XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH
Bản chất của vấn đề
Sức khỏe là tài sản quý giá nhất của con người, và Đảng, Nhà nước ta luôn chú trọng công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, đặc biệt là bảo hiểm y tế (BHYT), nhằm giúp người dân vượt qua rủi ro bệnh tật và giảm bớt gánh nặng chi phí khám chữa bệnh Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã gửi lời chúc tốt đẹp tới toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, và người lao động trong ngành y tế và BHXH Việt Nam.
Bảo hiểm y tế, hay bảo hiểm sức khỏe, là hình thức bảo hiểm giúp người mua chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnh và thuốc men Nó tạo điều kiện cho bệnh nhân được tiếp cận dịch vụ y tế ngay cả khi không đủ khả năng tài chính Để thực hiện điều này, các cơ quan y tế cần tham gia vào hệ thống bảo hiểm, trong đó các cơ quan y tế công lập thường bắt buộc tham gia, trong khi các cơ quan y tế tư nhân được khuyến khích tham gia tùy theo quyết định của họ.
Bảo hiểm y tế là một phương thức giúp cộng đồng hỗ trợ lẫn nhau trong việc chi trả chi phí khám chữa bệnh, tuy nhiên, mức độ bao phủ của bảo hiểm y tế trên toàn quốc vẫn còn hạn chế Do đó, các chính sách được triển khai nhằm nâng cao an sinh xã hội và đảm bảo quyền lợi cho người dân trong việc tiếp cận dịch vụ y tế.
BHYT toàn dân đảm bảo mọi người dân đều được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, với quyền lợi và nghĩa vụ bình đẳng trong tham gia bảo hiểm y tế Điều này góp phần nâng cao chất lượng y tế và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Vấn đề của chính sách
(1) Mức chi phí khám chữa bệnh khi không có bảo hiểm y tế sẽ rất cao
Phạm vi bao phủ của bảo hiểm y tế hiện nay vẫn còn hạn chế, với tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm thấp và mức độ dịch vụ y tế được thụ hưởng chưa đạt yêu cầu.
(3) Công tác chăm sóc sức khỏe toàn dân chưa được đảm bảo
(4) Nhận thức của người dân về lợi ích của bảo hiểm y tế còn chưa cao
Nhu cầu khám chữa bệnh của người dân đang gia tăng mạnh mẽ, tuy nhiên, hệ thống y tế và nhân lực hiện tại chưa đủ khả năng đáp ứng nếu không có sự áp dụng bảo hiểm y tế.
Nguyên nhân của vấn đề
Chi phí khám chữa bệnh không có bảo hiểm y tế rất cao, đặc biệt khi áp dụng các kỹ thuật y tế tiên tiến hoặc đối với người nghèo, họ thường không đủ khả năng chi trả cho việc điều trị Những khoản chi phí này bao gồm vận chuyển bệnh nhân, thuốc men, và điều trị ung thư, tất cả đều phải do người dân tự chi trả nếu không có thẻ bảo hiểm.
Nguồn tài chính cho công tác chăm sóc sức khỏe toàn dân không được đảm bảo một cách cố định và bền vững
Những hoạt động truyền thông cho người dân về lợi ích của bảo hiểm y tế còn gặp nhiều bất cập
Hệ quả của vấn đề
Chi phí khám chữa bệnh có thể rất cao nếu không có bảo hiểm y tế, điều này khiến tài chính của người dân gặp khó khăn, đặc biệt khi phải đối mặt với các bệnh nan y và bệnh mãn tính.
Mức độ tham gia bảo hiểm y tế của người dân hiện còn thấp, điều này ảnh hưởng đến sự phát triển của Quỹ bảo hiểm y tế Hệ quả là một số lĩnh vực trong ngành y tế trở nên trì trệ, dẫn đến chất lượng khám chữa bệnh không được cải thiện.
Nhận thức của người dân về lợi ích của bảo hiểm y tế còn hạn chế, dẫn đến việc họ không mặn mà trong việc mua sắm và sử dụng loại hình bảo hiểm này Hệ quả là an sinh xã hội không được đảm bảo, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và chất lượng cuộc sống.
Một số người làm thâm hụt Quỹ bảo hiểm y tế sau khi biết mình có bệnh mới mua bảo hiểm y tế làm cho Quỹ khó bền vững
Mục tiêu của chính sách
Theo quyết định số 538/QĐ-TTg ngày 29 tháng 3 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ, Đề án thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2012 - 2015 và 2020 đã được phê duyệt với mục tiêu chính là đảm bảo mọi người dân đều có quyền lợi về bảo hiểm y tế, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và giảm gánh nặng chi phí y tế cho người dân.
Mở rộng phạm vi bảo hiểm y tế nhằm tăng tỷ lệ dân số tham gia, mở rộng dịch vụ y tế được thụ hưởng và giảm tỷ lệ chi trả từ tiền túi của người sử dụng dịch vụ Điều này đảm bảo quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm y tế, hướng tới bảo hiểm y tế toàn dân, đồng thời tạo nguồn tài chính ổn định cho công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân theo hướng công bằng, hiệu quả, chất lượng và phát triển bền vững.
Mục tiêu cụ thể là tăng tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế bằng cách duy trì tỷ lệ 100% cho các nhóm đối tượng đã tham gia và mở rộng thêm các nhóm đối tượng mới, nhằm đạt được mục tiêu đề ra vào năm tới.
Đến năm 2020, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đã vượt qua 80%, tăng từ hơn 70% vào năm 2015 Chất lượng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế được nâng cao, đảm bảo quyền lợi cho người tham gia theo quy định pháp luật và đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh Đồng thời, cơ chế tài chính cũng được đổi mới, đầu tư trực tiếp cho người thụ hưởng dịch vụ y tế thông qua hỗ trợ tham gia bảo hiểm y tế, nhằm cân đối thu - chi quỹ bảo hiểm y tế và giảm tỷ lệ chi tiêu y tế trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình xuống dưới 40% vào năm 2020.
Các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương cần xác định các chỉ tiêu cụ thể cho từng năm nhằm đạt tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) trên 70% vào năm 2015 và trên 80% vào năm 2020.
KẾT QUẢ CỦA CHÍNH SÁCH
Những mặt tích cực của chính sách
2.1.1 Mức độ phổ biến của bảo hiểm y tế toàn dân Đây là chính sách có mức độ phổ biến cao có phạm vi trên cả nước, nó có tầm ảnh hưởng đến toàn xã hội trong việc đảm bảo an sinh xã hội của đất nước
Năm 2011, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 64,9% dân số, với hơn 129,57 triệu lượt khám và điều trị ngoại trú, tăng 6,7% so với năm 2010 Trong đó, số lượt khám tại các bệnh viện trực thuộc bộ chiếm 7,2% dân số, tăng 7,8% Hơn 68,59 triệu lượt người bệnh có thẻ BHYT đã được khám và điều trị, chiếm 52,9% tổng số khám, tăng 16,1% so với năm trước Đặc biệt, tỷ lệ khám nộp viện phí trực tiếp giảm 7,1%, trong khi tỷ lệ khám bằng BHYT tăng từ 46,8% lên 52,9% Mặc dù tỷ lệ bao phủ và số lượt khám chữa bệnh của BHYT năm 2011 đã tăng so với năm 2010, nhưng vẫn còn thấp.
Việc cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ dưới 6 tuổi tại Việt Nam vẫn gặp nhiều khó khăn, với khoảng 19,7% trẻ em trong độ tuổi này chưa được bảo hiểm y tế vào năm 2011, đặc biệt là ở vùng dân tộc thiểu số Công tác tuyên truyền chưa hiệu quả khiến ⅓ phụ huynh chưa nắm rõ chính sách bảo hiểm y tế cho con Độ bao phủ bảo hiểm y tế vẫn thấp, đặc biệt là ở những người có thu nhập thấp và những người tham gia bảo hiểm tự nguyện Để cải thiện tình hình, Thủ tướng Chính phủ đã đề ra yêu cầu trong Đề án tổng thể về bảo hiểm y tế toàn dân (2012), nhằm tăng tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế xã hội từ gần 60% năm 2010 lên ít nhất 70% vào năm 2015 và 80% vào năm 2020, đồng thời giảm tỷ lệ tự chi trả xuống dưới 40% trong tổng chi tiêu y tế.
2015 (Theo Somanathan, A, Tandon, A & Dao, LH Kari L Hurt, và Hernan L
Fuenzalida-Puelma (2014), Tiến tới bao phủ Bảo hiểm y tế toàn dân ở Việt Nam Đánh giá và Giải pháp, World Bank, 30/03/2021)
Theo BHXH Việt Nam, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân đã đạt gần 90% dân số Số lượng người tham gia BHYT tăng nhanh qua các năm, với mức tăng trung bình 48% mỗi năm Từ năm 2015 đến 2019, số người tham gia BHYT đã tăng hơn 15 triệu, đưa tổng số người tham gia lên 85,636 triệu vào cuối năm 2019.
Diện bao phủ bảo hiểm y tế (BHYT) đã tập trung vào các nhóm yếu thế, với tỷ lệ tham gia của người lao động đạt hơn 90% Đặc biệt, nhóm hưu trí, người mất sức lao động và người nhận bảo trợ xã hội đạt 100%, tương đương khoảng 3,1 triệu người Ngoài ra, nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ, bao gồm hộ cận nghèo và học sinh, sinh viên, cũng đạt gần 100%, với hơn 17,5 triệu người tham gia theo hình thức hộ gia đình.
Kết luận báo cáo về quản lý và sử dụng Quỹ BHYT năm 2020 cho thấy thực trạng tham gia BHYT trong giai đoạn 2019-2020, theo Nghị quyết số 68/2013/QH13, đã nhấn mạnh sự cần thiết phải đẩy mạnh thực hiện chính sách và pháp luật về BHYT nhằm hướng tới mục tiêu BHYT toàn dân.
- Về phát triển đối tượng tham gia BHYT: Tính đến 31/12/2020, số người tham gia BHYT là 87,96 triệu người đạt tỷ lệ bao phủ 90,85% dân số
Vào năm 2020, công tác khám chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) ghi nhận sự tăng trưởng với 2.612 cơ sở khám chữa bệnh, tăng 166 cơ sở (6,8%) so với năm 2019 Trong đó, số cơ sở công lập tăng 66 cơ sở (4%) và số cơ sở ngoài công lập tăng 100 cơ sở (12,6%) Tổng số lượt khám chữa bệnh BHYT trên toàn quốc trong năm 2020 đạt hơn 167 triệu lượt.
Chất lượng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) đã được cải thiện đáng kể với năng lực y tế cơ sở được nâng cao, đóng vai trò quan trọng trong giám sát, xét nghiệm, cách ly, tiêm chủng và điều trị, đặc biệt là trong việc quản lý và chăm sóc F0 tại nhà, giúp giảm tỷ lệ bệnh nặng và tử vong Năm 2020, tỷ lệ trạm y tế xã đủ điều kiện khám chữa bệnh BHYT đạt 92,8%, với hơn 80% danh mục dịch vụ kỹ thuật của tuyến xã đạt 48,8%, và tỷ lệ đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã là 94,4% Đồng thời, tỷ lệ dân số được quản lý và theo dõi sức khỏe đạt 45,6%.
Bộ Y tế đã thiết lập quy định thống nhất về giá dịch vụ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc Đến nay, Bộ Y tế đã thực hiện 04 lần sửa đổi và bổ sung các quy định liên quan đến giá dịch vụ này.
Để nâng cao quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT), cần thực hiện 10 điểm khám chữa bệnh BHYT Việc điều chỉnh giá dịch vụ khám chữa bệnh sẽ được thực hiện theo lộ trình tính đúng, tính đủ các yếu tố cấu thành giá Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch COVID-19, việc điều chỉnh này sẽ tạm thời chưa được thực hiện nhằm giảm bớt tác động đến người dân và doanh nghiệp trong thời gian hiện tại.
Tình hình quản lý và sử dụng quỹ BHYT năm 2020 cho thấy tổng thu quỹ đạt 110.395 tỷ đồng, trong khi chi BHYT là 104.220 tỷ đồng Sự cân đối quỹ BHYT được đảm bảo với tổng số thu lớn hơn tổng số chi là 5.071 tỷ đồng, dự kiến số dư quỹ lũy kế đến cuối năm 2020 sẽ là 32.991 tỷ đồng Chính phủ, Bộ Y tế và các bộ, ngành đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để kiểm soát chi từ quỹ BHYT, đảm bảo sự bền vững của quỹ.
Số liệu thống kê trên Hệ thống Thông tin giám định BHYT từ 1/1/2021 đến
Tính đến ngày 2/7/2021, cả nước ghi nhận 75,58 triệu lượt khám chữa bệnh (KCB) bảo hiểm y tế (BHYT) với tổng số tiền đề nghị thanh toán từ cơ quan bảo hiểm xã hội (BHXH) lên tới 48.774 tỷ đồng Trong đó, có hơn 68,6 triệu lượt KCB ngoại trú với số tiền thanh toán đề nghị là 18.740 tỷ đồng, và gần 7 triệu lượt KCB nội trú với số tiền đề nghị thanh toán là 30.033 tỷ đồng Đặc biệt, có 213 bệnh nhân có chi phí KCB BHYT đề nghị thanh toán từ 0,5-1 tỷ đồng, trong khi 25 bệnh nhân có chi phí KCB BHYT đề nghị thanh toán trên 1 tỷ đồng.
BHXH Việt Nam đang nghiên cứu triển khai thẻ BHYT điện tử thay thế thẻ giấy hiện tại tại một số địa phương Mặc dù dịch bệnh đã ảnh hưởng đến số người tham gia BHYT tại doanh nghiệp, tổng số người tham gia BHYT trên toàn quốc vẫn đạt mục tiêu đề ra Tính đến hết tháng 6/2021, có 87,4 triệu người tham gia BHYT, đạt 97,4% kế hoạch và chiếm 89,58% dân số, mặc dù giảm 289,8 nghìn người so với tháng 5/2021, nhưng vẫn tăng 1,9 triệu người so với cùng kỳ năm 2020.
Đại dịch Covid-19 hiện nay đã gây ra nhiều khó khăn cho việc triển khai kế hoạch bảo hiểm y tế, nhưng người dân Việt Nam ngày càng tin tưởng và thực hiện nghiêm túc các chỉ dẫn về bảo hiểm y tế Dữ liệu cho thấy bảo hiểm y tế đã tiếp cận hầu hết người dân, cho thấy sự phát triển tích cực trong việc tham gia bảo hiểm y tế toàn dân.
Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) ngày càng tăng qua từng năm, cho thấy chất lượng dịch vụ y tế đang được cải thiện Tuy nhiên, tại các vùng dân tộc thiểu số và vùng sâu vùng xa, tỷ lệ sử dụng BHYT vẫn còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho người dân Do đó, cần có những cải thiện chính sách phù hợp để hỗ trợ đối tượng này tốt hơn.
2.1.2 Mức phí tham gia tương đối rẻ
Những hạn chế của chính sách
Sau một thời gian thực hiện Luật Bảo hiểm y tế (BHYT), tỷ lệ tham gia BHYT tại Việt Nam đã tăng từ 71,3% vào năm 2014 lên 90,85% hiện nay nhờ sự nỗ lực của Bảo hiểm xã hội, Bộ Y tế và các cấp chính quyền Tuy nhiên, công tác bao phủ BHYT vẫn còn gặp nhiều vướng mắc cần được tiếp tục hoàn thiện.
Mặc dù có những kết quả tích cực trong việc mở rộng bảo hiểm y tế (BHYT), nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần khắc phục Theo báo cáo của BHXH Việt Nam, năm 2016 có 32 địa phương chưa đạt chỉ tiêu bao phủ BHYT theo Quyết định số 1167/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Các tỉnh như Hậu Giang (-14,3%), Lâm Đồng (-10,7%), Quảng Bình (-9,9%), Vĩnh Long (-8%), Đồng Tháp (-7,4%) và Hưng Yên (-3,6%) có tỷ lệ bao phủ thấp Đặc biệt, tỷ lệ tham gia BHYT của hộ gia đình làm nông lâm ngư và diêm nghiệp với mức sống trung bình vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở nhóm lao động tự do và buôn bán nhỏ.
Theo quy định tham gia Bảo hiểm y tế (BHYT) theo hộ gia đình, tất cả thành viên trong hộ gia đình cần tham gia BHYT cùng một thời điểm thông qua đại diện hộ gia đình để được cấp thẻ BHYT Điều này được quy định tại Khoản 5 Điều 12, Khoản 3 Điều 13 và Khoản 6 Điều 15, ngoại trừ các đối tượng được nêu tại Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 3.
Trong quá trình thực hiện, một số bất cập đã phát sinh liên quan đến bảo hiểm y tế (BHYT) trong hộ gia đình Cụ thể, khi một hoặc một số thành viên không tham gia BHYT, các thành viên còn lại sẽ không thể tham gia BHYT dù họ có mong muốn.
Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam nhưng nhận lương từ nước ngoài sẽ phải tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) bắt buộc Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi y tế cho nhóm đối tượng này và tăng cường sự quản lý trong lĩnh vực bảo hiểm tại Việt Nam.
14 ngoài đang sinh sống và kết hôn với người Việt Nam rất khó thực hiện, khó quản lý, chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng
Theo Khoản 3 Điều 22 của Luật BHYT, người tham gia khi khám chữa bệnh (KCB) không đúng tuyến chỉ được quỹ BHYT thanh toán với tỷ lệ 40%, 60% hoặc 70% Điều này có nghĩa là quyền lợi BHYT chỉ được áp dụng khi người tham gia đến các bệnh viện không đúng tuyến Tuy nhiên, thực tế cho thấy hệ thống cơ sở KCB rất phong phú, bao gồm cả các viện và trung tâm y tế tuyến tỉnh, huyện, điều này gây khó khăn trong việc triển khai và ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia Chính sách “thông tuyến” KCB giúp tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, bảo vệ quyền lợi của người tham gia, đặc biệt là người nghèo và dân tộc thiểu số Tuy nhiên, một số người đã lợi dụng chính sách này để khám bệnh nhiều lần trong ngày hoặc tháng tại nhiều cơ sở y tế, dẫn đến việc một số trường hợp bị phát hiện và phải hoàn trả tiền cho cơ quan BHXH, trong khi một số cơ sở KCB cũng bị thu hồi quỹ do lạm dụng.
Hiệu quả đầu tư cho y tế cơ sở đang gặp hạn chế, với số lượt người khám chữa bệnh tại trạm y tế xã giảm, mặc dù có sự đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực Trong khi đó, tại tuyến huyện, nguồn lực đầu tư vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu, dẫn đến tình trạng quá tải và chất lượng khám chữa bệnh không đạt yêu cầu Việc thông tuyến khám chữa bệnh bảo hiểm y tế có nguy cơ làm rối loạn cơ chế chuyển tuyến của ngành y tế, vì vậy cần nghiên cứu, đánh giá và điều chỉnh chính sách này cho phù hợp Thêm vào đó, quy định “thông tuyến” trong tỉnh cũng gây khó khăn trong việc thực hiện và giải thích cho người dân.
*Ðánh giá toàn diện, điều chỉnh quy định của Luật
Theo báo cáo của Bộ Y tế, sau 25 năm thực hiện chính sách pháp luật về bảo hiểm y tế (BHYT), đặc biệt là sau hơn hai năm áp dụng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT, Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực Chất lượng khám chữa bệnh (KCB) BHYT ngày càng được cải thiện, giúp người dân tiếp cận với các dịch vụ kỹ thuật y tế hiện đại Quỹ BHYT đang trở thành nguồn tài chính cơ bản cho hoạt động của các bệnh viện.
15 đã bảo đảm nguyên tắc chia sẻ rủi ro giữa người tham gia BHYT, đồng thời cũng đảm nhận nhiều chính sách phúc lợi xã hội khác
Lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân và xây dựng nền y tế công bằng, hiệu quả còn gặp nhiều khó khăn Cần tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật BHYT, nghiên cứu quy chế chi trả từ quỹ BHYT cho chăm sóc sức khỏe ban đầu, xây dựng hồ sơ quản lý sức khỏe cá nhân, thẻ y tế thông minh và hệ thống quản lý hồ sơ sức khỏe điện tử quốc gia Đặc biệt, cần có giải pháp mở rộng bao phủ BHYT cho các nhóm đối tượng.
Cần nghiên cứu và tổ chức triển khai tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) cho lao động tự do và buôn bán nhỏ di cư từ nông thôn lên thành phố mà chưa đăng ký tạm trú Đồng thời, cần đảm bảo ngân sách cho việc mua và hỗ trợ thẻ BHYT cho đối tượng chính sách xã hội, đặc biệt là tập trung hỗ trợ 30% mức đóng BHYT cho hộ gia đình cận nghèo.
Triển khai các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế (KCB BHYT) là cần thiết Cần tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính y tế và phương thức thanh toán để đảm bảo cân đối thu - chi quỹ BHYT Quản lý và sử dụng quỹ BHYT một cách hiệu quả cũng là mục tiêu quan trọng Đến năm 2020, phấn đấu giảm tỷ lệ chi tiêu y tế trực tiếp từ tiền của hộ gia đình xuống dưới 40%.
Cần tăng cường giám sát việc thực hiện Luật Bảo hiểm y tế (BHYT), đặc biệt trong việc cấp thẻ BHYT cho người thuộc hộ nghèo, dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn và người sống tại các xã, huyện đảo Đồng thời, cần sửa đổi Luật Khám, chữa bệnh với sự chú ý đến phân tuyến cơ sở khám chữa bệnh theo chuyên môn kỹ thuật và phân hạng bệnh viện công lập và tư nhân Đánh giá hiệu quả thực hiện Luật BHYT cũng là cần thiết để điều chỉnh các quy định về đối tượng tham gia, quyền lợi BHYT và quản lý quỹ BHYT.
*Bất cập trong chính sách và tổ chức thực hiện
Báo cáo của Bộ Y tế chỉ ra rằng, chính sách pháp luật hiện tại còn nhiều tồn tại, vướng mắc, ảnh hưởng đến việc phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) Mặc dù Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT quy định BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc, nhưng vẫn thiếu quy định và chế tài cụ thể cho các đối tượng tự đóng BHYT mà không tham gia, như học sinh, sinh viên và hộ gia đình Thêm vào đó, chưa có quy định rõ ràng về việc người lao động được cử đi công tác nước ngoài có phải tham gia BHYT hay không, cũng như chưa có hướng dẫn thực hiện BHYT cho nạn nhân bom mìn sau chiến tranh và huấn luyện viên, vận động viên thể thao.
Trong quá trình phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm y tế (BHYT), vẫn tồn tại nhiều hạn chế Việc lập danh sách các đối tượng do ngân sách nhà nước đóng và hỗ trợ đóng gặp khó khăn, dẫn đến việc điều chỉnh thời hạn sử dụng thẻ BHYT bị chậm Điều này đặc biệt ảnh hưởng đến các nhóm như người dân tộc thiểu số, hộ gia đình nghèo, cựu chiến binh và thân nhân liệt sĩ, cũng như những người sống tại các vùng đặc biệt khó khăn Đối với trẻ em dưới 6 tuổi, việc triển khai các thủ tục hành chính liên quan đến đăng ký khai sinh, thường trú và cấp thẻ BHYT chưa được thực hiện hiệu quả, dẫn đến tình trạng chậm cấp thẻ BHYT cho trẻ em.
Theo quy định, trẻ em dưới 6 tuổi có thời hạn sử dụng thẻ BHYT từ ngày sinh đến khi đủ 72 tháng tuổi Nếu trẻ đã đủ 72 tháng nhưng chưa đến kỳ nhập học, thẻ BHYT sẽ có hiệu lực đến ngày 30 tháng 9 của năm đó Tuy nhiên, ở một số địa phương, cơ quan tài chính chỉ thanh toán tiền BHYT cho trẻ em từ ngày lập danh sách đến khi đủ 72 tháng tuổi, mà không thanh toán cho thời gian từ ngày sinh đến khi có danh sách chính thức.
GIẢI PHÁP CỦA CHÍNH SÁCH
Đối với mục tiêu: Tăng tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế
Giải pháp đầu tiên của chính phủ nhằm mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế là xây dựng và hoàn thiện chính sách bảo hiểm y tế Việc sửa đổi và hoàn thiện này sẽ tạo ra khung pháp lý đồng bộ và vững chắc, giúp hiện thực hóa các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả hơn Để đạt được điều này, Chính phủ cần sửa đổi, bổ sung Luật bảo hiểm y tế và trình Quốc hội vào năm 2014.
Năm 2014, Quốc hội đã thông qua luật bảo hiểm y tế sửa đổi với nhiều cải tiến có lợi cho người thụ hưởng Luật mới quy định tham gia bảo hiểm y tế là bắt buộc, khuyến khích người dân tham gia theo hộ gia đình, đồng thời mở rộng quyền lợi cho một số nhóm đối tượng Bên cạnh đó, quản lý quỹ bảo hiểm y tế được thực hiện công khai và minh bạch, quy định rõ trách nhiệm của các bên liên quan.
Dựa trên các điều khoản điều chỉnh, có nhiều lợi ích được đưa ra nhằm khuyến khích người dân tham gia bảo hiểm y tế Việc mở rộng quyền lợi cho các nhóm đối tượng khó khăn như người nghèo, người dân tộc thiểu số và người thuộc đối tượng bảo trợ xã hội cho thấy sự quan tâm của nhà nước đối với công bằng trong tham gia bảo hiểm y tế Điều này phù hợp với nguyên tắc của bảo hiểm y tế, nơi số đông hỗ trợ thiểu số Quy định bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế thể hiện quyết tâm của bộ chính trị và nâng cao trách nhiệm cộng đồng trong việc tham gia bảo hiểm y tế.
Yêu cầu bảo hiểm y tế bắt buộc có thể dẫn đến sự mất cân bằng trong thị trường chăm sóc sức khỏe, tạo ra một thách thức cho các công ty bảo hiểm sức khỏe khi làm giảm số lượng khách hàng tiềm năng.
(2) Giải pháp 2: Cam kết chính trị mạnh mẽ và sự tham gia của hệ thống chính trị
Quyết định đã xác định rõ trách nhiệm và tinh thần tham gia của bộ máy chính trị từ cấp trung ương đến địa phương Ở cấp trung ương, các cơ quan Đảng phối hợp với Bộ Y tế và Bảo hiểm xã hội để ban hành chỉ thị thực hiện và giám sát Tại địa phương, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các tỉnh cần xác định mục tiêu và phương hướng phát triển chương trình bảo hiểm y tế toàn dân, nhằm tạo sự đồng bộ trong quản lý nhà nước Tuy nhiên, giải pháp hiện tại chỉ nêu nhiệm vụ một cách khái quát mà chưa đưa ra các chỉ tiêu cụ thể để đo lường hiệu quả.
(3) Giải pháp 3: Tăng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế
Quyết định số 539/QĐ-TTg đã xác định các nhóm đối tượng trong xã hội với các chỉ báo cụ thể, linh hoạt phù hợp với đặc điểm từng nhóm Đối với nhóm đã đạt tỷ lệ bao phủ trên 90%, văn bản hướng dẫn yêu cầu duy trì tỷ lệ này và nâng cao chất lượng y tế.
Việc tuyên truyền bảo hiểm y tế đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì tỷ lệ bao phủ ổn định và nâng cao mức độ hài lòng của người tham gia Chính sách cần xác định rõ các nhóm đối tượng có tỷ lệ tham gia thấp, như người lao động trong doanh nghiệp, hộ cận nghèo, học sinh, sinh viên, hộ gia đình nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sống trung bình, nhóm tự nguyện tham gia bảo hiểm y tế, và trẻ em dưới 6 tuổi Điều này cho thấy sự quan tâm và nghiên cứu kỹ lưỡng, giúp chính sách tiếp cận sâu rộng hơn trong cộng đồng, từ đó nâng cao tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế.
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đang gặp phải tình trạng "khoảng trống giữa" trong tham gia bảo hiểm y tế Tỷ lệ tham gia bảo hiểm cao chủ yếu ở nhóm thu nhập thấp và cao, trong khi nhóm thu nhập trung bình lại có tỷ lệ tham gia thấp.
Các thông tin trên khẳng định tính hợp lý của giải pháp trong chính sách Văn bản đã đưa ra những biện pháp cụ thể nhằm giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.
“khoảng trống giữa” – những nhóm đối tượng ít tham gia bảo hiểm y tế
Nhóm lao động tại doanh nghiệp đang gặp một số vấn đề trong giải pháp tăng diện bao phủ bảo hiểm y tế Việc áp dụng các chính sách chưa đồng bộ và thiếu sự linh hoạt có thể dẫn đến sự không hài lòng trong việc tiếp cận dịch vụ y tế Cần có những điều chỉnh hợp lý để đảm bảo rằng mọi lao động đều được hưởng quyền lợi bảo hiểm một cách công bằng và hiệu quả.
Để nâng cao tính khách quan trong công tác thanh, kiểm tra và rà soát doanh nghiệp, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều bên liên quan, không chỉ từ cơ quan nhà nước mà còn từ chính người lao động trong doanh nghiệp Sự tham gia của người lao động sẽ giúp phát hiện kịp thời những sai phạm và đảm bảo tính minh bạch trong quá trình kiểm tra.
Việc sử dụng quỹ bảo hiểm y tế để củng cố cơ sở chăm sóc sức khỏe cho người lao động tại doanh nghiệp có thể gây bội thu ngân sách nếu không có chế tài quản lý chặt chẽ, dễ dẫn đến thất thoát và lạm dụng quỹ Hơn nữa, chất lượng khám chữa bệnh tại các phòng khám doanh nghiệp cũng cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo hiệu quả chăm sóc sức khỏe cho nhân viên.
Nhiều cán bộ y tế tại các phòng khám hiện nay thiếu trình độ chuyên môn cần thiết, không đủ khả năng thực hiện các cấp cứu cơ bản Đồng thời, nhiều doanh nghiệp cũng không tích cực phát triển chương trình chăm sóc sức khỏe cho nhân viên, dẫn đến tình trạng chăm sóc sức khỏe chưa được chú trọng.
Việc đưa tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế vào tiêu chí đánh giá thi đua có thể khiến các trường chú trọng vào thành tích mà bỏ qua việc tuyên truyền lợi ích của bảo hiểm y tế cho phụ huynh và học sinh Đặc biệt, trẻ em dưới 6 tuổi cần được chăm sóc sức khỏe tốt hơn do thể trạng yếu Chỉ tuyên truyền với cha mẹ là chưa đủ để thuyết phục Hơn nữa, có sự bất công khi học sinh, sinh viên được hỗ trợ tối đa 50% chi phí mua thẻ bảo hiểm y tế, trong khi trẻ em dưới 6 tuổi lại không nhận được sự hỗ trợ tương tự.
(4) Giải pháp 4: Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo hiểm y tế
Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan chủ yếu tổ chức tuyên truyền về chính sách bảo hiểm y tế, theo Thông tư 1612/BHXH-TT Thông tư này xác định rõ trách nhiệm của các cấp trung ương và tỉnh trong việc đẩy mạnh tuyên truyền chính sách bảo hiểm xã hội và y tế Các cơ quan truyền thông chính bao gồm báo Bảo hiểm xã hội, tạp chí bảo hiểm xã hội và cổng thông tin điện tử bảo hiểm xã hội Bên cạnh đó, các cơ quan báo chí và truyền thông xã hội khác cũng có vai trò quan trọng trong việc phổ biến pháp luật về bảo hiểm y tế.
Đối với mục tiêu: Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, bảo đảm quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế
(7) Giải pháp 7: Nâng cao chất lượng và đáp ứng nhu cầu khám bệnh chữa bệnh bảo hiểm y tế
Nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, đặc biệt là khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế, là giải pháp quan trọng hướng tới bảo hiểm y tế toàn dân Khi người dân được tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh tận tình và chất lượng, họ sẽ tăng cường niềm tin vào hệ thống bảo hiểm y tế.
26 của bảo hiểm y tế Từ đó, dẫn đến lượng người tham gia bảo hiểm y tế sẽ ngày càng tăng
Trong năm 2020, tổng số lượt khám chữa bệnh bảo hiểm y tế (KCB BHYT) ước tính đạt 186 triệu lượt, với tần suất trung bình là 2,15 lượt/người sở hữu thẻ Chi phí cho KCB BHYT khoảng 105.087 tỷ đồng, tăng 13.682 tỷ đồng so với năm 2018.
Hệ thống y tế tư nhân tại Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ, với số lượng bệnh viện tăng từ 102 vào năm 2010 lên 231 bệnh viện hiện nay, chiếm 19,4% tổng số bệnh viện Số giường bệnh cũng tăng từ 5.800 lên khoảng 16.000, tương đương 5% tổng số giường bệnh, đạt tỷ lệ 1,7 giường trên 10.000 dân Sự phát triển này diễn ra song song với việc chú trọng vào hệ thống y tế công lập, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Trong quyết định 538/QĐ/TTg, giải pháp này được thực hiện theo các hướng như sau:
Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế là một nhiệm vụ quan trọng, bao gồm việc tổ chức khám chữa bệnh, thanh tra và kiểm tra để đảm bảo quyền lợi của người bệnh Để thực hiện điều này, cần xây dựng bộ tiêu chuẩn chất lượng bệnh viện làm cơ sở đánh giá, cải cách thủ tục khám chữa bệnh, và phát triển gói chăm sóc sức khỏe ban đầu Năm 2013, Bộ Y tế đã ban hành bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện theo Quyết định số 4858/QĐ-BYT, giúp các bệnh viện và người dân dễ dàng đánh giá chất lượng phục vụ Thêm vào đó, Thông tư 43/2015/TT-BYT quy định nhiệm vụ công tác xã hội trong bệnh viện, thành lập các ban, phòng công tác xã hội nhằm hỗ trợ người dân trong quá trình thăm khám và giải quyết thủ tục pháp lý.
Thuật ngữ “bác sĩ gia đình” đã trở nên quen thuộc với nhiều người, đặc biệt sau khi triển khai đề án xây dựng và phát triển mô hình phòng khám bác sĩ gia đình Mô hình này không chỉ giúp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe mà còn tạo sự gần gũi giữa bác sĩ và bệnh nhân, góp phần vào việc cải thiện sức khỏe cộng đồng.
Từ năm 2013 đến 2020, chương trình cấp chứng chỉ hành nghề bác sĩ gia đình đã được triển khai, và đến năm 2019, đã có hàng nghìn bác sĩ được cấp chứng chỉ Tuy nhiên, hơn 50% trong số đó vẫn chưa thực hiện đúng vai trò của bác sĩ gia đình.
Tại Hà Nội, hiện có 100 cơ sở y tế và phòng khám áp dụng mô hình bác sĩ gia đình, nhưng chỉ khoảng 5-6 bác sĩ thực sự đáp ứng được vai trò này Mô hình y học gia đình không chỉ tập trung vào khám và chữa bệnh mà còn bao gồm việc hướng dẫn phòng bệnh, quản lý hồ sơ sức khỏe và theo dõi sức khỏe liên tục suốt đời Mặc dù còn nhiều hạn chế, hệ thống y tế đang dần trở nên chuyên nghiệp và có tính hệ thống hơn.
Đầu tư vào trang thiết bị và cải tạo cơ sở hạ tầng y tế là cần thiết, khi số giường bệnh toàn quốc năm 2019 đạt 323,8 nghìn, giảm 2% so với năm 2018 Mặc dù vậy, số giường bệnh bình quân trên 10.000 dân đã tăng lên 28,5 giường so với 28 giường của năm trước Mạng lưới y tế giữa trung ương và địa phương đang phát triển mạnh mẽ, với sự gia tăng của hệ thống bệnh viện vệ tinh tại các tỉnh Số lượng bệnh viện đa khoa, y khoa, y học dân tộc, da liễu, điều dưỡng phục hồi chức năng, và các phòng khám chuyên khoa ở tuyến tỉnh đã vượt qua tuyến trung ương, góp phần giảm áp lực quá tải cho các bệnh viện tuyến trung ương.
Nguồn nhân lực y tế, bao gồm bác sĩ, y tá và điều dưỡng, tại các bệnh viện trung ương và địa phương ngày càng gia tăng về cả số lượng và chất lượng qua từng năm Sự phân bổ đồng đều số lượng tiến sĩ y, bác sĩ, dược sĩ và điều dưỡng giữa các tuyến trung ương và địa phương góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe.
(8) Giải pháp 8: Đẩy mạnh công tác y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu
Công tác y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu bao gồm bốn phương diện chính: phòng chống bệnh truyền nhiễm, ngăn ngừa bệnh không lây nhiễm, chống suy dinh dưỡng, và chăm sóc sức khỏe sinh sản, bà mẹ và trẻ em.
Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm phòng vắc xin duy trì ổn định qua các năm, với 94,3% trẻ em được tiêm vắc xin vào năm 2019 Trong giai đoạn từ 2015 đến 2019, tỷ lệ này cũng không có sự biến động lớn.
28 duy trì ở ngưỡng 94 – 98 % Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm dần theo thời gian từ 13,2% ở năm 2018 xuống 12,4 % năm 2019 Ngoài ra, trong năm 2020 và
Năm 2021, Việt Nam được công nhận là một trong những quốc gia phòng chống Covid hiệu quả nhất thế giới, nhờ vào công tác truyền thông mạnh mẽ về rửa tay, đeo khẩu trang và hạn chế tiếp xúc đông người, dẫn đến tỷ lệ lây nhiễm Covid trong cộng đồng rất thấp Điều này cho thấy ngành y tế Việt Nam đã thực hiện tốt công tác y tế dự phòng và thăm khám sức khỏe ban đầu Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế, đặc biệt là sự thiếu chú ý đến sức khỏe tâm thần của bệnh nhân, như tình trạng trầm cảm sau sinh ở các bà mẹ.
Đối với mục tiêu: Từng bước đổi mới cơ chế tài chính theo hướng đầu tư trực tiếp cho người thụ hưởng dịch vụ y tế thông qua các hình thức hỗ trợ
(9) Giải pháp 9: Đổi mới cơ chế tài chính và phương thức thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế
Đổi mới cơ chế tài chính và phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh sẽ giảm bớt gánh nặng cho quỹ bảo hiểm y tế đang bội chi, đồng thời khuyến khích người dân tham gia bảo hiểm y tế nhiều hơn.
Luật bảo hiểm y tế hiện hành quy định ba phương thức thanh toán: theo giá dịch vụ, theo định suất và theo trường hợp bệnh Tuy nhiên, tại Việt Nam, thanh toán chủ yếu theo giá dịch vụ đã dẫn đến tình trạng cung ứng quá mức cần thiết và mất cân đối thu – chi quỹ BHYT, gây khó khăn trong việc kiểm soát chi phí và lãng phí nguồn lực xã hội Để khắc phục tình trạng này, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 2747/QĐ-BYT, phê duyệt thí điểm triển khai phương thức thanh toán chi phí KCB BHYT theo định suất và theo DRG tại 5 tỉnh/thành phố: Cần Thơ, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ninh, và Yên Bái từ ngày 1/7 đến 31/12/2020.
Thanh toán dịch vụ y tế theo phương thức DRG giúp kiểm soát giá cả và chi phí cho người dân một cách hiệu quả, cho phép bệnh nhân phân bổ nguồn lực chi trả hợp lý, đồng thời đảm bảo giá dịch vụ ổn định, không bị biến động bất thường.
Mặc dù vẫn tồn tại một số hạn chế và khó khăn trong việc triển khai thanh toán khám chữa bệnh, Bộ Y tế đã kịp thời ban hành các văn bản pháp luật mới nhằm khắc phục những vấn đề hiện tại.
(10) Giải pháp 10: Cân đối và bảo toàn Quỹ bảo hiểm y tế
Để đảm bảo cân đối quỹ bảo hiểm y tế, cần thực hiện từng bước tăng mức đóng bảo hiểm y tế phù hợp với khả năng đóng góp của người dân và ngân sách nhà nước, dựa trên quy định của Luật bảo hiểm y tế.
Sửa đổi quy định về quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm y tế nhằm phát triển quỹ này một cách ổn định và bền vững Điều này bao gồm việc điều tiết nguồn quỹ bảo hiểm y tế kết dư theo tỷ lệ hợp lý, từ đó nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và tăng cường trách nhiệm của các địa phương trong việc quản lý và sử dụng hiệu quả quỹ bảo hiểm y tế.
Để nâng cao hiệu quả công tác giám định bảo hiểm y tế, cần tăng cường cả về số lượng và chất lượng giám định Việc đổi mới phương pháp giám định theo hướng tập trung và mở rộng thực hiện giám định hồ sơ thanh toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế theo tỷ lệ là rất cần thiết Đồng thời, cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình giám định để nâng cao độ chính xác và hiệu quả.
Việc mở rộng quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) và điều chỉnh giá dịch vụ y tế đã dẫn đến gia tăng chi phí khám chữa bệnh, gây khó khăn trong việc cân đối quỹ BHYT Một số cơ sở khám chữa bệnh vẫn có hiện tượng lạm dụng quỹ BHYT, như chỉ định xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh không cần thiết, kéo dài thời gian điều trị để tăng số ngày thanh toán, hoặc đưa bệnh nhân vào điều trị nội trú không đúng mức cần thiết Ngoài ra, việc kê thêm giường bệnh để hợp lý hóa thanh toán vượt công suất sử dụng cũng diễn ra, cùng với việc sử dụng chế phẩm y học cổ truyền tại một số cơ sở cao hơn mức trung bình cả nước.
Chúng ta cần triển khai các chính sách hỗ trợ cho những nhóm đối tượng không có khả năng thanh toán bảo hiểm y tế (BHYT), nhằm giảm bội chi ngân sách do sử dụng Quỹ BHYT Một trong những giải pháp hiệu quả là khuyến khích quyên góp từ các mạnh thường quân và nhà hảo tâm để tài trợ cho nhóm đối tượng này, giúp giảm gánh nặng cho Quỹ BHYT.
(11) Giải pháp 11: Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý
Xây dựng một hệ thống thông tin y tế đồng bộ và phù hợp là cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý và điều hành Cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, đồng thời nâng cấp hệ thống phần mềm quản lý thu, chi, giám định bảo hiểm y tế, cũng như thống kê và báo cáo công tác.
30 khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế thống nhất trên toàn quốc nhằm nâng cao chất lượng quản lý và giảm thiểu thủ tục hành chính Các giải pháp cụ thể được đề ra để thực hiện mục tiêu này.
Từ năm 2013, nghiên cứu đã áp dụng thẻ bảo hiểm y tế dưới dạng thẻ thông minh hoặc thẻ có ảnh cho các đối tượng ít thay đổi như công chức, người nghỉ hưu và người dân tộc thiểu số Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã xây dựng đề án riêng để mã hóa các dịch vụ kỹ thuật và thuốc, nhằm quản lý thống nhất và cung cấp cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc xây dựng chính sách.
Xây dựng phần mềm mã nguồn mở nhằm áp dụng cho cơ quan bảo hiểm xã hội và các cơ sở khám, chữa bệnh, đồng thời thiết lập cơ sở dữ liệu dùng chung Việc này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chia sẻ thông tin giữa ngành bảo hiểm xã hội và y tế.
Xã hội ngày càng phát triển và công nghệ số đang được hoàn thiện tại Việt Nam, với sự xuất hiện của công nghệ 4.0 Để xây dựng một hệ thống bảo hiểm y tế (BHYT) bền vững, cần thiết phải có những chính sách đổi mới, trong đó việc chuyển đổi từ thẻ BHYT giấy sang thẻ chip cứng là một bước đi quan trọng, đã được xác định qua công văn quyết định vào năm trước.
2021 Quyết định 1666/QĐ-BHXH ) Bởi vì nếu không vẫn sẽ có những tiêu cực xảy ra
Sớm hoàn thiện ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý sẽ giúp ta có thể bao quát hơn những vấn đề đang tồn đọng trong đó
(12) Giải pháp 12: Nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế Đây là giải pháp cuối cùng trong 12 giải pháp của Chính phủ
Nghiên cứu này đánh giá tác động của bảo hiểm y tế đối với tài chính y tế, mức độ hiểu biết và sự tự nguyện tham gia bảo hiểm y tế, cũng như sự hài lòng của người bệnh Đồng thời, nghiên cứu còn phân tích chi phí - hiệu quả của các dịch vụ y tế nhằm phục vụ cho việc xây dựng chính sách và cải thiện tổ chức thực hiện bảo hiểm y tế.