng trưởng TFP từ năm 1960 đến 1995 Cuối cùng, Caselli và Coleman (2002) chỉ ra rằng các nước có vốn con người thấp chậm áp dụng công nghệ mới, dẫn đến hiệu quả thấp trong việc sử dụng nguồn lực.

Nelson (2004) trong nghiên cứu “Hiểu biết gì về sự đổi mới?” chỉ ra rằng công nghệ mang lại lợi ích chung nhưng thường đi kèm với các chi phí nhất định Việc phát triển công nghệ ở các khu vực khác có thể rất tốn kém, vì để tiếp cận kiến thức cao, người đi mượn cần phải nâng cao năng lực sáng tạo của mình.

Theo nghiên cứu của Aschauer (1989), đầu tư cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng tích cực đến năng suất sản xuất và tăng trưởng tổng năng suất yếu tố (TFP), từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ông cũng chỉ ra rằng sự suy giảm năng suất trong những năm 1970 liên quan đến tỷ lệ giảm đầu tư vốn công Nghiên cứu của Munnell (1992) về "Đầu tư cơ sở hạ tầng và tăng trưởng kinh tế" khẳng định rằng đầu tư công không chỉ tác động tích cực đến đầu tư tư nhân mà còn góp phần tăng sản lượng và tạo ra nhiều việc làm Các tác giả Easterly và Rebelo cũng đồng tình với quan điểm này, nhấn mạnh tầm quan trọng của đầu tư công trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

Những khoảng trống nghiên cứu

Luận án đã chỉ ra những khoảng trống trong nghiên cứu liên quan đến đề tài, dựa trên tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước đã được trình bày ở phần trước.

Hiện tại, chưa có khung phân tích lý thuyết nào về chất lượng tăng trưởng kinh tế tại vùng KTTĐ phía Nam, cả ở Việt Nam và trên thế giới Do đó, luận án này sẽ xây dựng một khung phân tích chất lượng tăng trưởng kinh tế dựa trên bốn thành tố chính: kinh tế, phúc lợi xã hội, công bằng xã hội và xoá đói giảm nghèo, môi trường, cùng với hiệu lực quản lý của nhà nước.

Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng kinh tế (TTKT) tại các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, bao gồm dân số, vốn vật chất, vốn con người, TFP, chi tiêu công cho người nghèo, cơ sở hạ tầng, phát triển tài chính, FDI, văn hóa, tôn giáo và thể chế chính trị Các nghiên cứu cũng xác định các yếu tố quyết định TFP như đầu tư R&D, chuyển giao công nghệ, chi tiêu công cho cơ sở hạ tầng và phát triển hệ thống tài chính Tuy nhiên, các yếu tố này cần được phân tích và đánh giá lại để phù hợp với bối cảnh Việt Nam, đặc biệt là vùng KTTĐPN Luận án đề xuất một mô hình nghiên cứu mới, trong đó ngoài vốn vật chất và lực lượng lao động, TFP cũng được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng TTKT của vùng KTTĐ phía Nam thông qua các yếu tố như đầu tư cho R&D, chuyển giao công nghệ, vốn con người và chi tiêu công cho cơ sở hạ tầng.

Nhiều nghiên cứu hiện nay chủ yếu áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu chéo hoặc theo thời gian trong khoảng 8 đến 15 năm Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thị trường tài chính Hơn nữa, các nghiên cứu này chưa đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đó đến chất lượng thị trường tài chính của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Do đó, luận án này sẽ áp dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng với số liệu thứ cấp để thực hiện phân tích.

Nghiên cứu dựa trên 160 quan sát từ 8 tỉnh/thành phố trong vùng KTTĐPN trong khoảng thời gian 20 năm (2000 – 2019) nhằm phân tích và đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến tăng trưởng kinh tế TFP được sử dụng để phản ánh sự đóng góp của các nhóm nhân tố vào chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các chính sách phù hợp cho các cơ quan chính quyền địa phương nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế trong khu vực.

Khung phân tích của luận án

Dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, cùng với tiềm năng kinh tế của các tỉnh, thành phố thuộc vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam, tác giả đã lựa chọn khung phân tích chất lượng thị trường kinh tế của vùng này, như được thể hiện trong hình 1.1.

Khung phân tích của luận án khác biệt so với các nghiên cứu trước đây ở chỗ: (i) ngoài ba thành tố chất lượng TTKT, còn nhấn mạnh vai trò của thể chế và hiệu lực quản lý nhà nước trong việc đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững; (ii) bên cạnh vốn vật chất và lực lượng lao động, luận án còn đưa ra nhân tố TFP, phản ánh sự đóng góp từ đầu tư R&D, chuyển giao công nghệ, vốn con người, chi tiêu công cho cơ sở hạ tầng, phát triển hệ thống tài chính và thể chế, cùng với sự hội nhập vào chất lượng TTKT của vùng KTTĐ phía Nam, như đã được đề cập trong các nghiên cứu của Nguyễn Thị Thơm (2019), Vũ Thuý Anh (2014), Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung (2011), Lê Xuân Bá và Hoàng Thị Thu Hoà (2010), Đỗ Phú Trần Tình (2010), Phan Ngọc Trung (2006), Trương Thị Minh Sâm (2005), Nguyễn Thị Tuệ Anh (2005) và Lê Huy Đức (2004).

Hình 1.1 Khung phân tích chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng KTTĐPN

Bài viết đề xuất một khung phân tích dựa trên 6 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT của vùng KTTĐPN, với 6 giả thuyết từ H1 đến H6 Các nhóm nhân tố này được xem là các biến độc lập định lượng, có tác động trực tiếp đến biến phụ thuộc là chất lượng TTKT của vùng KTTĐ phía Nam.

Các giả thuyết nghiên cứu

Dựa trên nghiên cứu tổng quan và các mô hình lý thuyết, tác giả đã đưa ra 6 giả thuyết nghiên cứu nhằm kiểm định tiềm năng kinh tế của các tỉnh, thành phố trong vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam so với cả nước.

1.4.1 Đầu tư cho R&D Đầu tư cho R&D bao gồm việc đầu tư, tiến hành và/hoặc mua bán các nghiên cứu, công nghệ mới phục vụ cho quá trình tồn tại và phát triển của các tổ chức ở các tỉnh, thành phố của vùng KTTĐ phía Nam Công tác nghiên cứu và phát triển cũng nhằm khám phá những tri thức mới về các sản phẩm, quá trình, và dịch vụ, sau đó áp dụng những tri thức đó để tạo ra sản phẩm, quá trình, và dịch vụ mới, có tính cải tiến để đáp ứng được nhu cầu của thị trường tốt hơn nhằm tăng giá trị gia tăng và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức, ngành, các tỉnh, thành phố và của cả Đầu tư cho R&D

Chi tiêu công cho cơ sở hạ tầng

Phát triển hệ thống tài chính

- Tăng trưởng kinh tế hợp lý và ổn định

- Chất lượng cuộc sống người dân được nâng cao

- Môi trường được bảo vệ bền vững

- Hiệu lực quản lý của nhà nước bảo đảm phù hợp

Chính sách về tăng trưởng

1 Nâng cao năng lực quản lý nền kinh tế

2 Tăng phúc lợi xã hội, công bằng xã hội và xoá đói giảm nghèo

3 Bảo vệ môi trường chặt chẽ

4 Hoàn thiện pháp luật và chống tham nhũng

5 Nâng cao chất lượng hoạch định và thực thi chính sách

TFP vùng Nghiên cứu thực nghiệm của Chen & Dahlman (2004), Furman & Hayes

Nghiên cứu của Ulku (2004) và Isaksson (2006) chỉ ra rằng đầu tư vào R&D có vai trò quan trọng trong việc nâng cao GDP bình quân đầu người, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng năng suất tổng hợp (TFP) và tăng trưởng kinh tế Dựa trên những phát hiện này, tác giả đề xuất giả thuyết nghiên cứu.

Giả thuyết nghiên cứu 1 (H1) cho rằng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng tăng trưởng kinh tế của khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, như đã được chứng minh bởi các nghiên cứu của Chen và Dahlman (2004), Furman và Hayes (2004), Ulku (2004), và Isaksson (2006).

Chuyển giao công nghệ là quá trình chuyển giao kỹ năng, kiến thức, công nghệ và phương pháp sản xuất giữa các chính phủ, viện nghiên cứu và các cơ sở giáo dục, nhằm đảm bảo phát triển công nghệ có thể tiếp cận rộng rãi Quá trình này cho phép người dùng phát triển và khai thác công nghệ thành các dịch vụ, vật liệu, ứng dụng và sản phẩm mới, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh và năng suất lao động Nghiên cứu thực nghiệm của Mayer (2001) và Gurg và Greenaway (2002) chỉ ra rằng chuyển giao công nghệ từ nước ngoài có tác động tích cực đến tăng trưởng năng suất tổng hợp (TFP) ở các nước công nghiệp hóa Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất giả thuyết nghiên cứu.

Giả thuyết nghiên cứu 2 (H 2 ): Chuyển giao công nghệ có tác động tích cực đến chất lượng tăng trưởng kinh tế của vựng KTTĐ phớa Nam (Mayer, 2001; Gửrg and Greenaway, 2002)

Ngày nay, các quốc gia đang tập trung vào phát triển kinh tế bền vững, trong đó yếu tố con người ngày càng được chú trọng Con người không chỉ góp phần vào tăng trưởng kinh tế qua số lượng lao động mà còn thông qua nguồn vốn con người, bao gồm kiến thức, kỹ năng và năng lực cá nhân Vốn con người, được hình thành từ giáo dục phổ thông, nghề nghiệp, giáo dục không chính quy và tự học, đóng vai trò trung tâm trong việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng Nghiên cứu thực nghiệm của Benhabib & Spiegel (2002) và Acha, Marsili & Nelson (2004) cùng với World Bank đã chỉ ra tầm quan trọng của vốn con người trong phát triển kinh tế.

Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hoài (2017) chỉ ra rằng vốn con người có ảnh hưởng tích cực đến sự đổi mới công nghệ và tăng trưởng năng suất tổng hợp (TFP) Do đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất là vốn con người là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển công nghệ và hiệu quả kinh tế.

Nghiên cứu chỉ ra rằng vốn con người đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế tại khu vực Kinh tế trọng điểm phía Nam Các tài liệu trước đây như của Benhabib & Spiegel (2002), Acha, Marsili & Nelson (2004), và Ngân hàng Thế giới (2015) đã khẳng định tác động tích cực này, đồng thời Nguyễn Trọng Hoài (2017) cũng nhấn mạnh sự liên quan giữa vốn con người và sự phát triển kinh tế bền vững trong khu vực.

1.4.4 Chi tiêu công cho cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng là yếu tố thiết yếu cho hoạt động kinh tế, với chi tiêu công cho cơ sở hạ tầng đóng vai trò quan trọng trong phát triển Chính phủ đầu tư vào xây dựng và cải tạo các công trình như giao thông, điện, nước, trường học và bệnh viện nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức và cá nhân mở rộng năng lực sản xuất Nghiên cứu của Aschauer và các tác giả khác đã chỉ ra rằng chi tiêu công cho cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng năng suất toàn nhân tố (TFP), từ đó nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Do đó, tác giả đề xuất giả thuyết nghiên cứu về tác động của chi tiêu công vào cơ sở hạ tầng đối với sự phát triển kinh tế.

Giả thuyết nghiên cứu 4 (H4) cho rằng chi tiêu công vào cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng tăng trưởng kinh tế tại vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam, như được chỉ ra bởi các nghiên cứu của Aschauer (1989), Yilmaz và Hasan (2004), và Mahedi (2012).

1.4.5 Phát triển hệ thống tài chính

Hệ thống tài chính bao gồm các hoạt động tài chính liên quan trong nền kinh tế quốc dân, có mối quan hệ chặt chẽ trong việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ Việc phát triển hệ thống tài chính là cần thiết để cá nhân và doanh nghiệp có thể tiếp cận nhiều nguồn vốn nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh Do đó, các cơ quan nhà nước cần ban hành chính sách thông thoáng để tạo điều kiện cho cá nhân và doanh nghiệp uy tín vay vốn, giúp các dự án tiềm năng tiếp cận nguồn tín dụng từ các định chế tài chính Nghiên cứu của Rajan & Zingales (1998) và Fisman & Love (2004) chỉ ra rằng sự phát triển của hệ thống tài chính không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tăng trưởng mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chung Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất giả thuyết nghiên cứu.

Giả thuyết nghiên cứu 5 (H5) chỉ ra rằng sự phát triển của hệ thống tài chính có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng của thị trường tài chính khu vực kinh tế phía Nam Nghiên cứu này dựa trên các công trình của Rajan và Zingales (1998), Fisman và Love (2004), cũng như Vũ Thành Tự Anh và nhóm nghiên cứu (2006).

Thể chế bao gồm các quy tắc và tổ chức, cả chính thức lẫn không chính thức, có vai trò quan trọng trong việc điều phối hành vi con người và thúc đẩy phát triển bền vững Hội nhập kinh tế là quá trình kết nối các nền kinh tế thông qua việc mở cửa và tự do hóa thị trường, đồng thời gia nhập và xây dựng các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu Nghiên cứu của Hall & Jones (1996) và Engerman đã chỉ ra tầm quan trọng của các thể chế trong sự phát triển kinh tế.

Nghiên cứu của Sokoloff (1997), Rodrik, Subramanian và Trebbi (2002), Ulubasoglu và Doucouliagos (2004) chỉ ra rằng thể chế và chính sách tốt của chính phủ có ảnh hưởng tích cực đến thương mại, thu nhập và tăng trưởng TFP, từ đó nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Do đó, việc xây dựng thể chế và hội nhập tốt là điều kiện thiết yếu để các vùng và quốc gia cải thiện chất lượng tăng trưởng kinh tế Từ những lý do này, tác giả đề xuất giả thuyết nghiên cứu.

Giả thuyết nghiên cứu 6 (H6) cho rằng thể chế và hội nhập đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng KTTĐ phía Nam, như đã được chỉ ra bởi Rodrik, Subramanian và Trebbi (2002) cũng như Ulubasoglu và Doucouliagos (2004).

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG

PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VÙNG KTTĐ PHÍA NAM

GỢI Ý CÁC CHÍNH SÁCH ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VÙNG KTTĐ PHÍA NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

Ngày đăng: 13/03/2022, 16:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Khung phân tích chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng KTTĐPN - Chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía nam
Hình 1.1. Khung phân tích chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng KTTĐPN (Trang 43)
Hình 3.1. Quy trình nghiên cứu của luận án - Chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía nam
Hình 3.1. Quy trình nghiên cứu của luận án (Trang 87)
Hình 4.1. Bản đồ Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam - Chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía nam
Hình 4.1. Bản đồ Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (Trang 102)
Bảng 4.1. Dân số và lao động của bốn vùng KTTĐ và cả nước năm 2019 (ĐVT: Người) - Chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía nam
Bảng 4.1. Dân số và lao động của bốn vùng KTTĐ và cả nước năm 2019 (ĐVT: Người) (Trang 102)
Bảng 4.2. Một số chỉ tiêu dân số và lao động của bốn vùng KTTĐ với cả nước - Chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía nam
Bảng 4.2. Một số chỉ tiêu dân số và lao động của bốn vùng KTTĐ với cả nước (Trang 103)
Bảng 4.4. Tổng sản phẩm theo giá hiện hành của vùng KTTĐ phía Nam - Chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía nam
Bảng 4.4. Tổng sản phẩm theo giá hiện hành của vùng KTTĐ phía Nam (Trang 107)
Bảng 4.5. Tổng sản phẩm theo giá so sánh 2010 của vùng KTTĐ phía Nam so với cả nước năm 2017 - 2019 - Chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía nam
Bảng 4.5. Tổng sản phẩm theo giá so sánh 2010 của vùng KTTĐ phía Nam so với cả nước năm 2017 - 2019 (Trang 108)
Bảng 4.6. Thu ngân sách của vùng KTTĐ phía Nam và cả nước - Chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía nam
Bảng 4.6. Thu ngân sách của vùng KTTĐ phía Nam và cả nước (Trang 109)
Bảng 4.7. Tốc độ tăng trưởng GDP vùng KTTĐ phía Nam - Chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía nam
Bảng 4.7. Tốc độ tăng trưởng GDP vùng KTTĐ phía Nam (Trang 111)
Bảng 4.8. Thu nhập bình quân đầu người một năm theo giá - Chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía nam
Bảng 4.8. Thu nhập bình quân đầu người một năm theo giá (Trang 113)
Bảng 4.9. Cơ cấu tổng sản phẩm theo giá hiện hành của vùng KTTĐ phía Nam - Chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía nam
Bảng 4.9. Cơ cấu tổng sản phẩm theo giá hiện hành của vùng KTTĐ phía Nam (Trang 114)
Bảng 4.11. Xuất nhập khẩu hàng hoá của vùng KTTĐ phía Nam và cả nước - Chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía nam
Bảng 4.11. Xuất nhập khẩu hàng hoá của vùng KTTĐ phía Nam và cả nước (Trang 117)
Bảng 4.12. Tỷ phần đóng góp của các nhân tố vào tốc độ tăng GDP - Chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía nam
Bảng 4.12. Tỷ phần đóng góp của các nhân tố vào tốc độ tăng GDP (Trang 120)
Bảng 4.13. Vốn đầu tư, GDP theo giá so sánh 2010, tốc độ tăng vốn đầu tư, GDP - Chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía nam
Bảng 4.13. Vốn đầu tư, GDP theo giá so sánh 2010, tốc độ tăng vốn đầu tư, GDP (Trang 122)
Bảng 4.16. Chỉ số năng lực cạnh tranh các tỉnh, thành phố (PCI – Provincial - Chất lượng tăng trưởng kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía nam
Bảng 4.16. Chỉ số năng lực cạnh tranh các tỉnh, thành phố (PCI – Provincial (Trang 126)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w