1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của tỷ giá hối đoái đến hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam

38 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của tỷ giá hối đoái đến hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam
Tác giả Hà Thị Tốt, Vũ Phương Thảo, Ngô Tú Oanh, Đỗ Thu Thủy
Người hướng dẫn TS. Mai Thu Hiền
Trường học Trường Đại học Ngoại thương
Chuyên ngành Tài chính quốc tế
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 481,5 KB

Cấu trúc

  • PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI (4)
    • 1.1. Tỷ giá hối đoái (4)
    • 1.2. Chính sách tỷ giá hối đoái (7)
  • PHẦN II. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI9 VÀ TÌNH HÌNH (10)
    • 2.1. Giai đoạn 1992 – 1999 (10)
    • 2.2. Thời kỳ 2000-2010 (12)
    • 2.3. Thời kỳ 2011 - nay (16)
    • 2.4. Đánh giá chung (21)
  • PHẦN III: CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI LÊN HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT N AM . 24 3.1. Căn cứ lựa chọn các giải pháp (25)
    • 3.2. Các giải pháp (26)
  • KẾT LUẬN (29)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (30)

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

Tỷ giá hối đoái

Karl Marx (1818-1883) là người đầu tiên đưa ra khái niệm tỷ giá hối đoái trong tác phẩm "Tư bản" (1858), nơi ông định nghĩa tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế lịch sử gắn liền với sự phát triển sản xuất xã hội Ông nhấn mạnh rằng tính chất và cường độ tác động của tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị trường và các giai đoạn cụ thể trong lưu thông tiền tệ toàn cầu Mặc dù khái niệm này có phần phức tạp và mang tính lý luận, nó vẫn phản ánh được tính lịch sử và sự biến động của tỷ giá Sau Marx, khái niệm tỷ giá hối đoái đã được đơn giản hóa, hiện nay thường được hiểu là giá trị của một đồng tiền so với đồng tiền khác, tức là giá cả của một loại hàng hóa đặc biệt: tiền tệ.

Mỗi quốc gia đều có đồng tiền riêng, và đồng tiền của một quốc gia trở thành ngoại tệ của quốc gia khác Việc thanh toán quốc tế yêu cầu đổi tiền tệ, từ đó hình thành hai khái niệm quan trọng về tỷ giá hối đoái trong từng quốc gia.

Tỷ giá là giá trị của đồng ngoại tệ so với đơn vị nội tệ, thể hiện qua cách yết giá trực tiếp (ngoại tệ/nội tệ) Ví dụ, tỷ giá EUR/VND (EUR: euro, đồng tiền chung Châu Âu) tại thị trường Việt Nam vào ngày 25/09/2013 là 28.648 VND, cho thấy giá trị 1 EUR được biểu diễn trực tiếp bằng VND.

Tỷ giá là giá trị của đồng nội tệ so với ngoại tệ, thể hiện qua hình thức yết giá gián tiếp Ví dụ, tỷ giá 1GBP = 1,7618 USD được áp dụng tại London.

1.1.2 Cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái:

Tỷ giá hối đoái đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài, gắn liền với sự hình thành và phát triển của thương mại thế giới Từ chế độ bản vị vàng (1875-1914) đến chế độ bản vị hối đoái vàng (1944-1972) và chế độ tỷ giá thả nổi, thả nổi có quản lý (1975 - nay), tỷ giá luôn phản ánh sự so sánh giá trị giữa các đồng tiền quốc gia Trong lịch sử, tỷ giá được hình thành dựa trên hai ngang giá chính: ngang giá vàng và ngang giá sức mua.

Tỷ giá hối đoái được xác định dựa trên cung cầu trên thị trường ngoại hối, trong đó cầu về ngoại tệ tương ứng với cung về đồng nội tệ và ngược lại Cụ thể, chúng ta sẽ phân tích cầu và cung đối với USD và tỷ giá của USD so với VND.

Cung về USD chủ yếu đến từ các giao dịch quốc tế, bao gồm thu nhập từ xuất khẩu, kiều hối từ người Việt Nam ở nước ngoài, và đầu tư nước ngoài Ngược lại, cầu về ngoại tệ xuất phát từ nhu cầu nhập khẩu hàng hóa và đầu tư ra nước ngoài.

Hình 1.1: Mô hình xác định tỷ giá hối đoái

Khi NHNN không can thiệp vào thị trường ngoại hối, tỷ giá hối đoái được xác định bởi sự cân bằng cung cầu đô la từ tài khoản vãng lai và tài khoản vốn trong cán cân thanh toán quốc tế, biểu hiện ở điểm E0 trên đồ thị Đây là chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi.

Khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) can thiệp để duy trì tỷ giá hối đoái ở mức cố định, điều này được gọi là chế độ tỷ giá hối đoái cố định Để giữ tỷ giá hối đoái thấp hơn mức cân bằng thị trường, NHNN cần sử dụng dự trữ ngoại tệ để bán ra thị trường, dẫn đến việc giảm dự trữ ngoại tệ của NHNN và tăng cung ngoại tệ trong nền kinh tế.

Tỷ giá hối đoái thực tiễn được phân loại thành nhiều loại khác nhau dựa trên các tiêu chí cụ thể, từ đó tạo ra những cặp tỷ giá đa dạng.

Căn cứ vào thời điểm thanh toán:

- Tỷ giá giao ngay: là tỷ giá dùng cho các mua bán ngoại hối thanh toán ngay vào ngày hôm đó hoặc sau đó 2 ngày.

Tỷ giá kỳ hạn là tỷ giá áp dụng cho các giao dịch kỳ hạn, với thời gian giữa ngày ký hợp đồng và ngày giao tiền thường kéo dài từ 1 tháng đến 1 năm.

Căn cứ vào tính chất của tỷ giá:

Tỷ giá danh nghĩa là chỉ số thể hiện giá trị của đồng tiền mà không xem xét sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước trong bối cảnh thương mại quốc tế.

Tỷ giá thực tế là tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh dựa trên mức giá tương đối giữa các quốc gia, phản ánh sức mua thực tế và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa quốc gia.

Căn cứ vào phương tiện thanh toán:

- Tỷ giá điện hối: tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện, là cơ sở xác định các loại tỷ giá khác

- Tỷ giá thư hối: tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư.

Trong các nước kém phát triển, cơ chế quản lý ngoại hối dẫn đến sự hình thành của thị trường chợ đen bên cạnh thị trường ngoại hối chính thức Tỷ giá ngoại hối được phân chia thành tỷ giá chính thức, do ngân hàng trung ương quy định, và tỷ giá chợ đen, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu ngoại hối.

Căn cứ vào hoạt động thanh toán ngoại thương:

Tỷ giá xuất khẩu được xác định bằng cách tính tỷ số giữa giá bán hàng xuất khẩu theo điều kiện F.O.B bằng ngoại tệ và giá bán buôn xí nghiệp cộng với thuế xuất khẩu tính bằng nội tệ.

Chính sách tỷ giá hối đoái

1 2.1 Khái niệm chính sách tỷ giá hối đoái

Chính sách tỷ giá là tập hợp các nguyên tắc và công cụ mà nhà nước sử dụng để điều chỉnh tỷ giá trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm đạt được các mục tiêu trong chiến lược phát triển quốc gia.

Chính phủ các nước quản lý tỷ giá hối đoái với mục tiêu ổn định tỷ giá trong một biên độ nhất định, góp phần vào ổn định thương mại, đầu tư và cán cân thanh toán quốc tế Việc này giúp chủ động kiểm soát luồng vốn, đồng thời hỗ trợ thực hiện các chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, đảm bảo sự ổn định của dự trữ quốc gia để thực hiện nghĩa vụ tài chính quốc tế.

1.2.2 Các công cụ của chính sách tỷ giá Để quản lý và điều hành tỷ giá hối đoái ở mức có lợi nhất cho nền kinh tế, chính phủ và ngân hàng nhà nước sử dụng một số công cụ Có thể chia các công cụ này thành các nhóm: a Các công cụ trực tiếp

NHNN thực hiện mua bán đồng nội tệ để duy trì tỷ giá cố định hoặc điều chỉnh tỷ giá theo mục tiêu đề ra Can thiệp trực tiếp của ngân hàng trung ương có thể làm thay đổi cung tiền, từ đó tạo ra áp lực lạm phát hoặc thiểu phát không mong muốn cho nền kinh tế Do đó, bên cạnh việc can thiệp, NHNN cần áp dụng nghiệp vụ thị trường mở để hấp thụ lượng dư cung hoặc bổ sung phần thiếu hụt tiền tệ trong lưu thông.

Nghiệp vụ thị trường mở ngoại tệ của NHNN diễn ra qua việc mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối Khi NHNN thực hiện mua ngoại tệ, cung ngoại tệ giảm, dẫn đến việc tăng tỷ giá hối đoái và ngược lại Như vậy, đây là công cụ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tỷ giá hối đoái.

Nghiệp vụ thị trường mở nội tệ của NHNN liên quan đến việc mua bán chứng từ có giá, tác động gián tiếp đến tỷ giá và trực tiếp đến các biến số kinh tế vĩ mô như lãi suất và giá cả Hình thức này được sử dụng kết hợp với nghiệp vụ thị trường mở ngoại tệ để điều tiết sự biến động cung nội tệ do các giao dịch thị trường mở gây ra.

Chính phủ có thể áp dụng các biện pháp can thiệp hành chính như kết hối, hạn chế đối tượng và mục đích sử dụng ngoại tệ, cũng như quy định số lượng và thời gian mua ngoại tệ Những biện pháp này nhằm giảm cầu ngoại tệ, hạn chế đầu cơ và duy trì sự ổn định của tỷ giá.

Lãi suất tái chiết khấu là công cụ can thiệp hiệu quả vào tỷ giá hối đoái, ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất thị trường Khi lãi suất tái chiết khấu tăng, dòng vốn quốc tế có xu hướng chảy vào trong nước, khiến người sở hữu ngoại tệ chuyển đổi sang nội tệ để thu lợi từ lãi suất cao hơn, dẫn đến tỷ giá giảm (nội tệ tăng) Ngược lại, giảm lãi suất tái chiết khấu sẽ làm tăng tỷ giá.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có thể áp dụng các biện pháp như điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với ngân hàng thương mại (NHTM) và quy định lãi suất trần không hấp dẫn cho tiền gửi bằng ngoại tệ Những biện pháp này nhằm mục đích phòng ngừa rủi ro tỷ giá, hạn chế tình trạng đầu cơ ngoại tệ và giảm áp lực lên tỷ giá khi cung cầu không cân đối.

1.2.3 Tác động của tỷ giá, chính sách tỷ giá lên hoạt động xuất nhập khẩu

Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả hàng hóa và dịch vụ xuất nhập khẩu thông qua mối quan hệ cung - cầu Khi tỷ giá giảm sức mua của đồng nội tệ, giá hàng hóa trong nước trở nên rẻ hơn so với hàng hóa nước ngoài, từ đó tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa - dịch vụ nội địa Kết quả là, cầu về xuất khẩu tăng lên, trong khi cầu về nhập khẩu giảm, dẫn đến cán cân thương mại chuyển hướng về phía thặng dư.

Khi tỷ giá hối đoái tăng giá đồng nội tệ, giá trị hàng hóa và dịch vụ của quốc gia sẽ tăng so với quốc tế, dẫn đến xuất khẩu giảm và nhập khẩu tăng Kết quả là cán cân thương mại sẽ chuyển sang trạng thái thâm hụt.

Sau khi một đồng tiền giảm giá, cán cân thương mại của một quốc gia thường xấu đi ngay lập tức, nhưng chỉ bắt đầu cải thiện sau vài tháng hoặc một năm Đôi khi, mặc dù tỷ giá hối đoái có sự biến động mạnh, nhưng cán cân thương mại lại chỉ thay đổi rất ít.

Trong lý thuyết kinh tế học quốc tế, các nhà kinh tế đã khái quát hiện tượng "tính giảm và tính trễ" thông qua đường cong "J", mô tả tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại của một quốc gia Đồ thị đường cong J thể hiện rõ ràng và thuyết phục mối quan hệ này, cho thấy rằng sự thay đổi tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đến cán cân thương mại nhưng với độ trễ nhất định.

Hình 1.2: Đồ thị hiệu ứng đường cong J - Cán cân thương mại. Đường cong J Thặng dư(+)

THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI9 VÀ TÌNH HÌNH

Giai đoạn 1992 – 1999

Ngày 20/10/1994, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng được thành lập với quy mô lớn hơn và hoạt động linh hoạt hơn, đánh dấu bước thay đổi trong chính sách điều hành tỷ giá Sự ra đời của thị trường này giúp tỷ giá hối đoái phản ánh chính xác hơn mối quan hệ cung cầu của thị trường Thông qua thị trường liên ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước nắm bắt được các tín hiệu thị trường về tỷ giá hối đoái, từ đó công bố tỷ giá chính thức hàng ngày và biên độ giao dịch cho các ngân hàng thương mại.

Từ tháng 7/1997, đồng Việt Nam đối mặt với áp lực giảm giá mạnh do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á, dẫn đến tình trạng đầu cơ và tích trữ ngoại tệ Trong giai đoạn 1997-1998, cầu ngoại tệ luôn lớn hơn cung, buộc nhà nước phải điều chỉnh tỷ giá VND/USD ba lần và nới rộng biên độ giao dịch giữa các ngân hàng thương mại và khách hàng trên thị trường ngoại tệ.

2.1.2 Tác động của tỷ giá hối đoái lên hoạt động xuất nhập khẩu

Nhìn vào bảng trên có thể thấy trong các năm từ 1992 – 1999, duy chỉ có năm

Năm 1992, Việt Nam ghi nhận thành công xuất siêu, nhưng thành tích này không kéo dài lâu Trong nửa đầu năm, xuất siêu đạt được nhờ vào tỷ giá thuận lợi cho xuất khẩu, trong khi nửa cuối năm lại chứng kiến tình trạng nhập siêu liên tục xảy ra.

Trong những năm 90, nhiều ý kiến cho rằng tỷ giá không ảnh hưởng đến hoạt động xuất-nhập khẩu và ngoại thương, mà chỉ bị chi phối bởi chiến lược phát triển ngoại thương, quản lý hạn ngạch, thuế suất và chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, thực tế cho thấy khi Bộ Thương Mại và các cơ quan chức năng nỗ lực củng cố và mở rộng thị trường xuất khẩu, cũng như đầu tư vào công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, kim ngạch xuất khẩu vẫn giảm sút.

Năm 1994, kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 36% trong bối cảnh giảm giá danh nghĩa nội tệ 2,96% Tuy nhiên, sang năm 1995, mức tăng xuất khẩu chỉ đạt khoảng 34% do tỷ giá giảm rất thấp, chỉ ở mức 0,14%.

Dựa trên số liệu từ bảng 2.1, tỷ giá ổn định trong biên độ +/- 0,5% giai đoạn 1993 - 1996 đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu, dẫn đến việc nhập siêu tăng gần gấp đôi trong năm 1993 và 1994 Năm 1996, khi tỷ giá danh nghĩa bị ấn định cao hơn 28% so với tỷ giá thực, nhập siêu đạt kỷ lục 3,8 tỷ đô la Trung bình giai đoạn 1994 - 1996, mỗi 1 đồng tăng giá nội tệ khiến hàng nhập khẩu giảm giá 1,4 đồng, trong khi xuất khẩu giảm 1,3 đồng, cho thấy tác động tiêu cực của tỷ giá hối đoái lên ngoại thương Việt Nam Tỷ giá tăng đã làm chậm tốc độ xuất khẩu, gia tăng nhập siêu và gây tổn hại cho sản xuất trong nước.

Bảng 2.1: Xuất-nhập khẩu Việt Nam trong tương quan với tỷ giá giai đoạn 1992-1999

Tỷ giá chính thức Xuất khẩu Nhập khẩu Cán cân thương mại Hệ số co giãn (USD/VND)

Năm Kim % Kim % Thâm Xuất Nhập

Mức %Tăng, ngạch % Tăng, ngạch Tăng, Tăng, hụt (triệu khẩu khẩu tỷ giá giảm (triệu giảm

(tr USD) giảm USD) giảm USD) (η x ) (η n )

Tăng tỷ giá có xu hướng ưu ái cho hàng nhập khẩu, khi tỷ giá danh nghĩa cao hơn tỷ giá thực làm giảm giá hàng nhập khẩu Cụ thể, giá đô la giảm 12,5% từ 12.000 vào tháng 1/1993 xuống 10.600 vào cuối năm, khiến hàng nhập khẩu rẻ hơn 12,5% Nếu lấy năm 1992 làm mốc, đồng Việt Nam đã tăng giá 24% trong giai đoạn 1993 – 1995, dẫn đến giá hàng xuất khẩu tăng 24% trên các thị trường quốc tế.

Hình 2.1 : Diễn biến tỷ giá USD/VND giai đoạn 1992 -1999

8,000 Tỷ giá USD/VND g iá 6,000

Việc đồng Việt Nam tăng giá so với đồng Đô la đã dẫn đến sự gia tăng giá trị của nó so với các đồng tiền khác như Nhân dân tệ và Yên Nhật, gây khó khăn trong việc mở rộng thị trường Tuy nhiên, nhờ vào các hoạt động xúc tiến thị trường mạnh mẽ để giới thiệu sản phẩm Việt Nam ra nước ngoài, quy mô thị trường không những không bị thu hẹp mà còn ngày càng mở rộng Do đó, trong thời kỳ này, tỷ giá không ảnh hưởng nhiều đến vấn đề xuất-nhập khẩu.

Khủng hoảng giai đoạn 1997 – 1998 đã làm thay đổi quan điểm điều hành tỷ giá của Việt Nam, buộc Ngân hàng Trung Ương điều chỉnh tỷ giá đồng Việt Nam Chỉ trong một năm, đồng Việt Nam đã giảm giá 16%, giúp thu hẹp khoảng cách giữa tỷ giá thực và tỷ giá danh nghĩa, tác động tích cực đến ngoại thương Kim ngạch nhập khẩu chỉ tăng 4%, giảm mức nhập siêu xuống 2,4 tỷ đô la so với 3,8 tỷ năm 1997, và đặc biệt, năm 1999, mức nhập siêu chỉ còn khoảng 200 triệu đô la.

Mặc dù đồng Việt Nam vẫn giữ giá tương đối cao so với các đồng tiền của những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề bởi khủng hoảng, nhưng tỷ lệ mất giá trung bình chỉ ở mức 8,25%, trong khi các đồng tiền khác như Rupiah Indonesia mất giá hơn 80% và đô la Singapore giảm 16% Điều này đã tạo ra khó khăn cho hàng hóa Việt Nam trong việc cạnh tranh trên thị trường Đông Nam Á, dẫn đến lượng xuất khẩu không tăng đáng kể trong năm 1998, với tốc độ tăng xuất khẩu chỉ đạt 1,9%.

Tác động tích cực của tỷ giá lên hoạt động ngoại thương trong giai đoạn này đã giúp cân bằng mối quan hệ giữa xuất khẩu, tỷ giá và nhập khẩu Nhập khẩu được kiểm soát hiệu quả, trong khi xuất khẩu trở nên chủ động hơn trên các thị trường mới Thời kỳ 1997-1999 có thể được coi là một giai đoạn thành công trong việc điều hành tỷ giá tại Việt Nam.

Thời kỳ 2000-2010

Trong 10 năm từ 2000 đến 2010, nền kinh tế Việt Nam vượt qua được khủng hoảng tài chính tiền tệ tại châu Á, từng bước hội nhập sau hơn vào nền kinh tế thế giới. Đặc biệt với sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại quốc tế WTO năm 2005, nền kinh tế Việt Nam mới có cơ hội thử sức mình tại sân chơi cởi mở hơn Cùng với những cam kết về tự do hóa thương mại mà chính phủ Việt Nam đã kí trong các vòng đàm phán, các rào cản đối với hàng nhập khẩu dẫn dỡ bỏ, hàng hóa 150 nước thành viên vào thị trường Việt Nam thuận lợi hơn và hàng xuất khẩu của Việt Nam cũng có nhiều cơ hội xuất ra thị trường rộng lớn.

Việt Nam áp dụng chính sách quản lý tỷ giá "thả nổi có sự điều tiết của nhà nước", trong đó nhà nước quản lý thông qua tỷ giá bình quân thị trường liên ngân hàng và biên độ dao động cho phép Mỗi ngày giao dịch, Ngân hàng Nhà nước ấn định tỷ giá bình quân, từ đó các ngân hàng thương mại sẽ công bố tỷ giá mua bán ngoại tệ trong phạm vi biên độ này Sự biến động của đồng Việt Nam được đánh giá dựa trên tỷ giá bình quân do Ngân hàng Nhà nước quy định, phản ánh sự quản lý của nhà nước đối với tỷ giá giao dịch.

Hình 2.2: Biến động tỷ giá 2000-2010 1 tỷ giá 2000-2010

Từ năm 1999, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam duy trì biên độ dao động tỷ giá ở mức 1% Tuy nhiên, đến tháng 3 năm 2008, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ, tỷ giá bán ra tại các ngân hàng thương mại luôn ở mức trần Để ứng phó với tình hình này, Ngân hàng Nhà nước quyết định tăng biên độ giao động lên 3% Mặc dù vậy, quyết định này chỉ giúp giảm bớt căng thẳng trên thị trường ngoại tệ cho đến tháng 3 năm 2009.

1 lần nữa biên độ dao động lại được diều chỉnh tăng thêm 2% lên mức 5% kèm theo đó, tỷ giá bình quân liên ngân hàng cũng được điều chỉnh tăng 3,4%.

Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện các can thiệp mạnh tay nhằm tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại (NHTM) chủ động hơn trong việc niêm yết tỷ giá Tuy nhiên, trong năm 2009 và 2010, tỷ giá của các NHTM đã liên tục đạt mức kịch trần Để ứng phó, nhà nước đã hạ biên độ giao động và tăng tỷ giá liên ngân hàng, hiện tại biên độ dao động cho phép đang ở mức 1%.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nhập siêu của Việt Nam trong giai đoạn 2007-2008 là do cơ cấu hàng xuất khẩu mất cân đối và hàm lượng chế biến thấp, trong khi đó, lượng hàng hóa tiêu dùng nhập khẩu lại cao Điều này đã tạo ra áp lực lớn về nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu Để giải quyết vấn đề ngoại tệ và hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu, Ngân hàng Nhà nước đã cho phép các ngân hàng thương mại cho vay ngoại tệ, giúp doanh nghiệp chuyển đổi sang VND để mua hàng hóa trong nước Tuy nhiên, khi các khoản vay này đến hạn, nó lại tạo thêm sức ép lên thị trường ngoại tệ.

Ngân hàng nhà nước kiểm soát chặt chẽ thị trường ngoại tệ tại các ngân hàng thương mại nhưng lại để thị trường tự do hoạt động tự do Điều này đã tạo ra tâm lý đầu cơ, khiến các doanh nghiệp xuất khẩu giữ ngoại tệ trong tài khoản và cá nhân tích trữ ngoại tệ từ thị trường tự do Kết quả là, tỷ giá niêm yết tại ngân hàng thương mại và tỷ giá trên thị trường tự do đã có sự chênh lệch đáng kể, có thời điểm lên tới hàng nghìn điểm.

Khi tự do hóa thương mại diễn ra và kim ngạch hàng hóa trao đổi gia tăng, chính phủ cần thận trọng trong việc quản lý tỷ giá Điều này không chỉ nhằm thúc đẩy kim ngạch xuất nhập khẩu mà còn phải đảm bảo cân bằng cán cân thương mại.

Tổng hợp bảng số liệu về tỷ giá hối đoái của Việt Nam và tình hình xuất nhập khẩu giai đoạn 2001-2010:

Bảng 2.2: Xuất-nhập khẩu Việt Nam trong tương quan với tỷ giá giai đoạn 2000-2010

Tỷ giá chính thức Xuất khẩu Nhập khẩu Cán cân thương mại

Năm Mức tỷ Kim Kim % Giá trị

% Tăng, ngạch % Tăng, ngạch % Tăng, giá giảm (triệu giảm (triệu Tăng, (triệu giảm

(đồng) USD) USD) giảm USD)

Tỷ giá chính thức Xuất khẩu Nhập khẩu Cán cân thương mại (USD/VND)

Năm Mức tỷ Kim Kim % Giá trị

% Tăng, ngạch % Tăng, ngạch % Tăng, giá giảm (triệu giảm (triệu Tăng, (triệu giảm

(Nguồn: Tổng hợp trên số liệu của Ngân hàng Á châu và Tổng cục thống kê)

Trong 5 năm từ 2001 đến 2005, khi Việt Nam chưa thành thành viên WTO, tỷ giá đồng VND được duy trì ở mức tương đối ổn định, theo đó kim ngạch xuất khẩu cũng được duy trì ở mức tăng đều tuy nhiên cán cân thương mại vẫn bị thâm hụt trong khoảng 4 đến 5 tỷ đô la Mỹ Mức thâm hụt này phản ánh đúng nhu cầu và phù hợp với thực trạng phát triển kinh tế của Việt Nam.

Sau năm 2005, đặc biệt là từ cuối năm 2006 đến năm 2007, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam đã tăng mạnh, chủ yếu do việc mở cửa nền kinh tế dẫn đến hàng hóa nhập khẩu tràn vào thị trường, trong khi xuất khẩu chưa có sự bứt phá Kết quả là thâm hụt cán cân thương mại đạt mức kỷ lục, tăng 195,42% so với năm 2006, gây ra sự suy giảm nghiêm trọng trong lượng dự trữ ngoại tệ của Việt Nam.

Sang năm 2009, chính phủ 2 lần điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng và đến cuối năm 2010 Đồng VND bị giảm giá liên tục 8.3% năm 2009 và 7.3% năm 2010.

Số liệu cho thấy tỷ lệ tăng giá đồng Việt Nam có độ nhạy thấp với sự thay đổi trong cán cân thương mại Cụ thể, trong năm 2009, khi đồng Việt Nam giảm giá 8.3%, cán cân thương mại cải thiện 28.7%, nhưng năm 2010, với mức giảm giá 7.3%, cán cân chỉ cải thiện 1.9% Điều này cho thấy tác động không đồng nhất của thay đổi tỷ giá lên kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại, cho thấy rằng những thay đổi về tỷ giá của ngân hàng nhà nước và thị trường ngoại hối chưa hỗ trợ hiệu quả cho xuất nhập khẩu và cán cân thương mại của Việt Nam.

Giai đoạn 2000-2010, nền kinh tế Việt Nam hoạt động trong môi trường tự do cạnh tranh, ảnh hưởng đến chính sách tỷ giá hối đoái Mặc dù có sự thay đổi trong chính sách tỷ giá, tác động đến xuất nhập khẩu và cán cân thương mại vẫn chưa tương xứng với vai trò của nó trong nền kinh tế mở Chính sách tỷ giá hối đoái tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào việc ổn định tình hình tiền tệ, chưa phát huy đầy đủ vai trò như một công cụ hỗ trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu.

Trong thời gian tới, nhà nước sẽ áp dụng các biện pháp đồng bộ cùng với các công cụ quản lý khác để thay đổi cơ cấu xuất nhập khẩu, tăng cường dự trữ ngoại tệ và điều hành chính sách tỷ giá theo hướng tích cực hơn.

Thời kỳ 2011 - nay

1 Năm 2011 – tỷ giá phân đoạn

Tình hình tỷ giá hiện nay được chia thành hai phần: một bên là sự căng thẳng với những đợt điều chỉnh giá mạnh mẽ chưa từng có và các biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt từ Ngân hàng Nhà nước; bên còn lại là cam kết giữ mức điều chỉnh không vượt quá 1% trong năm nay.

Vào ngày 11/02/2011, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên 20.693 VND/USD, tăng 9,3% so với mức 18.932 VND/USD trước đó và giảm biên độ xuống còn +/-1% Việc duy trì tỷ giá không còn khả thi do chênh lệch lớn giữa hai thị trường liên ngân hàng và tự do, cùng với áp lực lạm phát và tâm lý người dân giữ USD NHNN đã tuyên bố mức phá giá cao nhất trong lịch sử, nhưng nỗ lực này không mang lại kết quả ngay lập tức, khi tỷ giá thị trường tự do đã tăng vọt lên trên 22.100 VND/USD chỉ trong vài ngày sau đó.

Sau khi điều chỉnh tỷ giá vào tháng 02, tỷ giá USD đã duy trì ổn định trong nhiều tháng Tuy nhiên, đến cuối tháng 6, nhiều ngân hàng thương mại đã niêm yết giá USD bán ra ở mức tối đa cho phép, và trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá có lúc đã đạt đến 19.150 Sự biến động này chủ yếu là do tác động từ giá vàng.

Trong tháng 10, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thực hiện 14 lần điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng, đưa tỷ giá trần vượt mốc 21.000 Đến cuối tháng, tỷ giá này vẫn được giữ nguyên Qua các lần điều chỉnh, tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND và USD đã tăng 0.85% so với thông điệp của NHNN về việc điều chỉnh không quá 1% đến cuối năm (ngày 07/09/2011).

Vào ngày 14/12, tỷ giá bình quân liên ngân hàng USD/VND đã tăng 0.05%, nâng tổng mức tăng lên 0.9% kể từ ngày 07/09/2011, vẫn nằm trong phạm vi cam kết của Thống đốc Sự can thiệp vào thị trường vàng, với việc bán ra khoảng 1.5-1.8 tỷ USD, đã hỗ trợ thị trường, giúp kiểm soát giá vàng và làm giảm áp lực lên tỷ giá USD/VND.

2 Năm 2012 - tỷ giá khá ổn định

Năm 2012 chứng kiến sự phân hóa rõ rệt trong tỷ giá VND/USD, với xu hướng tăng nhẹ trong nửa đầu năm và điều chỉnh giảm trong 6 tháng cuối năm Hiện tượng này trái ngược với diễn biến tỷ giá trên thị trường trong các năm biến động trước đó, đặc biệt là năm 2008.

2011) khi tỷ giá luôn biến động theo chiều hướng tăng dần từ đầu năm đến cuối năm.

Trong năm 2012, diễn biến tỷ giá USD/VNĐ không tuân theo quy luật biến động mạnh vào những tháng cuối năm, với sự chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do không còn cao như trước Cuối tháng 8 và đầu tháng 9, tỷ giá tự do có sự gia tăng đáng kể, nhưng nhanh chóng trở lại gần với tỷ giá chính thức, phản ánh sự điều hành hiệu quả của thị trường ngoại hối trong năm này.

Kết quả đạt được trong năm 2012 là nhờ sự kết hợp linh hoạt các biện pháp điều hành chính sách tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước, nhằm ổn định thị trường ngoại tệ Các biện pháp này được phân thành hai nhóm: nhóm tác động trực tiếp và nhóm tác động gián tiếp lên tỷ giá VND/USD.

Trong năm 2012, NHNN đã thực hiện một số biện pháp tác động trực tiếp nhằm ổn định tỷ giá liên ngân hàng, với tỷ giá bình quân được ấn định ở mức 20.828 Để củng cố dự trữ ngoại hối, NHNN đã mua ròng 10 tỷ USD trên thị trường ngoại hối Đồng thời, ngân hàng cũng kiểm soát tín dụng ngoại tệ bằng cách siết chặt các khoản vay bằng ngoại tệ, yêu cầu điều kiện nghiêm ngặt hơn đối với những khách hàng không có nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh để đảm bảo khả năng trả nợ.

- Nhóm biện pháp tác động gián tiếp: o Đ iều chỉnh lãi suất chiết khấu: lãi suất chiết khẩu được điều chỉnh 6 lần trong năm

Năm 2012, tỷ lệ giảm từ 13% xuống còn 7%, trong đó các tổ chức tín dụng (TCTD) đã điều chỉnh trạng thái ngoại tệ từ +/- 30% xuống +/- 20% vốn tự có Cùng với đó, quản lý thị trường vàng được siết chặt với những đổi mới cơ bản trong hoạt động quản lý và kinh doanh vàng miếng, giao quyền quản lý thống nhất cho Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đại diện cho Chính phủ Hoạt động mua, bán vàng miếng chỉ được thực hiện tại các TCTD và doanh nghiệp được NHNN cấp phép, đồng thời, cơ sở pháp lý để kiểm soát thị trường vàng được hoàn thiện dần, chấm dứt hoạt động huy động và cho vay bằng vàng từ ngày 25/11/2012.

 Kiểm soát, trấn áp thị trường ngoại hối tự do

 Đẩy mạnh công tác truyền thông về các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng

 Đưa ra cam kết điều chỉnh tỷ giá giữ ổn định không vượt quá mức 2%-3% trong năm

2012 để trấn áp tâm lý người dân

Sử dụng biện pháp hành chính nhằm tập trung nguồn ngoại tệ vào hệ thống các tổ chức tín dụng sẽ tạo điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ hợp pháp và hợp lý của nền kinh tế, từ đó hỗ trợ công tác điều hành tỷ giá hiệu quả hơn.

Trong năm 2012, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thực hiện đồng thời và linh hoạt các biện pháp điều hành chính sách tỷ giá, nhờ vào diễn biến thuận lợi của cán cân thương mại và cán cân tổng thể, hỗ trợ cho các cam kết của ngân hàng Bên cạnh đó, các quy định và biện pháp kiểm soát chặt chẽ thị trường vàng đã giảm thiểu tác động tiêu cực của biến động thị trường này đối với thị trường ngoại hối tự do.

3 Những biến động từ quý II/2013

Sự ổn định của tỷ giá được kéo dài đến hết quý I/2013 Nhưng, sang đầu quý II/2013, thị trường đã có những biến động Cụ thể;

Từ cuối tháng 4 đến cuối tháng 6 năm 2013, nhiều ngân hàng thương mại đã nâng giá USD lên mức tối đa 21.036 VND cho 1 USD, trong khi giá bán USD trên thị trường tự do đã lên tới 21.320 VND Trước áp lực này và các diễn biến kinh tế vĩ mô khác, Ngân hàng Nhà nước đã quyết định điều chỉnh tăng tỷ giá liên ngân hàng thêm 1% từ ngày 28/6/2013, dẫn đến việc các ngân hàng thương mại đồng loạt điều chỉnh tăng tỷ giá mua - bán ngoại tệ.

- Sau đợt điều chỉnh đó, bắt đầu từ đầu tháng 7/2013, tại các NHTM, tỷ giáVND/USD được niêm yết phổ biến ở mức từ 21.110-21.140 VND/USD (mua vào) và

21.220-21.230 VND/USD (bán ra), tăng từ 5-20 VND/USD so với ngày 28/6/2013 và tăng bình quân 1% so với trước ngày 28/6/2013.

Cuối tháng 6 và đầu tháng 7/2013, giá USD trên thị trường tự do có sự biến động đáng chú ý Cụ thể, vào sáng ngày 1/7/2013, tỷ giá VND/USD tại Hà Nội được niêm yết ở mức 21.380 - 21.430 VND/USD (mua vào - bán ra), tăng 30 đồng ở giá mua vào và giảm 20 đồng ở giá bán ra so với chiều 28/6/2013 Đến ngày 8/7/2013, tỷ giá tiếp tục tăng lên 21.800 VND/USD.

Trong hơn 2 năm qua, chính sách tỷ giá hối đoái của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã đi đúng hướng, đóng góp tích cực vào việc ổn định thị trường ngoại hối và kinh tế vĩ mô.

2 3.2 Tác động của chính sách tỷ giá đến tình hình xuất nhập khẩu

Đánh giá chung

Trong những năm qua, xuất - nhập khẩu của Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, góp phần vào sự phát triển kinh tế đất nước Kim ngạch xuất - nhập khẩu tăng trưởng với tốc độ cao và đa dạng về mặt hàng, đồng thời thị trường xuất khẩu ngày càng mở rộng Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu vượt xa tốc độ tăng trưởng GDP, với tỷ lệ xuất khẩu/GDP cho thấy xuất khẩu là động lực chính cho sự tăng trưởng kinh tế.

Bên cạnh những thành công, tình hình xuất - nhập khẩu Việt Nam đang bộc lộ những bất cập.

Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của nước ta bao gồm sản phẩm gia công và nguyên liệu thô, trong đó dầu thô, than đá, quặng và khoáng sản chiếm tỷ trọng lớn Ngoài ra, nông, lâm, thủy sản chưa qua chế biến hoặc mới sơ chế cũng đóng góp đáng kể vào tổng kim ngạch xuất khẩu, cùng với hàng gia công và lắp ráp.

Từ nửa cuối năm 2011 đến hết năm 2012, điện thoại và linh kiện điện tử luôn đóng vai trò chủ lực trong các nhóm hàng xuất khẩu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Trong những tháng đầu năm 2013, điện tử và dệt may vẫn là hai mặt hàng dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Sự chuyển dịch này cho thấy cơ cấu hàng xuất khẩu đang dần chuyển từ nguyên liệu thô sang các sản phẩm gia công.

Giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu Việt Nam vẫn còn thấp, chủ yếu tập trung vào nhóm hàng hóa cơ bản và ngành thâm dụng lao động Mặc dù Việt Nam chiếm lĩnh thị trường toàn cầu, xu hướng tăng trưởng đang chậm lại, và ngành này dễ bị ảnh hưởng bởi sự cạnh tranh từ các đối thủ mới với chi phí lao động thấp.

Nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, dù có kim ngạch lớn, vẫn thiếu thương hiệu riêng và thường phải xuất khẩu qua đối tác khác, dẫn đến giá bán thấp hơn so với sản phẩm tương tự từ các quốc gia khác.

Giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam còn thấp do phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và lao động giá rẻ, trong khi chất lượng và hiệu quả xuất khẩu chưa được chú trọng Việt Nam chưa tận dụng hiệu quả lợi thế cạnh tranh từ công nghệ, trình độ lao động và quản lý để phát triển các sản phẩm xuất khẩu có tính cạnh tranh cao, từ đó tham gia vào việc tạo ra giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Mở rộng xuất khẩu tại Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, suy giảm đa dạng sinh học và ô nhiễm môi trường Tăng trưởng xuất khẩu hiện nay chủ yếu dựa vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên và sử dụng nhiều yếu tố đầu vào gây ô nhiễm.

Việt Nam đang đối mặt với tình trạng nhập siêu lớn từ các thị trường gần, chủ yếu là hàng hóa không phải công nghệ nguồn và có kỹ thuật thấp Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc và ASEAN không chỉ bao gồm nguyên phụ liệu mà còn cả công nghệ sản xuất lạc hậu, điều này gây khó khăn cho việc tăng năng suất trong tương lai Hệ quả là Việt Nam khó có thể nhanh chóng theo đuổi giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời dễ rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Khối đầu tư nước ngoài tiếp tục chiếm ưu thế trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nhờ vào lợi thế cạnh tranh và thị trường ổn định, trong khi nhiều doanh nghiệp nội địa đang gặp khó khăn và suy yếu Tình hình này phản ánh rõ ràng sức khỏe và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước đang gặp nhiều vấn đề.

Trong giai đoạn 1994-2011, Việt Nam đã trải qua tình trạng xuất siêu không bền vững, với giá trị nhập khẩu luôn vượt trội hơn so với xuất khẩu Một vấn đề nghiêm trọng là thâm hụt thương mại ngày càng gia tăng theo thời gian.

Năm 2012, Việt Nam lần đầu tiên xuất siêu sau gần 20 năm, tuy nhiên, khả năng xuất siêu này không bền vững do những hạn chế trong mô hình kinh tế Nguyên nhân chính dẫn đến xuất siêu năm 2012 là do năng lực sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu kém, cùng với việc giảm mạnh nhập khẩu nguyên, vật liệu sản xuất.

Tỷ giá, lạm phát và chính sách thương mại là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu của một quốc gia, trong đó tỷ giá được coi là nhân tố chính Khi đồng nội tệ tăng giá, hàng hóa trong nước trở nên đắt hơn so với hàng hóa nước ngoài, dẫn đến việc khuyến khích nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu, làm giảm xuất khẩu ròng Ngược lại, khi đồng nội tệ giảm giá, xuất khẩu sẽ được thúc đẩy và nhập khẩu sẽ bị hạn chế Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của tỷ giá đến khả năng xuất khẩu của Việt Nam còn hạn chế, vì hàng xuất khẩu chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố như thị trường, công nghệ, tiếp thị và uy tín của nhà sản xuất hơn là tỷ giá hối đoái.

Hiện nay, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu bao gồm các mặt hàng như điện thoại di động, điện tử máy tính, dệt may và da giày, với kim ngạch xuất khẩu lớn Tuy nhiên, phần lớn linh phụ kiện cho những sản phẩm này đều phải nhập khẩu để gia công tại Việt Nam Do đó, khi tỷ giá tăng, giá thành các sản phẩm và linh kiện nhập khẩu sẽ tăng theo, gây khó khăn cho khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu.

Bảng 2.3: Tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam (% )

Doanh nghiệp FDI tại Việt Nam đóng góp tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu, chủ yếu thông qua việc tận dụng lao động giá rẻ và lắp ráp linh kiện nhập khẩu Ví dụ, Samsung Vina nhập khẩu 100% linh kiện từ Trung Quốc để sản xuất điện thoại thông minh Galaxy, chỉ tạo ra khoảng 10% giá trị gia tăng trong tổng số 12 tỷ USD xuất khẩu năm 2012 Dự báo xuất khẩu của Samsung Vina sẽ vượt 20 tỷ USD vào năm 2013 Đối với các doanh nghiệp FDI này, việc điều chỉnh tỷ giá ít ảnh hưởng đến kết quả hoạt động, vì giá linh kiện nhập khẩu tăng tương ứng mà giá trị gia tăng nội địa không tăng theo.

CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI LÊN HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT N AM 24 3.1 Căn cứ lựa chọn các giải pháp

Các giải pháp

3.2.1 Nhóm giải pháp đối với hoạt động của NHNN:

Sự thành công và lợi ích của việc ổn định tỷ giá đã được chứng minh trong năm 2012, vì vậy giải pháp tối ưu là Ngân hàng Nhà nước giữ tỷ giá VND/USD ổn định như năm 2012 hoặc chỉ tăng từ 1-1,5% trong năm 2013 Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cần tăng cường quản lý các đối tượng bán hàng thu bằng ngoại tệ trong nước và kiểm soát chặt chẽ việc vay và trả nợ nước ngoài của Chính phủ cũng như doanh nghiệp.

Cần nâng cao tính minh bạch và nhất quán trong các chính sách can thiệp của Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ để quản lý hiệu quả chính sách tiền tệ và tỷ giá Sự ổn định của tỷ giá và thị trường ngoại hối trong năm 2011 và 2012 đã chứng minh hiệu quả của các biện pháp hành chính kết hợp trong quản lý chính sách tỷ giá.

Ngân hàng Nhà nước cần thiết lập quy chế thông tin và thống kê để hệ thống hóa kịp thời số liệu về luồng ngoại tệ vào và ra khỏi nước Việc này sẽ giúp dự báo quan hệ cung - cầu trên thị trường, từ đó làm cơ sở cho việc điều hành chính sách tỷ giá và quản lý ngoại hối hiệu quả.

Cần tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành để nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra và giám sát thị trường ngoại tệ và vàng Việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm là cần thiết nhằm giảm thiểu tình trạng “đô la hóa” và “vàng hóa” nền kinh tế, đồng thời xóa bỏ hoạt động của thị trường ngoại tệ tự do.

NHNN cần nới rộng biên độ tỷ giá USD/VND để khuyến khích xuất khẩuTiếp tục xây dựng phương pháp tính tỷ giá theo “rổ tiền tệ”

Để nâng cao hiệu quả bảo hiểm rủi ro hối đoái, cần mở rộng các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối và triển khai các dịch vụ bảo hiểm tiền gửi, đồng thời bảo hiểm biến động tỷ giá tại tất cả các ngân hàng thương mại.

Tiến hành thiết lập các mối quan hệ hợp tác tiền tệ với các quốc gia trên thế giới.

Hợp tác tiền tệ giúp Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đứng vững trước biến động bất ngờ nhờ sự hỗ trợ từ các quốc gia khác NHNN có khả năng thực hiện hoán đổi ngoại tệ với các ngân hàng trung ương toàn cầu, cho phép mượn tạm thời dự trữ ngoại tệ để ổn định tỷ giá trong tình huống khẩn cấp, giải quyết nợ nần và cân bằng cán cân thanh toán Tuy nhiên, để thực hiện điều này, NHNN cần sự hỗ trợ từ Chính phủ trong việc ký kết thỏa thuận hoán đổi ngoại tệ với các quốc gia khác, nhằm đa dạng hóa dự trữ ngoại tệ chính thức.

NHNN nên xem xét việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ

Dự trữ bắt buộc cao sẽ hạn chế khả năng bán ngoại tệ và cho vay tiền gửi ngoại tệ của các ngân hàng thương mại (NHTM), dẫn đến giảm lợi nhuận kinh doanh Sự giảm sút tiền gửi bằng ngoại tệ ra nước ngoài ảnh hưởng đến khả năng mở rộng vốn và cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp trong nước, từ đó tác động tiêu cực đến hoạt động đầu tư và xuất-nhập khẩu.

Giải pháp tiếp theo là hạ lãi suất nội tệ.

Lãi suất tiền đồng tăng cao đã khiến doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn trong việc vay vốn đầu tư sản xuất, buộc nhiều doanh nghiệp phải giảm vay và hạn chế hoạt động kinh doanh để cân bằng chi phí và lợi nhuận Hệ quả là tiêu dùng giảm, đầu tư cho sản xuất hàng xuất khẩu bị thu hẹp, gây tổn hại đến nền kinh tế Giải pháp hạ lãi suất sẽ kích thích tiêu dùng, tăng cầu đầu tư, tạo điều kiện cho tái sản xuất mở rộng và giúp giá VND vận động phù hợp với xu thế tỷ giá toàn cầu.

Giải pháp cuối cùng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ ngân hàng là cải thiện hiểu biết về nghiệp vụ và kết hợp hiệu quả giữa các yếu tố chiến thuật và chiến lược Mặc dù việc thực hiện giải pháp này có thể tốn kém về thời gian và chi phí, nhưng nếu được triển khai hiệu quả, nó sẽ mang lại những kết quả tích cực cho nền kinh tế.

3.2.2 Giải pháp đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu:

Doanh nghiệp xuất nhập khẩu đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy hoạt động ngoại thương Mọi giải pháp phát triển ngoại thương sẽ không hiệu quả nếu các doanh nghiệp không hoạt động tích cực Do đó, cần xem xét các giải pháp về tỷ giá để hỗ trợ sự phát triển này.

Cân nhắc kỹ lưỡng trong việc lựa chọn đồng tiền, tỷ giá thanh toán.

Việc lựa chọn đồng tiền thanh toán là yếu tố quan trọng quyết định doanh thu doanh nghiệp Các doanh nghiệp ngoại thương nên thanh toán bằng đồng tiền có xu hướng xuống giá khi nhập khẩu, và đồng tiền có xu hướng lên giá khi xuất khẩu Cần tránh những đồng tiền có biến động thất thường, không theo chu kỳ hoặc thuộc các quốc gia đang bất ổn về chính trị.

Các doanh nghiệp cần xem xét kỹ lưỡng việc áp dụng tỷ giá nào khi thanh toán, bao gồm tỷ giá giao ngay, tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá SWAP Để thực hiện điều này hiệu quả, doanh nghiệp cần có đội ngũ chuyên gia am hiểu về biến động tiền tệ và có khả năng dự báo chính xác Việc lựa chọn loại tỷ giá phù hợp cho từng hợp đồng xuất-nhập khẩu không chỉ giúp tối ưu hóa lợi nhuận mà còn giảm thiểu rủi ro tài chính cho doanh nghiệp.

Nhiều doanh nghiệp mới vào thị trường thường cố định tỷ giá trong hợp đồng, dẫn đến việc bỏ lỡ lợi nhuận tiềm năng từ biến động tỷ giá Tuy nhiên, với những hạn chế của tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá SWAP hiện nay, nhiều doanh nghiệp chưa chú trọng đến vấn đề này Để hội nhập và phát triển bền vững, các doanh nghiệp cần xem xét và điều chỉnh cách tiếp cận của mình đối với biến động tỷ giá một cách nghiêm túc hơn.

Tiến hành đa dạng hóa ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi

Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nên đa dạng hóa tài khoản tiền gửi để giảm thiểu rủi ro từ sự biến động của hệ thống tiền tệ toàn cầu Việc phụ thuộc vào một đồng tiền duy nhất có thể gây ra những nguy cơ lớn Hơn nữa, việc đa dạng hóa ngoại tệ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí mua ngoại tệ nhập khẩu, đồng thời sử dụng các ngoại tệ cần thiết đã có sẵn trên tài khoản Điều này không chỉ giảm bớt chi phí mà còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất.

Tham gia bảo hiểm rủi ro tỷ giá

Ngoài các giải pháp liên quan đến tỷ giá để đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu các doanh nghiệp cần chú trọng các giải pháp như:

Tìm hiểu kỹ lưỡng đối tác trước khi ký kết hợp đồng xuất-nhập khẩu

Tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp trên cơ sở thành lập các liên hiệp doanh nghiệp

Thực hiện đa dạng hóa thị trường xuất khẩung.

Liên kết chặt chẽ với người sản xuất hàng xuất khẩu nhằm đảm bảo có được nguồn hàng xuất khẩu trong thời gian cần thiết

Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, tự quảng bá, giới thiệu thương hiệu sản phẩm

Ngày đăng: 10/02/2022, 18:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Trần Thị Lương Bình (2013). Chính sách tỷ giá và những vấn đề đặt ra, Tạp chí Tài chính,số 2/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tài chính
Tác giả: Trần Thị Lương Bình
Năm: 2013
4. Hạ Thị Thiều Dao, Phạm Thị Tuyết Trinh (2012). Chênh lệch tỷ giá hối đoái thực đa phương và tỷ giá thực đa phương cân bằng của Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng, số 17/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Ngânhàng
Tác giả: Hạ Thị Thiều Dao, Phạm Thị Tuyết Trinh
Năm: 2012
5. Tô Kim Ngọc, Lê Thị Tuấn Nghĩa (2012). Cơ chế tỷ giá và chính sách mục tiêu lạm phát, Tạp chí Ngân hàng, số 21/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Ngân hàng
Tác giả: Tô Kim Ngọc, Lê Thị Tuấn Nghĩa
Năm: 2012
6. Lê Đăng Doanh (2013). Tăng tỷ giá: Đừng quá lạc quan, Báo Người Lao động điện tử, truy cập từ http://nld.com.vn/2013070609225548p0c1014/tang-ti-gia-dung-qua-lac-quan.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Người Lao động điện tử
Tác giả: Lê Đăng Doanh
Năm: 2013
7. Website của Ngân hàng nhà nước: http://www.sbv.gov.vn 8. Website của Tổng cục thống kê: www.gso.gov.vn Link
1. TS. M ai Thu Hiền, Slide bài giảng Tài chính quốc tế, 2013 Khác
2. PGS. TS. Nguyễn Văn Tiến, giáo trình Tài chính quốc tế, Nhà xuất bản thống kê Khác
10. Website ngân hàng thế giới: www.worldbank.org.vn Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w