Khái niệm về lạm phát
Ban đầu chưa cómôṭ đinḥ nghiã thống nhất vềlaṃ phát, vì vậy đã có nhiều quan điểm khác nhau của các nhàkinh tếhocg̣ như:
Theo Karl-Marx : “Laṃ phát làsư g̣phát hành tiền măṭquámức cần thiết.”
V.LLenine: “Laṃ phát làsư g̣thừa ứ tiền giấy trong lưu thông.”
Miltan Friedman: “Laṃ phát bao giờởđâu bao giờcũng làmột hiện tượng cửa tiền tê.g̣”
R.Dornbusch vàFisher: “Laṃ phát làtinh̀ trangg̣ mức giáchung của nền kinh tếtăng lên.”
Các khái niệm trên đều dưạ trên đăcg̣ trưng :
Lươngg̣ tiền lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá.
Lạm phát là hiện tượng kinh tế khách quan xảy ra khi lượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết, dẫn đến việc tiền mất giá và giá cả của hầu hết các loại hàng hóa đồng loạt tăng lên.
Phân loại lạm phát
Phân loại theo mức độ của tỷ lệ lạm phát hay dựa theo định lượng
Lạm phát vừa phải là tình trạng khi giá cả hàng hóa tăng chậm, thường dưới 10% mỗi năm Hiện nay, nhiều quốc gia phát triển thuộc khu vực TBCN đang trải qua tình trạng lạm phát này.
Lạm phát phi mã: Lạm phát phi mã xảy ra khi giả cả bắt đầu tăng với tỷ lệ hai hoặc ba con số như 20%, 100% hoặc 200% một năm.
Siêu lạm phát: Xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng gấp nhiều lần ở mức 3 con sốhằng năm trởlên.
Ví dụ: Lạm phát ở Zimbabwe
Căn cứ vào định tính
Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng:
Lạm phát cân bằng xảy ra khi mức tăng giá tương ứng với thu nhập thực tế của người lao động và phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả là, loại lạm phát này không ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống hàng ngày của người lao động và nền kinh tế nói chung.
Lạm phát không cân bằng: Tăng không tương ứng với thu nhập của người lao động.Trên thực tế loại lạm phát này cũng thường hay xảy ra.
Lạm phát dự đoán trước được và lạm phát bất thường:
Lạm phát dự đoán trước là loại lạm phát xảy ra hàng năm trong một thời gian dài với tỷ lệ ổn định, cho phép người dân dễ dàng dự đoán tỷ lệ lạm phát trong các năm tiếp theo Tâm lý của người dân đã quen với tình trạng này giúp họ chuẩn bị tốt hơn, từ đó không gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống và nền kinh tế.
Lạm phát bất thường là hiện tượng xảy ra đột ngột, chưa từng xuất hiện trước đó, gây ảnh hưởng lớn đến tâm lý và đời sống của người dân Sự bất ngờ này khiến người dân khó có thể thích nghi, dẫn đến những biến động trong nền kinh tế và làm giảm niềm tin của họ vào chính quyền.
Thiểu phát
Thiểu phát là hiện tượng lạm phát ở mức rất thấp, gây khó khăn trong quản lý kinh tế vĩ mô Tại Việt Nam, nhiều người thường nhầm lẫn thiểu phát với giảm phát, tức là sự suy giảm liên tục của mức giá chung Không có tiêu chí chính xác về tỷ lệ lạm phát nào được coi là thiểu phát, nhưng một số tài liệu cho rằng tỷ lệ dưới 3-4% mỗi năm có thể được xem là thiểu phát Tuy nhiên, ở các quốc gia như Đức và Nhật Bản, tỷ lệ lạm phát 3-4% được coi là trung bình, không phải là thiểu phát Trong giai đoạn 2002-2003, Việt Nam ghi nhận tỷ lệ lạm phát 3-4%, nhưng nhiều nhà kinh tế học trong nước lại cho rằng đây là thiểu phát.
Đo lường lạm phát
Chỉ số giá tiêu dùng
Chú ý: Trong khi tính toán thì phải chọn 1 số nhóm hàng tiêu dùng mang tính chất đại diện từ đó khảo sát biến động giá.
CPIt: Chỉ số giá tiêu dùng của năm t
Pi t và Pi 0 là mức giá của sản phẩm i trong năm t và năm 0
Qi 0 là sản lượng sản phẩm i trong năm 0
− 60% thực phẩm; − Giá thực phẩm tăng 8%,
− 20% cho giáo dục − Giáo dục tăng 5%
(tỉ lệ lạm phát là 7%)
Chỉ số giảm phát theo GDP (Id)
Id của năm t được tính theo công thức:
Pi t : đơn giá sản phẩm loại i ở năm t
Pi o : đơn giá sản phẩm i ở năm gốc
So sánh CPI và Id ta thấy có 3 điểm khác nhau:
Id thể hiện mức giá trung bình của tất cả hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nền kinh tế, trong khi CPI phản ánh giá của những hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng thực sự mua.
Id phản ánh giá của hàng hóa sản xuất trong nước, vì vậy khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng, sự thay đổi này chỉ được thể hiện trong chỉ số giá tiêu dùng (CPI) mà không ảnh hưởng đến Id.
CPI được tính toán dựa trên một giỏ hàng hóa cố định, trong khi chỉ số Id lại sử dụng giỏ hàng hóa thay đổi theo thời gian.
Chỉ số giá bán buôn
có thuế) Chỉ số này rất giống với PPI.
Các nguyên nhân gây ra lạm phát
Lạm phát do cầu kéo
Diễn ra do tổng cầu AD tăng nhanh hơn tiềm năng sản xuất của một quốc gia, sẽ gây ra sự tăng giá cả và lạm phát xảy ra.
Giá tăng từ PO tới P1 (từ PO đến P1 là lạm phát- Hình 1)
Khu vực tư nhân lạc quan về nền kinh tế, nên tiêu dùng tự định và đầu tư tự định tăng lên.
Chính phủ tăng chi tiêu.
Ngân hàng trung ương tăng lượng cung tiền.
Người nước tăng mua hàng hóa và dịch vụ trong nước.
Kết quả đường tổng cầu AD sẽ dịch chuyển sang phải, trong ngắn hạn sẽ làm cho sản lượng tăng lên, đồng thời mức giá chung tăng lên.
Lạm phát do chi phí đẩy
Sự sụt giảm trong tổng cung do chi phí sản xuất tăng lên đã dẫn đến việc đường tổng cung dịch chuyển sang trái từ ASO sang AS1 Hệ quả là sản lượng giảm từ YO xuống Y1, trong khi mức giá tăng từ PO lên P1, gây ra tình trạng suy thoái kết hợp với lạm phát trong nền kinh tế.
Hình 2 Các nhân tố làm tăng chi phí:
Chi phí tiền lương gia tăng do áp lực từ công đoàn và chính sách điều chỉnh lương của chính phủ Sự tăng lương này vượt mức tăng năng suất lao động, dẫn đến việc đẩy chi phí sản xuất lên cao.
Lơị nhuâṇ : Nếu doanh nghiêpg̣ cóquyền lưc thi g̣trường (đôcg̣ quyền, nhóm đôcg̣ quyền) có thể đẩy giátăng lên đểkiếm lơị nhuâṇ cao hơn
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu, doanh nghiệp thường phải nhập khẩu một lượng lớn nguyên liệu từ nước ngoài khi chi phí nguyên liệu trong nước tăng cao do nhiều yếu tố ngoài tầm kiểm soát Điều này dẫn đến việc doanh nghiệp buộc phải chấp nhận mua nguyên liệu với giá cao hơn.
Tỉ giá hối đoái ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả hàng hóa trong nước Khi đồng nội tệ mất giá, hàng hóa trong nước trở nên rẻ hơn so với hàng hóa nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu Tuy nhiên, điều này cũng làm tăng chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu, gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc duy trì hoạt động sản xuất.
Khi giá cả hàng hóa toàn cầu tăng, các doanh nghiệp trong nước sẽ phải đối mặt với chi phí cao hơn nếu sử dụng những hàng hóa này làm nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh.
Những cúsốc từ bên ngoài: Các cuộc khủng hoảng về nguyên liệu , vâṭliêụ chính như dầu mỏ, sắt thép ,than đá,…làm chi phí sản xuất tăng.
Sư g̣thiếu huṭcác nguồn tài nguyên cũng đẩy giácảtăng khi bi g̣khai thác caṇ kiêṭ.
Lạm phát theo thuyết số lượng tiền tệ
tiền thừa quá nhiều trong lưu thông gây ra và được giải thích bằng phương trình sau:
• M: lượng cung tiền danh nghĩa • P: chỉ số giá
• V: tốc độ lưu thông tiền tệ • Y: sản lượng thực
Giả thiết rằng V và Y không thay đổi, chỉ số giá sẽ phụ thuộc vào lượng cung tiền danh nghĩa Khi cung tiền tăng, mức giá sẽ tăng theo tỷ lệ tương ứng, dẫn đến sự xuất hiện của lạm phát.
Thuyết này chỉ đúng khi V và Y không đổi.
Tác động của lạm phát
Lạm phát có sự ảnh hưởng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế-xã hôịtùy theo mức đô g̣của nó.
Lạm phát ở mức độ vừa phải có tác động tích cực đến nền kinh tế, giúp thúc đẩy sự phát triển Chính phủ thường duy trì lạm phát ở mức này như một chất xúc tác nhằm kích thích hoạt động kinh tế.
Khi lạm phát xảy ra, sự phân phối lại thu nhập và của cải trở nên không công bằng Những người sở hữu tài sản và vay nợ có lợi khi giá trị tài sản tăng lên, trong khi giá trị đồng tiền giảm sút Ngược lại, những người làm công ăn lương, cho vay và gửi tiền thường bị thiệt hại do lạm phát, dẫn đến sự mất giá của thu nhập và tiết kiệm của họ.
Lạm phát cao gây bất ổn cho nền kinh tế, làm tăng giá hàng hóa và dẫn đến tình trạng đầu cơ tích trữ Điều này cũng ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái và khiến hoạt động tín dụng rơi vào khủng hoảng, khi nguồn tiền gửi giảm nhanh chóng.
Ngoài ra lạm phát còn tác động đến tỉ lệ thất nghiệp: khi laṃ phát tăng thì thất nghiêpg̣ giảm xuống vàngươcg̣ laị.
Thực trạng lạm phát ở Việt Nam
Lạm phát việt nam qua các giai đoạn
2.1.1 Giai đoạn đất nước việt nam đang bị thực dân và đế quốc đô hộ.
Trong giai đoạn 1938-1945, Ngân hàng Đông Dương đã hợp tác với chính quyền thực dân Pháp, dẫn đến việc lạm phát đồng tiền Đông Dương nhằm thu gom tài sản của người dân Việt Nam để hỗ trợ cho cuộc chiến chống phát xít Đức Hệ quả nghiêm trọng của tình trạng lạm phát này là người dân Việt Nam phải đối mặt với mức giá sinh hoạt tăng gấp 25 lần từ năm 1939 đến 1945, gây ra nhiều khó khăn cho cuộc sống hàng ngày của họ.
Trong giai đoạn 1946-1954, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã phát hành đồng tài chính mới thay thế đồng Đông Dương, nhằm huy động sức người và sức của toàn dân Cuộc kháng chiến kéo dài 9 năm chống thực dân Pháp đã đạt được thành công lớn, giải phóng hoàn toàn nửa đất nước.
Trong giai đoạn 1955-1965, chính phủ tay sai của Mỹ tại miền Nam Việt Nam đã liên tục đối mặt với tình trạng lạm phát do cuộc chiến tranh chống lại phong trào giải phóng dân tộc Mặc dù nhận được một lượng lớn viện trợ từ Mỹ, trị giá hàng trăm tỷ USD, nhưng điều này vẫn không đủ để bù đắp cho các chi phí chiến tranh.
Trong giai đoạn 1965-1975, miền Bắc Việt Nam phải đối mặt với cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, nhằm chống lại chiến tranh phá hoại của Mỹ và giải phóng miền Nam để thống nhất đất nước Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phát hành số tiền gấp ba lần so với năm 1965 để mobil hóa toàn dân, đánh bại quân xâm lược Mỹ và tay sai ở cả hai miền Sự hỗ trợ từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa đã góp phần quan trọng vào thành công này.
(XHCN) anh em đã hạn chế được lạm phát trong thời kì này.
Trong giai đoạn này, mặc dù được coi là không có lạm phát theo quan niệm kinh tế chính trị phổ biến tại các nước XHCN, thực tế tại Việt Nam vẫn ghi nhận sự tồn tại của lạm phát, thể hiện qua tình trạng khan hiếm hàng hóa và dịch vụ, cũng như sự gia tăng giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng lên đến hơn 20% mỗi năm Đây là biểu hiện của một nền kinh tế kém phát triển đang trong quá trình chuyển đổi cơ chế, nơi mà độc quyền nhà nước vẫn chiếm ưu thế và được duy trì bởi các chỉ thị của nhà nước Trong thời kỳ này, khu vực kinh tế Nhà Nước chiếm khoảng 85-87% vốn cố định và 95% lao động lành nghề, nhưng chỉ tạo ra 30-37% tổng sản phẩm xã hội, trong khi khu vực kinh tế tư nhân chỉ đóng góp 13,2% sức lao động xã hội.
Năm 1986, mặc dù chịu nhiều sức ép kiềm chế, Việt Nam vẫn sản xuất từ 32-43% tổng sản phẩm xã hội và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất so với khu vực kinh tế quốc doanh và hợp tác xã Lạm phát diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế đóng cửa, phụ thuộc nhiều vào nguồn viện trợ bên ngoài Trước năm 1988, Việt Nam không thu hút được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, trong khi các biên giới đều bị khép kín với chế độ xuất nhập cảnh và lưu thông hàng hóa rất nghiêm ngặt.
Cơ cấu kinh tế Việt Nam chủ yếu mang tính hướng nội và khép kín, chủ yếu thay thế hàng nhập khẩu mà không khuyến khích xuất khẩu Chính sách phát triển và đầu tư hiện tại đang gặp nhiều bất cập, dẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các lĩnh vực như công nghiệp - nông nghiệp, công nghiệp nặng - công nghiệp nhẹ, đặc biệt là trong sản xuất hàng tiêu dùng và dịch vụ Tình trạng này đã gây ra khan hiếm hàng hóa, dịch vụ, tăng chi phí sản xuất, thiếu hụt ngân sách kéo dài, và làm tăng cung tiền không theo quy luật lưu thông, từ đó dẫn đến lạm phát.
Thời kỳ từ năm 1981 đến 1988 chứng kiến lạm phát cao và không ổn định, với tỷ lệ lạm phát luôn trên 100% mỗi năm Mặc dù có sự giảm nhẹ vào năm 1983 và 1984, lạm phát đã tăng vọt lên 557% vào năm 1986 trước khi giảm trở lại Tuy nhiên, vấn đề lạm phát không được thừa nhận trong các văn kiện chính thức và chủ yếu được xử lý qua các giải pháp hành chính liên quan đến “giá - lương - tiền”, như việc điều chỉnh giá cả trong khu vực thị trường có tổ chức vào các năm 1981, 1983 và 1987.
Năm 1985, chính sách "bù vào giá lương" được áp dụng trong bối cảnh siêu lạm phát ba chữ số diễn ra liên tục từ 1986 đến 1988, đạt đỉnh điểm trong lịch sử kinh tế hiện đại của Việt Nam suốt nửa thế kỷ qua.
Kể từ năm 1988, chính phủ Việt Nam đã nỗ lực kiềm chế lạm phát từ mức 3 chữ số xuống còn 1 chữ số, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế Mặc dù lạm phát được kiểm soát, nền kinh tế vẫn duy trì mức tăng trưởng cao và ổn định, với tỷ lệ bình quân hàng năm đạt từ 7 đến 8%.
Bảng 1: Tăng trưởng kinh tế và lạm phát (tỷ lệ %)
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng trong giai đoạn 1996 đến 2005 cho thấy một xu hướng rõ rệt, với đáy ở năm 2000 và hai đỉnh cao lần lượt là năm 1996 và 2005.
Trong giai đoạn 1996 đến 2005, giá tiêu dùng chung tại Việt Nam đã tăng 51%, theo chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 hàng năm Mặc dù giá tiêu dùng tăng, nhưng tốc độ này vẫn thấp hơn mức tăng của thu nhập bình quân đầu người, với thu nhập bình quân năm 2004 đạt 484,4 nghìn đồng, tăng 64,2% so với năm 1999.
(295,0 nghìn đồng) Điều đó chứng tỏ đời sống của người dân được cải thiện.
Bảng 2: Chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam từ 1995 đến 2005
( Nguồn: Tổng cục Thống kê)
05 Chỉ số giá tiêu 1,127 1,045 1,036 1,092 1,001 0,994 1,008 1,04 1,03 1,095 1,084 1,51 dùng
Thực 1,193 1,163 1,021 1,086 1,005 0,993 1,002 1,079 1,029 1,171 1,12 1,88 phẩm Đồ uống 1,193 1,160 1,021 1,053 1,026 1,003 1,011 1,036 1,035 1,036 1,049 1,51 thuốc lá
May mặc,giày 1,078 1,032 1,032 1,023 1,019 1,004 1,008 1,011 1,034 1,041 1,05 1,28 dép, mũ nón
Thiết bị và đồ 1,053 1,012 1,042 1,025 1,035 1,023 1,009 1,008 1,019 1,036 1,048 1,29 dùng gia đình
Phương tiện đi 1,05 1,032 1,08 1,03 1,016 1,019 0,953 1,017 0,98 1,059 1,091 1,30 lại, bưu điện
Văn hóa, thể, giải 1,117 0,993 1,027 1,013 1,019 1,009 1,002 0,99 0,987 1,022 1,027 1,09 trí
Hàng hóa và dịch 1,098 1,085 1,087 1,04 1,031 1,041 1,014 1,02 1,043 1,052 1,06 1,58 vụ khác
Chỉ số giá đô la 0,994 1,012 1,142 1,096 1,011 1,034 1,038 1,021 1,202 1,004 1,009 1,71 Mỹ
Phân tích biến động giá cả theo 10 nhóm hàng xếp theo thứ tự nhóm có tốc độ tăng giá cao nhất đến thấp nhất như sau:
Nhóm dược phẩm và dịch vụ y tế tăng 65%,
Đồ uống và thuốc lá tăng 51%,
Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 43%,
Phương tiện đi lại, bưu điện tăng 30%,
Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 29%,
May mặc, giày dép, mũ nón tăng 28%,
Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 58%
Trong 10 nhóm hàng, nhóm thực phẩm và nhóm dược phẩm cùng dịch vụ y tế ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao nhất Điều này cho thấy đời sống của những người nghèo, những người có thu nhập chủ yếu dành cho thực phẩm, không có nhiều cải thiện.
Từ năm 2001, Việt Nam đã chủ yếu tập trung vào xuất khẩu các ngành thâm dụng lao động như công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp Kim ngạch xuất khẩu của các ngành này tăng trưởng mạnh mẽ, đồng thời chỉ số giá tiêu dùng cũng ghi nhận sự gia tăng đáng kể.
Bảng 3: Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 1995-2005
Hàng công nghiệp nặng và khóang sản
Hàng công nghiệp nhẹ và TTCN (%)
Bảng 4: Cơ cấu kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 1995-2005
Tư liệu sản xuất chiếm (%)
Yếu tố giá hàng nhập khẩu có ảnh hưởng rõ rệt đến tình hình lạm phát Cụ thể, trong các năm 1998, 1999, 2001 và 2002, khi giá hàng nhập khẩu giảm, lạm phát cũng giảm theo trong các năm 1999 và 2000 Ngược lại, khi giá nhập khẩu tăng lên trong những năm tiếp theo, chỉ số giá tiêu dùng cũng tăng tương ứng.
Như vậy, mối tương quan giữa chỉ số giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng là khá chắc chắn.
Các chính sách của nhà nước trong giai đoạn hiện nay
Vào tháng 6 năm 2007, lạm phát gia tăng nhanh chóng với chỉ số giá CPI đạt gần 1%, đánh dấu sự khác biệt so với xu hướng giá cả trong hơn một thập kỷ trước Chính phủ đã nhanh chóng nhận diện tín hiệu lạm phát này và triển khai các chỉ thị để xử lý tình hình.
Ngày 01/8/2007 Thủ tướng chính phủ ban hành chỉ thị số 18/2007/CT- TTg về một số biện pháp cấp bách kiềm chế tốc độ tăng thị trường.
Thủ tướng yêu cầu rà soát các chính sách điều hành tiền tệ nhằm kiểm soát tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và huy động tín dụng Cần thực hiện các biện pháp nghiệp vụ thị trường mở để điều tiết lượng tiền lưu thông hợp lý, đồng thời giữ ổn định tỷ giá hối đoái và các lãi suất chủ đạo của đồng tiền Việt Nam, tránh xảy ra đột biến trên thị trường tiền tệ.
Rà soát và tập trung vốn đầu tư cho các dự án quan trọng, điều chỉnh vốn cho những công trình triển khai chậm sang các dự án cấp thiết cần sớm đưa vào sử dụng Phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan để tháo gỡ vướng mắc về cơ chế, chính sách nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ, tín dụng nhà nước và ODA, đặc biệt trong lĩnh vực giao thông vận tải và nông nghiệp Thực hiện ứng vốn cho các dự án gặp khó khăn và tăng cường quản lý, giám sát thị trường chứng khoán để ổn định và bền vững Đồng thời, lựa chọn các công ty uy tín để phát hành cổ phiếu, thu hút tiền lưu thông cho sản xuất Tăng cường quản lý thị trường, chống gian lận thương mại và kiểm tra chất lượng hàng hóa theo tiêu chuẩn đã công bố, kết hợp với kiểm tra niêm yết giá và bán hàng theo giá niêm yết.
Vào ngày 31/10, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 23/2007/CT-TTg nhằm tăng cường thực hiện các giải pháp điều hành giá cả và ổn định thị trường trong những tháng cuối năm 2007, đồng thời chuẩn bị cho Tết Nguyên đán Mậu Tý.
Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phối hợp chặt chẽ với các hiệp hội ngành hàng để thực hiện các giải pháp quyết liệt nhằm duy trì sự ổn định của các cân đối kinh tế vĩ mô Đồng thời, cần kiên quyết thực hiện các biện pháp được nêu trong Chỉ thị số 18/2007/CT-TTg, ban hành ngày 01 tháng 9 năm 2007, nhằm kiểm soát tốc độ tăng giá thị trường.
Tiếp tục thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tiết kiệm và chống lãng phí, đặc biệt trong tiêu dùng điện, xăng, dầu, chi phí sản xuất kinh doanh và xây dựng cơ bản Đồng thời, cần tiết kiệm trong tổ chức hội nghị, tổng kết cuối năm và các buổi gặp mặt đón mừng năm mới.
Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục thực hiện các biện pháp đồng bộ để rút tiền khỏi lưu thông, đồng thời cơ cấu lại tín phiếu bán ra có kỳ hạn ngắn Ngân hàng cần mua ngoại tệ ở mức độ hợp lý nhằm tăng cường dự trữ ngoại hối, kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán một cách hợp lý, tránh tình trạng tăng giá hoặc mất giá quá mức của đồng tiền Việt Nam.
Bộ Tài chính tiếp tục triển khai kế hoạch phát hành trái phiếu Chính phủ năm
Vào năm 2007 và 2008, nhằm mục đích hút bớt tiền về, chính phủ đã phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các bộ, ngành liên quan để thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân cho các dự án đầu tư của Nhà nước, từ đó tăng cường khả năng hấp thụ vốn cho nền kinh tế.
Bộ Tài chính, phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, Bộ Y tế và các địa phương, đang tăng cường kiểm tra và quản lý giá các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, bất động sản, thuốc chữa bệnh, sắt thép và gas Các địa phương được chỉ đạo đẩy mạnh kiểm soát giá, ngăn chặn tình trạng độc quyền và định giá bất hợp lý, cũng như hành vi đầu cơ nâng giá và không niêm yết giá Bộ Tài chính cam kết xử lý nghiêm các vi phạm theo quy định của Pháp lệnh Giá.
Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lên kế hoạch chuẩn bị hàng hóa đầy đủ với giá ổn định nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tý, đảm bảo vui vẻ, an toàn và tiết kiệm.
Bộ Thông tin và Truyền thông yêu cầu các cơ quan truyền thông phối hợp với các Bộ, ngành để nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp và người tiêu dùng về các biện pháp điều hành giá của Nhà nước Mục tiêu là tạo sự đồng thuận, từ đó ngăn chặn tâm lý đẩy giá lên cao trong thị trường.
Mặc dù các chính sách kinh tế đã được áp dụng, nhưng lạm phát vẫn chưa được kiểm soát và tiếp tục diễn biến ở mức cao.
Trong bối cảnh lạm phát cao, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chủ động rút bớt tiền ra khỏi nền kinh tế bằng cách sử dụng các công cụ tài chính hiệu quả.
Tăng thêm 1% tỉ lệ dự trữ bắt buộc ( Quyết định số 187/QĐ-NHNN ) ngày 16/1/2008.
Vào ngày 13/2/2008, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã phát hành tín phiếu bắt buộc trị giá 20.300 tỷ đồng với kỳ hạn 1 năm và lãi suất 7,8%/năm theo quyết định số 364/QĐ-NHNN Đặc biệt, NHNN đã điều hành linh hoạt các mức lãi suất chỉ đạo và thực hiện đổi mới theo công điện số 2 nhằm nhanh chóng ổn định thị trường tiền tệ đang bị xáo trộn bởi cuộc chạy đua lãi suất.
Vào ngày 17/4/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 10/2008/NQ-CP với mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy tăng trưởng bền vững Nghị quyết này đề ra 8 nhóm giải pháp cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu trên.
Thắt chặt tài khóa thông qua rà soát cắt giảm đầu tư Nhà Nước
Tăng cường quản lý thị trường giá cả
Hỗ trợ các chương trình an sinh xã hội
Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền nhằm ổn định tâm lý xã hội và hạn chế kỳ vọng của lạm phát
Thắt chặt chính sách tiền tệ:
Chính phủ đã chọn chính sách tiền tệ làm trọng tâm cho việc kiềm chế lạm phát, cụ thể như sau :