CƠ SỞLÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀHIỆU QUẢHOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Cơ sởthực tế
2.1 Thịtrường xi măng tại việt Nam hiện nay
Năm 2017, nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực với nhiều dấu hiệu khởi sắc Nhiều dự án đầu tư, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản và cơ sở hạ tầng giao thông, đã được triển khai xây dựng trở lại.
2017 mưa, bão kéo dài trên cảnước vì thếsản lượng xi măng tiêu thụtrong nước tăng không đáng kểso với năm 2016.
Theo thông tin mà BộXây dựng công bố đầu năm vào tháng 11 năm 2017, tổng sản lượng xi măng tiêu thụtoàn ngành 10 tháng năm 2017 ước đạt 63,25 triệu tấn, đạt 80% so với kếhoạch năm, trong đó sản lượng xi măng tiêu thụ ước đạt nội địa ước đạt 47,58 triệu tấn, tăng 3% so với cùng kỳnăm 2016, sản lượng clinker và xi măng xuất khẩu ước đạt 15,67 triệu tấn, tăng 20% sản lượng xuất khẩu năm 2016 Lượng clinker và xi măng tồn kho cuối tháng 10 ước đạt khoảng 3,75 triệu tấn, trong đó có 1,45 triệu tấn xi măng, còn lại là 2,3 triệu tấn clinker, tươngứng khoảng 15-20 ngày sản xuất Trên cơ sởtiêu thụ10 tháng, dựkiến tổng sản lượng xi măng, clinker tiêu thụnăm
Năm 2017, tổng sản lượng xi măng đạt khoảng 80 triệu tấn, tăng 6% so với năm 2016 và hoàn thành 100% kế hoạch năm Trong đó, tiêu thụ xi măng nội địa đạt khoảng 62 triệu tấn, tăng 3% so với năm trước và đạt 97% kế hoạch Đồng thời, xuất khẩu xi măng và clinker đạt khoảng 18 triệu tấn, tăng 20% so với năm 2016, vượt 120% kế hoạch năm.
Dự đoán năm 2018, nền kinh tế Việt Nam vẫn gặp khó khăn, nhưng đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật, giao thông và thủy lợi được nhà nước chú trọng Thị trường bất động sản có dấu hiệu tích cực, với nhu cầu xây dựng cao từ các tổ chức và cá nhân Bộ Xây Dựng ước tính nhu cầu tiêu thụ xi măng toàn ngành khoảng 83-85 triệu tấn, tăng 4-6% so với năm 2017, trong đó tiêu thụ nội địa khoảng 66-67 triệu tấn và xuất khẩu 17-18 triệu tấn Năm 2017, ba dây chuyền sản xuất xi măng mới với tổng công suất 9,1 triệu tấn/năm đã đi vào hoạt động, nâng tổng số dây chuyền lên 83 với công suất 98,56 triệu tấn, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ năm 2018 Mục tiêu của Bộ Xây Dựng là không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn tăng cường xuất khẩu xi măng, tạo nguồn thu cho doanh nghiệp và nâng cao vị thế Việt Nam trong lĩnh vực vật liệu xây dựng Tuy nhiên, xuất khẩu xi măng của Việt Nam gặp khó khăn do sự cạnh tranh mạnh mẽ từ Trung Quốc và Thái Lan, vì vậy các doanh nghiệp cần nắm bắt diễn biến thị trường để điều chỉnh hoạt động sản xuất, giữ giá ổn định và xây dựng chiến lược dài hạn.
2.2 Thịtrường xi măng tại tỉnh Thừa Thiên Huếhiện nay
Thị trường vật liệu xây dựng tại Thừa Thiên Huế nổi bật với những tên tuổi lớn như CTCP Long Thọ, CTCP Xi măng Đồng Lâm và Công ty TNHH Xi măng Luks Việt Nam, cung cấp xi măng không chỉ cho tỉnh mà còn cho các tỉnh miền Trung Theo Sở Xây Dựng, năm 2017, tổng sản lượng xi măng sản xuất đạt gần 1,4 triệu tấn, cho thấy nhu cầu xây dựng tại tỉnh còn thấp so với tiềm năng Mặc dù nhu cầu chủ yếu đến từ các hộ gia đình nhỏ, sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất xi măng ngày càng gay gắt, với nỗ lực cung cấp sản phẩm chất lượng cao và giá cả hợp lý Các doanh nghiệp cũng liên tục nâng cấp dây chuyền sản xuất để tiết kiệm chi phí và nâng cao năng suất, từ đó củng cố uy tín trên thị trường Sự phát triển của xi măng Đồng Lâm cùng với các thương hiệu lâu đời đã tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ, mang đến nhiều lựa chọn cho khách hàng về sản phẩm chất lượng và giá cả hợp lý.
Dự đoán trong năm 2018, thị trường xi măng ở Huế sẽ ổn định với sự cạnh tranh giữa các thương hiệu lớn như Long Thọ, Đồng Lâm, Lusk, Nghi Sơn và Bỉm Sơn Nhu cầu xây dựng chủ yếu đến từ các hộ gia đình và các công trình quy mô nhỏ, do đó không có nhiều dự án lớn, dẫn đến mức tiêu thụ xi măng không có sự chênh lệch đáng kể so với năm trước.
2017 Do đó nhều khảnăng các doanh nghiệp vẫn có thể đápứng tốt nhu cầu của thịtrường.
PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢHOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔPHẦN LONG THỌ
Khái quát vềcông ty
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty cổ phần Long Thọ cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5km về phía Tây Nam, tọa lạc tại phường Thủy Biều, thành phố Huế Dưới đây là một số thông tin cơ bản về công ty.
- Tên công ty: Công ty cổphần Long Thọ.
- Tên giao dịch quốc tế: Long Tho Joint Stock Company.
-Địa chỉ: 423 Bùi ThịXuân, phường Thủy Biều, thành phốHuế.
- Website: www.longthohue.com.vn
2.1.1.2 Lịch sửhình thành và phát triển
CTCP Long Thọ là một doanh nghiệp công nghiệp tại tỉnh Thừa Thiên Huế, chuyên sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng (VLXD) tại khu vực miền Trung Được thành lập vào năm 1975, CTCP Long Thọ, trước đây là Công ty SXKD VLXD Long Thọ, đã phát triển mạnh mẽ và khẳng định vị thế trong ngành VLXD.
Ngành sản xuất vật liệu xây dựng (SXKD VLXD) tại tỉnh Thừa Thiên Huế có nguồn gốc từ nhà máy vôi nước Long Thọ, được thành lập cách đây hơn 120 năm trong thời kỳ Pháp thuộc Năm 1885, sau khi chiếm được kinh thành Huế, thực dân Pháp đã tăng cường xây dựng cơ sở vật chất để củng cố chính quyền cai trị tại miền Trung, với Huế là trung tâm.
Nhu cầu về vật liệu xây dựng (VLXD) rất lớn, dẫn đến việc hãng xây dựng tư nhân Bogaert thành lập xí nghiệp vôi nước Long Thọ vào năm 1896 để đáp ứng nhu cầu này Nhà máy được đặt tại chân đồi Long Thọ, bên bờ phải sông Hương, đối diện chùa Thiên Mụ, cách trung tâm thành phố Huế 7 km về phía Tây, giữa làng Nguyệt Biều và làng Dương Xuân (hiện nay là Thủy Biều và Phường Đúc).
Từ năm 1910, sự cạnh tranh trong sản xuất vôi nước Long Thọ bắt đầu xuất hiện với hãng Bogaert, khi Rigaux, một nhà thầu không có giấy phép, tự ý chiếm đất của Bogaert và nhận được sự ủng hộ từ Khâm sứ Trung Kỳ Năm 1911, tại Paris, một nhóm tư sản đã thành lập công ty vôi nước Long Thọ, dưới sự kiểm soát tài chính và kỹ thuật của công ty xi măng Pooc-lăng nhân tạo Đông Dương Công ty vôi nước Long Thọ thực chất là một chi nhánh của công ty xi măng này và đã liên kết với Rigaux để cạnh tranh với Bogaert Sau 5 năm, Bogaert không thể thắng nổi và vào cuối tháng 8/1915, xí nghiệp vôi nước Long Thọ đã bị sáp nhập vào công ty Long Thọ do Rigaux đại diện Nhà máy sản xuất theo quy trình khép kín, với sản phẩm chính là vôi nước, cùng nhiều vật liệu khác như gạch ngói, sơn vẹc ni và gạch hoa, với công suất ban đầu đạt 10.000 tấn vôi/năm nhờ vào 5 lò nung theo công nghệ kiểu lò đứng.
Vào năm 1934, công ty vôi nước Long Thọ được điều hành bởi giám đốc Gallois, nhưng sau cuộc đảo chính của Nhật vào ngày 9/3/1945, Gallois đã bỏ trốn, dẫn đến việc nhà máy ngừng hoạt động hoàn toàn Trong suốt 9 năm kháng chiến, nhà máy hầu như không có hoạt động nào và sau năm 1954, người Pháp không còn khả năng duy trì Từ năm 1958, nhà máy Long Thọ được giao cho ông Viễn Đệ, một kỹ sư tốt nghiệp từ Pháp, nhưng cũng nhanh chóng phải dừng hoạt động do chiến tranh ở miền Nam Đến năm 1972, nhà máy đã hoàn toàn ngừng hoạt động và trở thành hoang phế Sau chiến thắng 30/04/1975, chính quyền cách mạng đã thành lập Ban khôi phục nhà máy, và sau nhiều nỗ lực, nhà máy chính thức hoạt động trở lại vào ngày 01/07/1976 với số vốn ban đầu là 3.700.000 đồng, trong khi cơ sở vật chất còn lại chỉ là đống đổ nát Ngày 01/07/1977, nhà nước đã đầu tư xây dựng dây chuyền công nghệ xi măng lò đứng với công suất thiết kế 20.000 tấn/năm.
Công ty CP Long Thọ, trước đây là doanh nghiệp Nhà nước hạng I từ tháng 9/1994 đến tháng 11/2005, hiện có 402 cán bộ công nhân viên và 04 đơn vị trực thuộc Sau khi chuyển đổi sang CTCP vào tháng 12/2005, công ty đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ người tiêu dùng và ngày càng khẳng định vị thế trên thị trường Với quy mô sản xuất lớn, trang thiết bị hiện đại và đội ngũ công nhân lành nghề, CTCP Long Thọ đã xây dựng được hệ thống phân phối rộng khắp từ Quảng Bình đến Bình Định, các tỉnh Tây Nguyên và miền Tây, nhờ vào đội ngũ tiếp thị dày dạn kinh nghiệm.
2.1.2 Đặc điểm cơ cấu bộmáy quản lý của công ty
Bộmáy quản lý: Sau khi cổphần hóa Công ty SXKD VLXD Long
Công ty cổ phần Long Thọ đã chính thức được thành lập, đồng thời có sự thay đổi trong bộ máy quản lý để phù hợp với mô hình doanh nghiệp mới Cơ cấu quản lý hiện tại bao gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc công ty, 02 Phó giám đốc, 01 Chánh văn phòng và 06 phòng ban, theo kiểu hỗn hợp trực tuyến chức năng.
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công ty, bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết Cơ quan này có toàn quyền quyết định các vấn đề quan trọng liên quan đến sự tồn tại và phát triển của công ty, như lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, quy mô sản xuất và chiến lược phát triển.
Hội đồng quản trị, được bầu ra bởi Đại hội đồng cổ đông, là cơ quan quản lý cao nhất của công ty, đại diện cho quyền lợi của các cổ đông Hội đồng này có toàn quyền nhân danh công ty để thực hiện các hoạt động liên quan đến lợi ích và hình ảnh của công ty trong phạm vi cho phép.
Ban giám đốc của công ty bao gồm Giám đốc, hai Phó giám đốc và một Chánh văn phòng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao Hai Phó giám đốc và Chánh văn phòng hỗ trợ Giám đốc trong việc điều hành các hoạt động khác nhau của công ty.
Phó giám đốc kinhdoanh giúp giám đốc công ty trực tiếp chỉ đạo điều hành công tác tiêu thụsản phẩm, tổchức mạnh lưới tiêu sản phẩm.
Phó giám đốc kỹthuật giúp Giám đốc trực tiếp chỉ đạo điều hành công tác kỹ thuật, điều hành sản xuất, vật tư thiết bị.
Chánh văn phònggiúp Giám đốc vềcông tác điều hành nhân sự, hành chính bảo vệ.
Sơ đồ2.1: Cơ cấu tổchức của công ty Long Thọ
Bên dưới các Phó giám đốc là các xưởng và phòng ban.
Các phòng ban chủyếu:gồm 06 phòng ban với chức năng và nhiệm vụlà tham mưu cho Giám đốc công ty, có các phòng ban chủyếu sau:
Phòng kếhoạch và thịtrường: có nhiệm vụtheo dõi tình hình tiêu thụsản phẩm, tổchức mạng lưới tiêu thụsản phẩm.
Phòng tài chính kếtoán: có nhiệm vụgiám sát bằng tiền đối với các tài sản và hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Đại học Ki nh t ế́
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVH D: PGS.TS Nguyễn Văn Phát
- Xi măng PCB30 nhãn hiệuĐầu Rồng của Công ty cổ phần Long Thọ được sản xuấttrên dây chuyền công nghệ tiên tiến.
Phòng Kỹ thuật và điều hành sản xuất có trách nhiệm theo dõi hoạt động của các phân xưởng sản xuất chính và phụ, đồng thời thực hiện kiểm tra chất lượng sản phẩm để đảm bảo hiệu quả và tiêu chuẩn.
Phòng vật tư: có nhiệm vụtheo dõi vấn đềcungứng vật tư, máy móc thiết bịcho sản xuất.
Phòng tổchức nhân sự: có nhiệm vụtheo dõi tình hình nhân sựcủa công ty trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Phòng hành chính bảo vệ: có nhiệm vụtheo dõi, kiểm tra tình hình an ninh trực tựcho công ty.
2.1.3 Chức năng và nhiệm vụcủa công ty
CTCP Long Thọ chuyên sản xuất và cung cấp các sản phẩm xây dựng như xi măng, gạch lát, ngói màu, gạch Block và gạch Terazzo Công ty nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng của thị trường miền Trung, đặc biệt là tỉnh Thừa Thiên Huế.
Sản xuất, kinh doanh xi măng, gạch lát Terazzo.
Khai thác mỏ đá vôi nguyên liệu và phụgia.
Xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp.
Kinh doanh VLXD và thiết bịsản xuất VLXD.
Không ngừng học hỏi nâng cao chất lượng sản phẩm.
Tạo việc làmổn định và tạo thu nhập cho người lao động.
Tìm kiếm thịtrường và gia tăng thịphần.
2.1.4 Các sản phẩm của công ty
Xi măng Long Thọ đãđược Nhà nước cấp giấy chứng nhận chất lượng TCVN
6260 - 1997 và được bình chọn là sản phẩm chất lượng cao trong nhiều năm liền.
Gạch lát Terazzo, được sản xuất tại CTCP Long Thọ, là loại gạch xi măng tiên tiến, được chế tạo theo công nghệ ép kín hơi hiện đại từ Italia.
Gạch Terazzo nổi bật với vẻ đẹp của chất liệu cấu thành nhờ vào cấu trúc đồng nhất và chắc chắn, được đánh bóng một cách tinh vi Với lực ép lên đến vài trăm tấn, gạch Terazzo đạt được các thông số kỹ thuật và chất lượng cao nhất mà không cần sử dụng cốt thép bên trong, kích thước viên gạch có thể lên tới 500×500cm.
Nguồn lực của công ty hiện nay
Lao động là yếu tố quan trọng trong sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế Trình độ năng lực và việc sử dụng lao động hợp lý là mối quan tâm hàng đầu của công ty Long Thọ Công ty đã xây dựng cơ cấu kinh tế và kỹ thuật phù hợp với quy mô sản xuất và đặc thù doanh nghiệp Nhận thức rõ tầm quan trọng của nguồn lao động, Long Thọ chú trọng vào tuyển dụng, đào tạo và bồi dưỡng nhân sự, nhằm tối ưu hóa hiệu quả lao động và tạo điều kiện cho nhân viên phát huy tối đa năng lực, góp phần xây dựng và phát triển công ty bền vững.
Hơn 40 năm từ khi khôi phục lại nhà máy Vôi Long Thọ, ảng bộCTCP Long Thọ đã lãnhđạo đơn vị ổlực phấn đấu thực hiện thắng lợi toàn diện nhiệm vụchính trịcủa Đảng và Nhà nướ giao cho Xây dựng đội ngũ công nghân tu dưỡng ý chí cách mạng hăng hái lao động và hiệu quảkinh tế” C ản xuất, đẩy mạnh phong trào thi đua “ ng với sựphát triển đó, nguồn nhân lự ăng suất chất lượng của công ty không ngừng phát triển vềcảs ố lượng và chất lượng.
SVTH : Lê Hữu Đăng 27 Lớp: K48A Quản trịkinh doanh Đại học Ki nh t ê Huê
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVH D: PGS.TS Nguyễn Văn Phát
Bảng 1: Quy mô và cơ cấu nhân sựcủa công ty qua 3 năm (2014-2016)
Số lao động % Số lao động % Số lao động % +/- % +/- %
-Đại học và trênđại học 34 8,50 34 8,46 34 8,46 0 0 0 0
- Trung học phổ thông, khác 349 87,25 350 87,06 350 87,06 1 0,28 0 0
3.Theo tính chất công việc
(Nguồn: Phòng Nhân sựcông ty Long Thọ). Đại học Ki nh t ế́
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVH D: PGS.TS Nguyễn Văn Phát
SVTH : Lê Hữu Đăng 29 Lớp: K48A Quản trịkinh doanh
Theo bảng số liệu, số lượng lao động của công ty trong các năm không có nhiều biến động, luôn duy trì trong khoảng 400 đến 402 người Cụ thể, số lao động nam tăng đều qua các năm, từ 256 người (64%) vào năm 2014 lên 264 người (65,67%) vào năm 2016 Ngược lại, số lượng lao động nữ lại giảm, với 142 người vào năm 2015, giảm 2 người so với năm trước.
Từ năm 2014 đến 2016, số lượng lao động phổ thông chiếm tỷ lệ cao trong tổng số lao động, với 349 người năm 2014 (87,25%) và chỉ tăng nhẹ vào năm 2015 Đến năm 2016, số lượng lao động phổ thông giảm nhẹ xuống còn 345 người (34,33%) Trong khi đó, số lượng nhân viên có trình độ Đại học và sau đại học giữ nguyên ở mức 34 người (8,5%) từ năm 2014 đến 2016 Số lượng nhân viên có trình độ Cao đẳng và trung cấp năm 2014 là 17 người (4,25%).
Năm 2015, số lượng lao động tăng thêm 1 người, đạt tổng cộng 346 lao động, chiếm 86,07% lao động trực tiếp, trong khi lao động gián tiếp là 56 người, chiếm 13,93% Tình hình này giữ nguyên cho đến năm 2016 So với năm 2014, khi có 345 lao động trực tiếp chiếm 86,25% và 55 lao động gián tiếp chiếm 13,75%, sự thay đổi này cho thấy sự gia tăng nhẹ trong lao động gián tiếp.
2.2.2 Cơ sởvật chất, trang thiết bịcủa công ty
CTCP Long Thọ hoạt động trên diện tích 18 hecta, luôn chú trọng đầu tư và nâng cấp cơ sở vật chất cùng trang thiết bị công nghệ hiện đại nhằm tăng cường năng lực sản xuất và tối đa hóa lợi nhuận Một số cơ sở vật chất tiêu biểu của công ty hiện nay bao gồm các trang thiết bị tiên tiến và quy trình sản xuất hiệu quả.
Dây chuyền nghiền xi măng: có công suất 82.000 tấn/năm, diện tích mặt bằng vào khoảng 20.000 m 2 , công nghệvà thiết bịdo Trung Quốc sản xuất.
Nhà máy sản xuất gạch Terazzo: công suất 100.000 m 2 /năm, diện tích mặt bằng khoảng 13.0000 m 2 , công nghệvà thiết bịdo OCEM (Italia) sản xuất.
Nhà máy sản xuất gạch Block: công suất 1.000.000 viên/năm, diện tích mặt bằng khoảng 10.000 m 2 , công nghệvà thiết bịdo Trung Quốc sản xuất.
Nhà máy sản xuất ngói màu: công suất 1.350.000 viên/năm, diện tích mặt bằng khoảng 10.000 m 2 , công nghệvà thiết bịdo Trung Quốc và Nhật Bản sản xuất.
Dây chuyền sản xuất tấm lợp Fibro: công suất 1.300.000 tấm/năm, diện tích mặt bằng vào khoảng 10.000 m 2 , công nghệvà thiết bịdo Trung Quốc và Nhật Bản sản xuất.
Công ty Long Thọ, với cơ sở vật chất và công nghệ hiện đại, đáp ứng nhanh chóng nhu cầu xây dựng của cá nhân và tổ chức không chỉ tại tỉnh mà còn mở rộng ra một số tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.
2.2.3 Tình hình tài chính của công ty trong giai đoạn 2014-2016
Vốn và tài sản đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty diễn ra liên tục và hiệu quả Chúng mang lại lợi thế cạnh tranh về quy mô sản xuất, chất lượng sản phẩm và công nghệ Việc quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn tài chính sẽ nâng cao hiệu suất kinh doanh Theo số liệu, nguồn vốn của công ty giảm từ 90.329.178.865 đồng năm 2014 xuống còn 89.826.213.337 đồng năm 2015, tương ứng với mức giảm 0,56% Năm 2016, nguồn vốn tiếp tục giảm xuống còn 81.202.122.725 đồng, giảm 9,6%, cho thấy công ty đang gặp khó khăn trong việc huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Cơ cấu nguồn vốn chủ sở hữu của công ty bao gồm vốn từ Nhà nước và lợi nhuận tích lũy từ các kỳ kinh doanh trước.
Trong giai đoạn 2014-2015, nợ phải trả của công ty có sự biến động đáng kể, cụ thể năm 2014 là 18.926.418.636 đồng, tăng lên 20.397.586.571 đồng vào năm 2015, tương ứng với mức tăng 1.471.167.935 đồng, tức là 7,77%.
Năm 2016, nợ phải trả của công ty đạt 12.019.543.870 đồng, giảm 8.378.042.701 đồng, tương đương giảm 41,07% so với năm 2015 Đáng chú ý, toàn bộ nợ phải trả của công ty đều xuất phát từ khoản nợ ngắn hạn.
SVTH : Lê Hữu Đăng 31 Lớp: K48A Quản trịkinh doanh Đại học Ki nh t ê Huê
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVH D: PGS.TS Nguyễn Văn Phát
Bảng 2: Tình hình nguồn vốn và tài sản của công ty Long Thọgiai đoạn 2014-2016
TÀI SẢN +/- % tăng, giảm +/- % tăng, giảm
2 Các khoản tương đương tiền 7.500,00 1.000,00 8.747,63 -6.500,00 -92,85 7.747,63 774,63
3 Đầu tư tài chính ngắn hạn 1.000,00 - 2.300,00 - - - -
4 Các khoản phải thu NH 2.755,66 5.686,92 4.801,39 2.931,26 106,37 -885,53 -15,57
6 Tài sản ngắn hạn khác 46.148,11 24.737,64 - - -21.410,47 -46,39
2 Tài sản dởdang dài hạn 359,99 1.196,19 1.525,72 836,20 232,28 329,53 27,54
3 Đầu tư tài chính dài hạn 3.596,25 2.596,25 2.096,25 -1.000,00 -27,80 -500 -19,25
4 Tài sản dài hạn khác 1.835,34 1.842,24 1.510,67 6,900 0,37 -331,57 -17,99
2 Nguồn KP và quỹ khác
(Nguồn: Phòng kếtoán công ty Long Thọ).
SVTH : Lê Hữu Đăng 30 Lớp: K48A Quản trịkinh doanh Đại học Ki nh t ế́
Khóa luận tốt nghiệp Đại học của GVH D: PGS.TS Nguyễn Văn Phát chỉ ra rằng giá trị tài sản ngắn hạn của công ty luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản Cụ thể, giá trị tài sản ngắn hạn năm 2014 đạt 63.787.791.781 đồng, giảm còn 59.691.914.681 đồng vào năm 2015, và tiếp tục giảm xuống 54.633.895.246 đồng vào năm 2016, cho thấy xu hướng giảm dần qua các năm Cụ thể, năm 2015 giảm 4.095.877.100 đồng (6,42%) so với năm 2014, và năm 2016 giảm 5.508.019.435 đồng (8,47%) Ngược lại, giá trị tài sản dài hạn năm 2015 tăng 3.592.911.572 đồng (13,54%), nhưng lại giảm 3.566.071.427 đồng (11,83%) vào năm 2016 so với năm 2015.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quảhoạt động kinh doanh của công ty Long Thọ
2.3.1 Các yếu tốthuộc môi trường vĩ mô
Việt Nam nổi bật với tình hình chính trị và pháp luật ổn định, thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp toàn cầu trong hoạt động sản xuất kinh doanh Những năm gần đây, sự nỗ lực của lãnh đạo và chính quyền trong việc củng cố và tuyên truyền pháp luật đã góp phần tạo nên an ninh và ổn định chính trị tại tỉnh Môi trường chính trị vững chắc giúp các doanh nghiệp, bao gồm công ty Long Thọ, yên tâm tập trung vào sản xuất kinh doanh mà không lo lắng về các yếu tố như an ninh, chiến tranh hay tệ nạn xã hội.
Trong bối cảnh kinh tế ổn định và ngành xây dựng tăng trưởng mạnh mẽ, tỉnh ghi nhận tổng sản phẩm tăng từ 7,5-8%, với ngành Công nghiệp-Xây dựng đạt mức tăng 8,5% Năm 2018, tỉnh đã đầu tư 20.000 tỷ đồng cho phát triển kinh tế xã hội, trong đó lĩnh vực xây dựng được ưu tiên hàng đầu Đồng thời, lãnh đạo thành phố và Sở Xây dựng cũng chú trọng đến việc phát triển đô thị, xây dựng các khu nhà ở và khu tái định cư.
Lê Hữu Đăng, sinh viên lớp K48A chuyên ngành Quản trị kinh doanh, nhấn mạnh rằng tỉnh có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các công ty trong ngành vật liệu xây dựng Điều này tạo cơ hội cho các doanh nghiệp như công ty Long Thọ mở rộng quy mô sản xuất và kinh doanh.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng và nâng cao chất lượng sản phẩm, công ty Long Thọ đã đầu tư thay thế máy móc cũ kỹ bằng thiết bị hiện đại, có công suất cao và tiết kiệm nguyên liệu Hiện tại, công ty đang xây dựng dây chuyền sản xuất xi măng bằng lò quay với công nghệ tiên tiến, đảm bảo các tiêu chí kỹ thuật và môi trường, với công suất thiết kế lên đến 82.000 tấn xi măng mỗi năm Việc ứng dụng công nghệ máy tính vào quản lý sản xuất đã giúp công ty theo dõi các thông số kỹ thuật và quản lý kế toán một cách nhanh chóng và chính xác.
Công ty Long Thọ có lợi thế lớn trong sản xuất kinh doanh nhờ vị trí gần núi đá vôi và nguồn đất sét dồi dào, chất lượng tốt và ổn định Hai nguyên liệu này là yếu tố chính trong sản xuất xi măng, ngói và gạch, giúp công ty tiết kiệm thời gian và chi phí vận chuyển.
Do đời sống xã hội ngày càng cải thiện và thu nhập bình quân đầu người tại tỉnh Thừa Thiên Huế hiện đạt 1.750 USD, nhu cầu về nhà ở và các công trình xây dựng cũng tăng lên Sự gia tăng thu nhập kéo theo yêu cầu về một cuộc sống đầy đủ và tiện nghi, đặc biệt là nhu cầu về nhà ở, sẽ gia tăng do điều kiện thời tiết khắc nghiệt ở Huế Điều này tạo cơ hội thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng, trong đó có công ty Long Thọ.
2.3.2 Các yếu tốthuộc môi trường vi mô
Khách hàng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động và kết quả sản xuất kinh doanh của công ty Long Thọ Hiện tại, khách hàng của công ty bao gồm các cá nhân và tổ chức có mối quan hệ tốt đẹp trong nhiều năm Công ty cũng hợp tác với nhiều đại lý để phân phối sản phẩm ra thị trường Các sản phẩm như gạch xây Block, gạch lát Terrazo, ngói màu và tấm lợp Fibro của Long Thọ được khách hàng tin tưởng sử dụng nhờ vào chất lượng tốt và giá cả hợp lý.
Các nhà cung cấp đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguyên vật liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Sự ổn định về số lượng và chất lượng của các yếu tố đầu vào từ nhà cung cấp sẽ giúp quá trình sản xuất diễn ra thuận lợi hơn Ngoài nguyên liệu chính là đất sét và đá vôi mà công ty có thể tự khai thác, còn có các nguyên liệu khác như than cám, thạch cao, đá bazan, vỏ bao và điện, cũng cần thiết cho việc sản xuất Clinker.
Lĩnh vực sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng (VLXD) tại tỉnh Thừa Thiên Huế đang diễn ra rất cạnh tranh với sự hiện diện của nhiều doanh nghiệp Công ty Long Thọ phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các thương hiệu xi măng nổi tiếng như Kim Đỉnh, Đồng Lâm, Vicem Hải Vân, Sông Gianh, Bỉm Sơn và Nghi Sơn Những thương hiệu này đã khẳng định được vị thế của mình trên thị trường và được khách hàng tin tưởng, khiến cho việc cạnh tranh trở nên khó khăn hơn cho công ty Long Thọ trong hoạt động kinh doanh của mình.
Đánh giá hiệu quảsản xuất kinh doanh của công ty qua 3 năm (2014- 2016)
2.4.1.Tình hình sản lượng tiêu thụqua 3 năm (2014-2016)
Sản lượng tiêu thụ ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu của công ty, vì vậy công ty luôn nỗ lực để tối đa hóa lượng sản phẩm bán ra thị trường Nhờ vào chính sách nhất quán về chất lượng và uy tín lâu năm, các sản phẩm của công ty trong những năm gần đây đã được thị trường đón nhận và tin tưởng sử dụng.
Theo bảng số liệu, sản lượng xi măng tiêu thụ của công ty đã giảm qua các năm Cụ thể, năm 2014, sản lượng tiêu thụ đạt 114.409,64 tấn, nhưng đến năm 2015, con số này giảm xuống còn 95.779,22 tấn, tương ứng với mức giảm 18.630,42 tấn, tức tỷ lệ giảm 16,28% so với năm trước Đến năm 2016, sản lượng xi măng tiêu thụ tiếp tục giảm xuống còn 93.455,52 tấn, giảm 2.323,7 tấn, tương đương với tỷ lệ giảm 2,42% so với năm 2015.
Sản lượng gạch Block tiêu thụtrong năm 2014 là 222.437,00 viên, sang năm
Năm 2015, sản lượng tiêu thụ đạt 523.490 viên, tăng 301.053 viên, tương ứng với tỷ lệ tăng 135,34% so với năm 2014 Đến năm 2016, sản lượng này tiếp tục tăng lên 657.567 viên, tăng 134.075 viên, tương đương với mức tăng 25,61% so với năm 2015.
Trong năm 2014, sản lượng tiêu thụ sản phẩm ngói màu đạt 241.703 viên Năm 2015, con số này tăng lên 292.815 viên, tương ứng với mức tăng 51.112 viên và tỷ lệ tăng 21,14% Đến năm 2016, sản lượng tiêu thụ tiếp tục đạt 314.120 viên, tăng 7,27% so với năm 2015.
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVH D: PGS.TS Nguyễn Văn Phát
SVTH : Lê Hữu Đăng 35 Lớp: K48A Quản trịkinh doanh
Bảng 3: Tình hình sản lượng tiêu thụcủa công ty qua 3 năm (2014-2016)
Chỉtiêu ĐVT Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016
Gạch Terazzo viên 1.824.437,00 2.343.151,00 2.375.522,00 518.714,00 28,43 32.371,00 13,81 Tấm lợp Fibro tấm 743.787,00 843.177,00 798.456,00 99.390,00 11,78 -44.721,00 -5,30
(Nguồn: Phòng Kếtoán, công ty Long Thọ). Đại học Ki nh t ế́
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVH D: PGS.TS Nguyễn Văn Phát
SVTH : Lê Hữu Đăng 36 Lớp: K48A Quản trịkinh doanh
Gạch Terazzo, sản phẩm nổi bật của công ty, được nhiều công trình công cộng ưa chuộng nhờ vào độ bền cao Năm 2014, sản lượng tiêu thụ gạch Terazzo đạt 1.824.437 viên, tăng 28,43% trong năm 2015 với 2.343.151 viên Đến năm 2016, sản phẩm này duy trì mức tiêu thụ cao với 2.375.522 viên, tăng 13,81% so với năm trước Ngược lại, sản phẩm tấm lợp Fibro có sự biến động ít hơn; năm 2014 tiêu thụ 743.747 tấm, tăng 13,36% lên 843.177 tấm vào năm 2015, nhưng giảm 5,30% xuống 798.456 tấm vào năm 2016.
2.4.2 Kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
2.4.2.1 Phân tích tình hình doanh thu của công ty
Doanh nghiệp nào cũng hướng tới mục tiêu tối đa hóa doanh thu với chi phí tối thiểu, vì doanh thu là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh Doanh thu không chỉ quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận Phân tích doanh thu giúp đánh giá quy mô và hiệu quả kinh doanh của công ty Theo bảng tình hình doanh thu trong 3 năm qua, doanh thu của công ty đã giảm liên tục, từ 169.559,65 triệu đồng năm 2014 xuống 150.461,15 triệu đồng năm 2015, tương ứng với mức giảm 11,28% Năm 2016, doanh thu tiếp tục giảm nhẹ xuống còn 149.234,73 triệu đồng, giảm 0,81% so với năm 2015.
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVH D: PGS.TS Nguyễn Văn Phát
SVTH : Lê Hữu Đăng 38 Lớp: K48A Quản trịkinh doanh
Bảng 4: Tình hình doanh thu của công ty qua 3 năm (2014-2016)
Chỉtiêu Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 So sánh
Giá trị% Giá trị% Giá trị% +/- % tăng, giảm
+/- % tăng, giảm Tổng doanh thu 169.599,65 100 150.461,15 100 149.234,73 100 -19.138,50 -11,28 -1.226,42 -0,81 1.Doanh thu tiêu thụ166.011, 30 97,88 150.018,97 99,70 148.918,98 99,78 -15.992,32 -9,63 -1.099,99 -0,73
2.Doanh thu hoạt động tài chính
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm chiếm lớn nhất trong tổng doanh thu của công ty
Trong năm 2014, doanh thu tiêu thụ đạt 166.011,30 triệu đồng, nhưng đến năm 2015, con số này giảm mạnh xuống còn 150.461,15 triệu đồng, tương đương với mức giảm 15.992,32 triệu đồng, tức giảm 9,63% so với năm trước Năm 2016, doanh thu tiêu thụ tiếp tục giảm xuống còn 148.918,98 triệu đồng, với mức giảm 1.099,99 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm 0,733% so với năm 2015 Sự giảm sút liên tiếp của doanh thu tiêu thụ đã ảnh hưởng đáng kể đến tổng doanh thu của công ty.
Doanh thu từ hoạt động tài chính của công ty chủ yếu đến từ lãi tiền gửi ngân hàng, trong khi thu từ chênh lệch tỷ giá hối đoái chiếm tỷ lệ nhỏ Cụ thể, doanh thu tài chính năm 2014 đạt 477,56 triệu đồng, nhưng giảm xuống còn 278,54 triệu đồng vào năm 2015, tương ứng với mức giảm 41,67% Đến năm 2016, doanh thu từ hoạt động tài chính có sự phục hồi nhẹ, đạt 297,53 triệu đồng, tăng 6,81% so với năm trước.
Khoản doanh thu khác của công ty đã giảm mạnh qua các năm Cụ thể, năm 2014, doanh thu khác đạt 3.110,97 triệu đồng, nhưng đến năm 2015, con số này giảm xuống chỉ còn 163,64 triệu đồng, tương ứng với mức giảm 2.947,15 triệu đồng và tỷ lệ giảm 94,74% Năm 2016, doanh thu khác tiếp tục giảm xuống còn 18,22 triệu đồng, với mức giảm 145,42 triệu đồng và tỷ lệ giảm 88,86% so với năm 2015.
Doanh thu chính của công ty chủ yếu đến từ việc tiêu thụ sản phẩm, trong khi đó, doanh thu này lại phụ thuộc vào quy mô và mức tiêu thụ của thị trường mà công ty hoạt động Để có cái nhìn tổng quát hơn về doanh thu theo từng thị trường, dưới đây là bảng doanh thu phân theo thị trường của công ty.
SVTH : Lê Hữu Đăng 40 Lớp: K48A Quản trịkinh doanh Đại học Ki nh t ê Huê
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVH D: PGS.TS Nguyễn Văn Phát
Bảng 5: Doanh thu theo khu vực thịtrường của công ty giai đoạn 2014-2016
Chỉtiêu Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 So sánh
(Phòng kế toán công ty Long Thọ). Qua bảng doanh thu theo khu vực thị trường của công ty trong giaiđoạn 2014-
Từ năm 2014 đến 2016, doanh thu của công ty tại tỉnh ghi nhận xu hướng giảm dần, với doanh thu năm 2014 đạt 115.635,18 triệu đồng, giảm xuống còn 94.152,23 triệu đồng vào năm 2015, tương ứng với tỷ lệ giảm 18,57% Năm 2016, doanh thu trong tỉnh tiếp tục giảm thêm 2.173,84 triệu đồng, tương đương với tỷ lệ giảm 2,3% so với năm trước Ngược lại, doanh thu ở thị trường ngoài tỉnh lại có xu hướng tăng liên tục trong ba năm qua.
2014, doanh thu của công ty ở thị trường ngoài tỉnh là 53.964,47 triệuđồng, sang năm
Doanh thu của công ty năm 2015 đạt 58.306,92 triệu đồng, tăng 2.344,45 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 4,34% Năm 2016, doanh thu tiếp tục tăng thêm 947,72 triệu đồng, tương đương với tỷ lệ tăng 1,68% so với năm 2015 Tuy nhiên, phân tích cho thấy doanh thu của công ty có xu hướng giảm qua các năm Do đó, công ty cần triển khai các giải pháp hiệu quả để cải thiện tình hình doanh thu và đảm bảo lợi nhuận trong thời gian tới.
2.4.2.2 Phân tích tình hình chi phí của công ty
Chi phí là một khía cạnh kinh tế thiết yếu, liên quan chặt chẽ đến quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa Nó phản ánh những hao phí lao động xã hội, được thể hiện qua các khoản tiền chi tiêu.
SVTH : Lê Hữu Đăng 39 Lớp: K48A Quản trịkinh doanh Đại học Ki nh t ế́
Chi phí của doanh nghiệp bao gồm tất cả các khoản chi phát sinh từ quá trình hình thành, tồn tại và phát triển, từ việc mua nguyên vật liệu cho đến khi tiêu thụ sản phẩm Sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phân tích tình hình biến động chi phí để có cái nhìn sâu sắc về việc sử dụng các khoản chi này Việc đánh giá chi phí không chỉ giúp doanh nghiệp quyết định tái sản xuất sản phẩm mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, vì chi phí càng thấp thì lợi nhuận càng cao.
Qua phân tích tình hình chi phí của công ty trong 3 năm, ta thấy sự biến động rõ rệt Cụ thể, tổng chi phí năm 2014 đạt 140.598,47 triệu đồng, nhưng năm 2015 đã tăng lên 147.922,28 triệu đồng, tương ứng với mức giảm 12.536,19 triệu đồng (7,81%) Đến năm 2016, tổng chi phí chỉ giảm nhẹ xuống còn 145.685,85 triệu đồng, với mức giảm 2.236,43 triệu đồng (1,51%) Sự biến động này phản ánh qua các yếu tố như chi phí nguyên vật liệu, chi phí tiền lương, chi phí tài chính, chi phí quản lý doanh nghiệp, các khoản giảm trừ doanh thu và các chi phí khác.
Phân tích hiệu quảhoạt động kinh doanh của công ty
Vốn là yếu tố đầu vào quan trọngđể hình thành hoạtđ ộng SXKD củabất cứ doanhnghiệpnào,vốnlànềntảngchosựpháttriểnbềnvữngcủacôngty,làđiều kiệnđể công ty
4 Đại học Ki nh t ê Huê
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVH D dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Văn Phát tập trung vào việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn thường xuyên Việc này giúp doanh nghiệp đánh giá thực trạng tài chính, xác định nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau, từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện để tối ưu hóa việc sử dụng vốn.
2.5.1.1 Hiệu quảsửdụng vốn cố định
Vốn cố định (VCĐ) đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến năng suất lao động và khối lượng sản phẩm Sự phát triển và hoàn thiện VCĐ không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn là điều kiện thiết yếu để doanh nghiệp tăng trưởng bền vững Để phân tích hiệu quả sử dụng VCĐ, các chỉ tiêu như hiệu suất sử dụng VCĐ, mức đảm nhiệm VCĐ và mức doanh lợi VCĐ thường được áp dụng.
Qua bảng phân tích hiệu quả sử dụng VCĐ, ta thấy rằng:
Hiệu suất sử dụng vốn cố định (VCĐ) là chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng sản xuất và doanh thu của công ty Trong ba năm qua, hiệu suất sử dụng VCĐ của công ty Long Thọ đã có những biến động nhẹ Cụ thể, vào năm 2014, công ty đạt hiệu suất sử dụng VCĐ là 8,03 lần, tức là mỗi đồng VCĐ đầu tư sẽ mang lại 8,03 đồng doanh thu Tuy nhiên, đến năm 2015, chỉ tiêu này giảm xuống còn 7,43, cho thấy sự giảm 0,6 lần so với năm trước.
2014 Sang năm 2016 thì hiệu suất sử dụng VCĐ của công ty là 7,49 lần, hay tăng 0,06 lần so với năm 2015.
Mức đảm nhiệm VCĐ của công ty trong năm 2014 là 0,12 lần, có nghĩa là để tạo ra một đồng doanh thu, công ty cần chi 0,12 đồng VCĐ Năm 2015, chỉ tiêu này tăng lên 0,14 lần, cho thấy công ty phải chi thêm 0,01 đồng VCĐ để đạt được cùng mức doanh thu Tuy nhiên, đến năm 2016, mức đảm nhiệm VCĐ giảm 0,01 đồng so với năm 2015, cho thấy công ty đã sử dụng VCĐ hiệu quả hơn trong việc tạo ra doanh thu Do đó, công ty cần thực hiện các biện pháp tối ưu hóa việc sử dụng VCĐ để nâng cao hiệu quả doanh thu.
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVH D: PGS.TS Nguyễn Văn Phát
SVTH : Lê Hữu Đăng 47 Lớp: K48A Quản trịkinh doanh
Mức doanh lợi VCĐ phản ánh số lợi nhuận sau thuế mà công ty có thể tạo ra từ mỗi đồng vốn cố định đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh Năm 2014, chỉ tiêu này đạt 0,33, nghĩa là mỗi đồng VCĐ mang về 0,33 đồng lợi nhuận sau thuế Tuy nhiên, đến năm 2015, mức doanh lợi VCĐ giảm xuống còn 0,19, giảm 0,14 so với năm trước Sang năm 2016, chỉ tiêu này tiếp tục giảm còn 0,18, cho thấy công ty chỉ thu về 0,18 đồng lợi nhuận cho mỗi đồng VCĐ Sự sụt giảm liên tục của mức doanh lợi VCĐ qua các năm cho thấy hiệu quả sử dụng vốn cố định đang giảm dần.
Vốn cố định là yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của công ty Do đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định là cần thiết để cải thiện hiệu quả sản xuất kinh doanh Phân tích cho thấy hiệu quả sử dụng vốn cố định để tạo ra lợi nhuận hiện chưa cao và có xu hướng giảm, vì vậy công ty cần nâng cao công tác quản lý và sử dụng vốn cố định để tăng doanh thu và lợi nhuận trong thời gian tới.
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVH D: PGS.TS Nguyễn Văn Phát
Bảng 8: Hiệu quảsửdụng vốn cố định của công ty qua 3 năm (2014-2016)
Chỉ tiêuĐVT Năm2014 Năm 2015 Năm 2016
1 Tổng doanh thu triệuđồng 169.599,65 150.461,15 149.234,73 -19.135,5 -11,28 -1.226,42 -0.81 2.Tổng lợi nhuận sau thuế triệuđ ồng 7.015,68 3.894,67 3,648,62 -3.120,98 -44,48 -245,95 -6,31 3.Vốn cố định triệuđ ồng 21.109,78 20.241,00 19.912,34 -868,78 -4,12 -328,66 -16,23
4.Hiệu suất sử dụngVCĐ(1/3) lần 8,03 7,43 7,49 -0,6 - 0,06 -
6.Mức doanh lợi VCĐ(2/3) lần 0,33 0,19 0,18 -0,14 - -0,01 -
(Nguồn: Phòng Kếtoán công ty Long Thọvà phân tích của tác giả). Đại học Ki nh t ế́
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVH D: PGS.TS Nguyễn Văn Phát
SVTH : Lê Hữu Đăng 50 Lớp: K48A Quản trịkinh doanh
2.5.1.2 Hiệu quảsửdụng vốn lưu động
Vốn lưu động (VLĐ) là số vốn thiết yếu giúp doanh nghiệp duy trì các tài sản lưu động, đáp ứng nhu cầu cơ bản trong sản xuất kinh doanh VLĐ đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Do đó, việc xác định nhu cầu VLĐ phù hợp với tính chất và quy mô sản xuất là cần thiết để tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh Để phân tích hiệu quả sử dụng VLĐ, các chỉ tiêu như số vòng quay VLĐ, mức đảm nhiệm VLĐ, mức doanh lợi VLĐ và độ dài vòng quay VLĐ sẽ được áp dụng.
Số vòng quay vốn lưu động (VLĐ) thể hiện hiệu quả đầu tư của mỗi đơn vị VLĐ vào hoạt động kinh doanh và tốc độ chu chuyển VLĐ Phân tích hiệu quả sử dụng VLĐ của công ty trong ba năm cho thấy, năm 2014, số vòng quay VLĐ đạt 2,68 vòng, có nghĩa là mỗi đồng VLĐ đầu tư mang lại 2,68 đồng doanh thu Tuy nhiên, năm 2015, chỉ tiêu này giảm xuống còn 2,44 vòng, giảm 0,18 vòng so với năm trước Đến năm 2016, số vòng quay VLĐ tăng nhẹ lên 2,5 vòng, cho thấy sự cải thiện trong hiệu quả sử dụng vốn.
Vào năm 2015, công ty đầu tư 1 đồng vốn lưu động (VLĐ) đã thu về 2,44 đồng doanh thu Đến năm 2016, với cùng mức đầu tư 1 đồng VLĐ, doanh thu tăng lên 2,50 đồng, cao hơn 0,06 đồng so với năm trước.
Mức đảm nhiệm vốn lưu động (VLĐ) cho biết số tiền VLĐ cần thiết để tạo ra một đồng doanh thu Năm 2014, mức này là 0,38 lần, nghĩa là công ty phải chi 0,38 đồng VLĐ để thu về 1 đồng doanh thu Đến năm 2015, mức đảm nhiệm VLĐ tăng lên 0,40 lần, cho thấy công ty cần 0,40 đồng VLĐ cho mỗi đồng doanh thu, điều này phản ánh hiệu quả sử dụng VLĐ giảm so với năm trước Năm 2016, mức đảm nhiệm VLĐ giảm nhẹ xuống còn 0,39 lần, tức là giảm 0,01 lần so với năm 2015.
Trong giai đoạn 2014-2015, chỉ tiêu mức doanh lợi vốn lưu động (VLĐ) của công ty ghi nhận nhiều biến động Cụ thể, năm 2014, mức doanh lợi VLĐ đạt 0,1, tức là với mỗi đồng đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty thu về 0,1 đồng lợi nhuận Tuy nhiên, năm 2015, chỉ tiêu này giảm xuống còn 0,06, cho thấy công ty chỉ thu được 0,06 đồng lợi nhuận cho mỗi đồng đầu tư, thấp hơn 0,04 đồng so với năm trước Điều này phản ánh hiệu quả sử dụng VLĐ kém hơn so với năm 2014 Đến năm 2016, mức doanh lợi VLĐ không có sự thay đổi so với năm 2015 Về độ dài vòng quay VLĐ, năm 2014 là 137 ngày, nhưng sang năm 2015, thời gian này tăng lên 147 ngày, cho thấy sự gia tăng trong độ dài vòng quay VLĐ.
10 ngày sao với năm 2014 Sang năm 2016, độ dài vòng quay VLĐ của công ty giảm xuống 3 ngày so với năm 2015. Đại học Ki nh t ế́
Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVH D: PGS.TS Nguyễn Văn Phát
SVTH : Lê Hữu Đăng 51 Lớp: K48A Quản trịkinh doanh
Bảng 9: Hiệu quảsửdụng vôn lưu động của công ty qua 3 năm (2014-
+/- % tăng, giảm 1.Tổng doanh thu triệuđ ồng 169.599,65 150.461,15 149.234,73 -19.138,50 -11,28 -1.226,42 -0,81 2.Tổng lợi nhuận sau thuế triệuđ ồng 7.015,65 3.894,67 3.648,62 -3.121,01 -44,49 -819,58 -10,46 3.Vốn lưu động triệuđ ồng 64.630,36 61.534,00 59.568,26 -3.096,36 -4,79 -1.965,74 -3,19
4.Số vòng quay VLĐ(1/3) vòng 2,62 2,44 2,50 -0,18 - 0,06 -
6.Mức doanh lợi VLĐ(2/3) lần 0,10 0,06 0,06 -0,04 - 0 -
7.Độ dài vòng quay VLĐ (360/4) ngày 137 147 144 10 - -3 -
(Nguồn: Phòng Kếtoán công ty Long Thọvà tính toán của tác giả)
Qua phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động (VLĐ) của công ty trong 3 năm, nhận thấy rằng hiệu quả tạo ra doanh thu và lợi nhuận chưa thực sự tốt Các chỉ tiêu như mức đảm nhiệm VLĐ và mức doanh lợi VLĐ đều có xu hướng giảm qua từng năm Do đó, công ty cần áp dụng các biện pháp quản lý và chính sách sử dụng VLĐ hợp lý nhằm tăng cường lợi nhuận trong những năm tới.
2.5.1.3 Phân tích hiệu quảsửdụng vốn chủsởhữu
Nguồn vốn chủ sở hữu đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, giúp tạo ra sức mạnh tài chính và lợi thế cạnh tranh trên thị trường Tại công ty Long Thọ, vốn chủ sở hữu luôn chiếm tỷ lệ cao (>75%) trong cơ cấu nguồn vốn, do đó, việc quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh doanh Để có cái nhìn toàn diện về công tác quản lý và sử dụng vốn chủ sở hữu, chúng ta sẽ phân tích hiệu quả sử dụng vốn này qua ba năm từ 2014 đến 2016.
Theo bảng kết quả phân tích, hiệu suất sử dụng vốn chủ sở hữu (VCSH) của công ty cho thấy rằng mỗi đồng đầu tư vào VCSH sẽ tạo ra một lượng doanh thu nhất định Cụ thể, năm 2014, hiệu suất này đạt 2,38 lần, tức là mỗi đồng VCSH đầu tư mang lại 2,38 đồng doanh thu Tuy nhiên, đến năm 2015, chỉ tiêu này giảm xuống còn 2,16 lần, giảm 0,22 lần so với năm trước Sang năm 2016, hiệu suất sử dụng VCSH tiếp tục giảm, chỉ còn 2,15 lần, tức là giảm 0,01 đồng doanh thu so với năm 2015.
Từ năm 2015, phân tích cho thấy hiệu suất sử dụng vốn chủ sở hữu (VCSH) của công ty đã giảm qua các năm, điều này chỉ ra rằng hiệu quả sử dụng VCSH trong việc tạo ra doanh thu cũng đang có xu hướng giảm dần.