1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

47 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 1,23 MB

Cấu trúc

  • 1.1 Khái niệm về lạm phát (7)
  • 1.2 Phân loại lạm phát (7)
    • 1.2.1 Phân loại theo mức độ của tỷ lệ lạm phát hay dựa theo định lượng (7)
    • 1.2.2 Căn cứ vào định tính (8)
    • 1.2.3 Thiểu phát (8)
  • 1.3 Đo lường lạm phát (9)
    • 1.3.1 Chỉ số giá tiêu dùng (9)
    • 1.3.2 Chỉ số giảm phát theo GDP (Id) (10)
    • 1.3.3 Chỉ số giá sản xuất (11)
    • 1.3.4 Chỉ số giá sinh hoạt (11)
    • 1.3.5 Chỉ số giá bán buôn (11)
  • 1.4 Các nguyên nhân gây ra lạm phát (11)
    • 1.4.1 Lạm phát do cầu kéo (11)
    • 1.4.2 Lạm phát do chi phí đẩy (12)
    • 1.4.3 Lạm phát theo thuyết số lượng tiền tệ (14)
  • 1.5 Tác động của lạm phát (14)
  • Phần 2. Thực trạng lạm phát ở Việt Nam (16)
    • 2.1 Lạm phát việt nam qua các giai đoạn (16)
      • 2.1.1 Giai đoạn đất nước việt nam đang bị thực dân và đế quốc đô hộ (16)
      • 2.1.2 Giai đoạn từ năm 1976- 1980 (16)
      • 2.1.3 Giai đoạn từ 1981- 1988 (0)
      • 2.1.4 Giai đoạn 1988-1995 (18)
      • 2.1.5 Giai đoạn 1995-2005 (18)
      • 2.1.6 Giai đoạn 2006 đến nay (22)
        • 2.1.6.1 Giai đoạn lạm phát tăng nhanh (22)
        • 2.1.6.2 Giai đoạn giảm lạm phát (3 tháng cuối năm 2008) (25)
        • 2.1.6.3 Lạm phát năm 2009 (25)
        • 2.1.6.4 Năm 2010 (26)
    • 2.2 Tác động của lạm phát đến các biến số vĩ mô (0)
      • 2.2.1 Tăng trưởng kinh tế (0)
      • 2.2.2 Tỉ lệ thất nghiệp (30)
    • 2.3 Các chính sách của nhà nước trong giai đoạn hiện nay (32)
      • 2.3.1 Năm 2007 (32)
      • 2.3.2 Năm 2008 (34)
      • 2.3.3 Năm 2009 (41)
  • Phần 3. Giải pháp kiềm chế lạm phát (44)
    • 3.1 Những biện pháp cấp bách (0)
      • 3.1.1 Biện pháp về chính sách tài khóa (44)
      • 3.1.2 Biện pháp thắt chặt tiền tệ (0)
      • 3.1.3 Biện pháp kiềm chế giá cả (0)
      • 3.1.4 Biện pháp đóng băng lương và giá để kiềm chế giá (0)
      • 3.1.5 Biện pháp cải cách tiền tệ (0)
    • 3.2 Những biện pháp chiến lược (0)
      • 3.2.1 Xây dưngg̣ vàthưcg̣ hiên chiến lươcg̣ phát triển kinh tếphùhơpg̣ (0)
      • 3.2.2 Thưcg̣ hiêṇ chiến lươcg̣ thi g̣trường canḥ tranh hoàn toàn (0)
      • 3.2.3 Dùng lạm phát để chống lạm phát (0)
  • Tài liệu tham khảo (47)

Nội dung

Khái niệm về lạm phát

Ban đầu chưa cómôṭ đinḥ nghiã thống nhất vềlaṃ phát, vì vậy đã có nhiều quan điểm khác nhau của các nhàkinh tếhocg̣ như:

 Theo Karl-Marx : “Laṃ phát làsư g̣phát hành tiền măṭquámức cần thiết.”

 V.LLenine: “Laṃ phát làsư g̣thừa ứ tiền giấy trong lưu thông.”

 Miltan Friedman: “Laṃ phát bao giờởđâu bao giờcũng làmột hiện tượng cửa tiền tê.g̣”

 R.Dornbusch vàFisher: “Laṃ phát làtinh̀ trangg̣ mức giáchung của nền kinh tếtăng lên.”

Các khái niệm trên đều dưạ trên đăcg̣ trưng :

 Lươngg̣ tiền lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá.

Lạm phát là hiện tượng kinh tế khách quan xảy ra khi lượng tiền lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết, dẫn đến việc tiền mất giá và giá cả của hầu hết các loại hàng hóa đồng loạt tăng lên.

Phân loại lạm phát

Phân loại theo mức độ của tỷ lệ lạm phát hay dựa theo định lượng

Lạm phát vừa phải xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng chậm, dưới 10% mỗi năm Hiện nay, nhiều quốc gia phát triển thuộc TBCN đang trải qua tình trạng lạm phát này.

 Lạm phát phi mã: Lạm phát phi mã xảy ra khi giả cả bắt đầu tăng với tỷ lệ hai hoặc ba con số như 20%, 100% hoặc 200% một năm.

 Siêu lạm phát: Xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng gấp nhiều lần ở mức 3 con sốhằng năm trởlên.

Ví dụ: Lạm phát ở Zimbabwe

Căn cứ vào định tính

Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng:

Lạm phát cân bằng xảy ra khi mức tăng giá cả tương ứng với thu nhập thực tế của người lao động, đồng thời phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Điều này giúp đảm bảo rằng lạm phát không ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống hàng ngày của người lao động và nền kinh tế chung.

 Lạm phát không cân bằng: Tăng không tương ứng với thu nhập của người lao động.Trên thực tế loại lạm phát này cũng thường hay xảy ra.

Lạm phát dự đoán trước được và lạm phát bất thường:

Lạm phát dự đoán trước là loại lạm phát diễn ra hàng năm trong một thời gian dài với tỷ lệ ổn định, cho phép người dân dễ dàng dự đoán mức độ lạm phát trong tương lai Khi đã quen thuộc với tình trạng này, người dân thường có sự chuẩn bị, do đó lạm phát không gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống và nền kinh tế.

Lạm phát bất thường là hiện tượng xảy ra đột ngột, thường không có dấu hiệu trước đó, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý và đời sống của người dân Sự bất ngờ này khiến người dân khó thích nghi, dẫn đến những biến động trong nền kinh tế và làm giảm niềm tin của người dân vào chính quyền.

Thiểu phát

Thiểu phát là hiện tượng lạm phát ở mức rất thấp, thường bị nhầm lẫn với giảm phát tại Việt Nam Không có tiêu chí chính xác nào xác định tỷ lệ lạm phát bao nhiêu phần trăm được coi là thiểu phát, nhưng nhiều tài liệu cho rằng mức lạm phát dưới 3-4% mỗi năm là thiểu phát Tuy nhiên, ở các nước như Đức và Nhật Bản, tỷ lệ lạm phát này được xem là trung bình, không phải là thiểu phát Trong giai đoạn 2002-2003, Việt Nam ghi nhận tỷ lệ lạm phát 3-4% mỗi năm, nhưng nhiều nhà kinh tế học Việt Nam lại cho rằng đây là thiểu phát.

Đo lường lạm phát

Chỉ số giá tiêu dùng

Chú ý: Trong khi tính toán thì phải chọn 1 số nhóm hàng tiêu dùng mang tính chất đại diện từ đó khảo sát biến động giá.

CPIt: Chỉ số giá tiêu dùng của năm t

Pi t và Pi 0 là mức giá của sản phẩm i trong năm t và năm 0

Qi 0 là sản lượng sản phẩm i trong năm 0

 60% thực phẩm;  Giá thực phẩm tăng 8%,

 20% cho giáo dục  Giáo dục tăng 5%

(tỉ lệ lạm phát là 7%)

Chỉ số giảm phát theo GDP (Id)

Id của năm t được tính theo công thức:

 GDPdn: GDP danh nghĩa năm t

 Qi t : khối lượng sản phẩm i được sản xuất ở năm t

 Pi t : đơn giá sản phẩm loại i ở năm t

So sánh CPI và Id ta thấy có 3 điểm khác nhau:

Chỉ số Id thể hiện mức giá trung bình của tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế, trong khi chỉ số CPI phản ánh giá của các hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng thực sự mua.

Id phản ánh giá của hàng hóa sản xuất trong nước Khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng, sự thay đổi này chỉ được thể hiện trong chỉ số CPI mà không ảnh hưởng đến Id.

CPI được tính toán dựa trên một giỏ hàng hóa cố định, trong khi chỉ số Id lại sử dụng giỏ hàng hóa thay đổi theo thời gian.

Chỉ số giá bán buôn

có thuế) Chỉ số này rất giống với PPI.

Các nguyên nhân gây ra lạm phát

Lạm phát do cầu kéo

Diễn ra do tổng cầu AD tăng nhanh hơn tiềm năng sản xuất của một quốc gia, sẽ gây ra sự tăng giá cả và lạm phát xảy ra.

Giá tăng từ PO tới P1 (từ PO đến P1 là lạm phát- Hình 1)

Khu vực tư nhân lạc quan về nền kinh tế, nên tiêu dùng tự định và đầu tư tự định tăng lên.

Chính phủ tăng chi tiêu.

Ngân hàng trung ương tăng lượng cung tiền.

Người nước tăng mua hàng hóa và dịch vụ trong nước.

Kết quả đường tổng cầu AD sẽ dịch chuyển sang phải, trong ngắn hạn sẽ làm cho sản lượng tăng lên, đồng thời mức giá chung tăng lên.

Lạm phát do chi phí đẩy

Sự sụt giảm tổng cung do chi phí sản xuất tăng cao đã dẫn đến việc đường tổng cung dịch chuyển sang trái từ ASO sang AS1 Hệ quả là sản lượng giảm từ YO xuống Y1, trong khi mức giá tăng từ PO lên P1, gây ra tình trạng suy thoái kết hợp với lạm phát trong nền kinh tế.

Hình 2 Các nhân tố làm tăng chi phí:

Chi phí tiền lương gia tăng do áp lực từ công đoàn và chính sách điều chỉnh lương của chính phủ, dẫn đến mức lương tăng vượt quá mức tăng năng suất lao động Điều này là nguyên nhân chính khiến chi phí sản xuất tăng lên.

 Lơị nhuâṇ : Nếu doanh nghiêpg̣ cóquyền lưc thi g̣trường (đôcg̣ quyền, nhóm đôcg̣ quyền) có thể đẩy giátăng lên đểkiếm lơị nhuâṇ cao hơn

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu, các doanh nghiệp thường phải nhập khẩu một lượng lớn nguyên liệu từ nước ngoài Khi chi phí nguyên liệu tăng do nhiều nguyên nhân ngoài tầm kiểm soát trong nước, doanh nghiệp buộc phải chấp nhận mua nguyên liệu với giá cao hơn.

Tỉ giá hối đoái ảnh hưởng lớn đến giá cả hàng hóa trong nước Khi đồng nội tệ mất giá, hàng hóa trong nước sẽ trở nên rẻ hơn so với hàng hóa nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu Ngược lại, chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu sẽ tăng cao, gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong nước.

Khi giá cả hàng hóa toàn cầu tăng, các doanh nghiệp trong nước sẽ phải đối mặt với chi phí cao hơn nếu sử dụng hàng hóa này làm nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh.

Những cúsốc từ bên ngoài: Các cuộc khủng hoảng về nguyên liệu , vâṭliêụ chính như dầu mỏ, sắt thép ,than đá,…làm chi phí sản xuất tăng.

Sư g̣thiếu huṭcác nguồn tài nguyên cũng đẩy giácảtăng khi bi g̣khai thác caṇ kiêṭ.

Lạm phát theo thuyết số lượng tiền tệ

tiền thừa quá nhiều trong lưu thông gây ra và được giải thích bằng phương trình sau:

 M: lượng cung tiền danh nghĩa  P: chỉ số giá

 V: tốc độ lưu thông tiền tệ  Y: sản lượng thực

Giả sử V và Y không thay đổi, chỉ số giá sẽ phụ thuộc vào lượng cung tiền danh nghĩa Khi cung tiền tăng, mức giá cũng sẽ tăng theo tỷ lệ tương ứng, dẫn đến tình trạng lạm phát.

Thuyết này chỉ đúng khi V và Y không đổi.

Tác động của lạm phát

Lạm phát có sự ảnh hưởng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế-xã hôịtùy theo mức đô g̣của nó.

Lạm phát ở mức độ vừa phải có tác động tích cực đến nền kinh tế, giúp thúc đẩy sự phát triển Chính phủ thường duy trì mức lạm phát này như một chất xúc tác để kích thích tăng trưởng kinh tế.

Khi lạm phát xảy ra, phân phối lại thu nhập và của cải trở nên rõ rệt Những người sở hữu tài sản và vay nợ thường hưởng lợi do giá trị tài sản tăng lên, trong khi giá trị đồng tiền giảm xuống Ngược lại, những người làm công ăn lương, cho vay và gửi tiền lại chịu thiệt hại trong bối cảnh này.

Lạm phát cao gây bất ổn cho nền kinh tế, làm tăng giá hàng hóa và dẫn đến tình trạng đầu cơ tích trữ Điều này cũng làm gia tăng tỷ giá hối đoái và khiến hoạt động tín dụng rơi vào khủng hoảng, với nguồn tiền gửi giảm nhanh chóng.

Ngoài ra lạm phát còn tác động đến tỉ lệ thất nghiệp: khi laṃ phát tăng thì thất nghiêpg̣ giảm xuống vàngươcg̣ laị.

Thực trạng lạm phát ở Việt Nam

Lạm phát việt nam qua các giai đoạn

2.1.1 Giai đoạn đất nước việt nam đang bị thực dân và đế quốc đô hộ.

Trong giai đoạn 1938-1945, Ngân hàng Đông Dương đã hợp tác với chính quyền thực dân Pháp để lạm phát đồng tiền Đông Dương, nhằm thu gom của cải của nhân dân Việt Nam Số tài sản này được chuyển về Pháp để hỗ trợ cuộc chiến chống phát xít Đức và nuôi dưỡng hàng trăm ngàn quân lính, biến Đông Dương thành một căn cứ an toàn cho các hoạt động quân sự ở Đông Nam Á Hậu quả nghiêm trọng của tình trạng lạm phát này là người dân Việt Nam phải chịu đựng mức giá sinh hoạt tăng gấp 25 lần từ năm 1939 đến 1945.

Trong thời kỳ 1946-1954, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã phát hành đồng tài chính mới thay thế đồng Đông Dương, nhằm huy động sức người và sức của toàn dân cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Cuộc kháng chiến kéo dài 9 năm đã đạt được thành công lớn, giải phóng hoàn toàn nửa đất nước.

Trong giai đoạn 1955-1965, chính phủ tay sai Mỹ tại miền Nam Việt Nam đã liên tục lạm phát đồng tiền để bù đắp cho cuộc chiến chống phong trào giải phóng dân tộc Dù nhận được một lượng viện trợ khổng lồ từ Mỹ, trị giá hàng trăm tỷ USD, nhưng vẫn không đủ để bù đắp cho các chi phí chiến tranh.

Trong giai đoạn 1965-1975, miền Bắc Việt Nam phải đối mặt với cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, nhằm chống lại sự phá hoại của Mỹ và giải phóng miền Nam để thống nhất đất nước Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phát hành số tiền gấp ba lần lượng tiền lưu thông năm 1965 để huy động toàn dân tham gia chiến đấu, đánh bại quân xâm lược Mỹ và tay sai ở cả hai miền Sự viện trợ từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến này.

(XHCN) anh em đã hạn chế được lạm phát trong thời kì này.

Thời kỳ này được coi là không có lạm phát theo quan niệm kinh tế chính trị phổ biến, nhưng thực tế tại Việt Nam vẫn tồn tại lạm phát, thể hiện qua sự khan hiếm hàng hóa và dịch vụ, cũng như sự gia tăng giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng lên tới trên 20% mỗi năm Đây là lạm phát của nền kinh tế kém phát triển và đang trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế, nơi mà độc quyền nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo và bị ảnh hưởng bởi các chỉ thị của nhà nước Khu vực kinh tế Nhà Nước chiếm khoảng 85-87% vốn cố định và 95% lao động lành nghề, nhưng chỉ tạo ra 30-37% tổng sản phẩm xã hội, trong khi khu vực kinh tế tư nhân chỉ chiếm 13,2% sức lao động xã hội.

Năm 1986, Việt Nam phải đối mặt với nhiều áp lực kiềm chế, nhưng vẫn sản xuất được 32-43% tổng sản phẩm xã hội, đạt hiệu quả kinh tế cao nhất trong khu vực kinh tế quốc doanh và hợp tác xã Trong bối cảnh đó, lạm phát diễn ra trong nền kinh tế đóng cửa, phụ thuộc nhiều vào nguồn viện trợ bên ngoài Trước năm 1988, Việt Nam không thu hút được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, với biên giới bị đóng kín và chế độ xuất nhập cảnh cùng lưu thông hàng hóa rất nghiêm ngặt.

Cơ cấu kinh tế Việt Nam hiện nay chủ yếu có tính hướng nội và khép kín, tập trung vào thay thế hàng nhập khẩu mà không khuyến khích xuất khẩu Chính sách phát triển và đầu tư còn nhiều bất cập, dẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các ngành công nghiệp, nông nghiệp, công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, đặc biệt là trong sản xuất hàng tiêu dùng và dịch vụ Tình trạng này gây ra khan hiếm hàng hóa, dịch vụ, tăng chi phí sản xuất, thiếu hụt ngân sách kéo dài và làm gia tăng cung tiền không tuân theo quy luật lưu thông, từ đó dẫn đến lạm phát.

Thời kỳ từ năm 1981 đến 1988 chứng kiến lạm phát cao và không ổn định, với tỷ lệ lạm phát vượt 100% mỗi năm Mặc dù lạm phát đã giảm xuống vào năm 1983 và 1984, nhưng vào năm 1986, tỷ lệ này đã tăng vọt lên mức cao nhất 557% Tuy nhiên, vấn đề lạm phát chưa được thừa nhận trong các văn kiện chính thức, mà chỉ được xử lý qua các khía cạnh “giá - lương - tiền” bằng các giải pháp hành chính, như việc điều chỉnh giá cả trong khu vực thị trường có tổ chức vào các năm 1981, 1983 và 1987.

Vào năm 1985, Việt Nam đã trải qua giai đoạn "bù vào giá lương" trong bối cảnh siêu lạm phát ba chữ số kéo dài từ 1986 đến 1988 Thời kỳ này đã đạt đỉnh cao nhất trong lịch sử kinh tế hiện đại của đất nước trong suốt nửa thế kỷ qua.

Kể từ năm 1988, chính phủ Việt Nam đã nỗ lực kiềm chế lạm phát từ mức 3 chữ số xuống còn 1 chữ số, đánh dấu thành công trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế Mặc dù lạm phát được kiểm soát, nền kinh tế vẫn duy trì mức tăng trưởng cao và ổn định, với tỷ lệ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt từ 7 đến 8%.

Bảng 1: Tăng trưởng kinh tế và lạm phát (tỷ lệ %)

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng trong giai đoạn 1996 đến 2005 cho thấy một đường cong đặc trưng, với đáy ở năm 2000 và hai đỉnh vào các năm 1996 và 2005.

Trong giai đoạn 1996 đến 2005, chỉ số giá tiêu dùng đã tăng 51%, thấp hơn mức tăng 64,2% của thu nhập bình quân đầu người, với thu nhập bình quân năm 2004 đạt 484,4 nghìn đồng so với năm 1999 Điều này cho thấy mức sống của người dân đã cải thiện hơn so với tốc độ tăng giá.

(295,0 nghìn đồng) Điều đó chứng tỏ đời sống của người dân được cải thiện.

Bảng 2: Chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam từ 1995 đến 2005

( Nguồn: Tổng cục Thống kê)

05 Chỉ số giá tiêu 1,127 1,045 1,036 1,092 1,001 0,994 1,008 1,04 1,03 1,095 1,084 1,51 dùng

Thực 1,193 1,163 1,021 1,086 1,005 0,993 1,002 1,079 1,029 1,171 1,12 1,88 phẩm Đồ uống 1,193 1,160 1,021 1,053 1,026 1,003 1,011 1,036 1,035 1,036 1,049 1,51 thuốc lá

May mặc,giày 1,078 1,032 1,032 1,023 1,019 1,004 1,008 1,011 1,034 1,041 1,05 1,28 dép, mũ nón

Thiết bị và đồ 1,053 1,012 1,042 1,025 1,035 1,023 1,009 1,008 1,019 1,036 1,048 1,29 dùng gia đình

Phương tiện đi 1,05 1,032 1,08 1,03 1,016 1,019 0,953 1,017 0,98 1,059 1,091 1,30 lại, bưu điện

Văn hóa, thể, giải 1,117 0,993 1,027 1,013 1,019 1,009 1,002 0,99 0,987 1,022 1,027 1,09 trí

Hàng hóa và dịch 1,098 1,085 1,087 1,04 1,031 1,041 1,014 1,02 1,043 1,052 1,06 1,58 vụ khác

Chỉ số giá đô la 0,994 1,012 1,142 1,096 1,011 1,034 1,038 1,021 1,202 1,004 1,009 1,71 Mỹ

Phân tích biến động giá cả theo 10 nhóm hàng xếp theo thứ tự nhóm có tốc độ tăng giá cao nhất đến thấp nhất như sau:

 Nhóm dược phẩm và dịch vụ y tế tăng 65%,

 Đồ uống và thuốc lá tăng 51%,

 Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 43%,

 Phương tiện đi lại, bưu điện tăng 30%,

 Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 29%,

 May mặc, giày dép, mũ nón tăng 28%,

 Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 58%

Trong 10 nhóm hàng được khảo sát, nhóm thực phẩm và nhóm dược phẩm cùng dịch vụ y tế ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao nhất Tuy nhiên, điều này cho thấy rằng đời sống của người nghèo, những người chủ yếu chi tiêu cho thực phẩm, vẫn chưa có nhiều cải thiện.

Từ năm 2001, Việt Nam đã tập trung vào xuất khẩu chủ yếu từ các ngành thâm dụng lao động như công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp Kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh, đồng thời chỉ số giá tiêu dùng cũng ghi nhận mức tăng cao.

Bảng 3: Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 1995-2005

Hàng công nghiệp nặng và khóang sản

Hàng công nghiệp nhẹ và TTCN (%)

Bảng 4: Cơ cấu kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 1995-2005

Tư liệu sản xuất chiếm (%)

Giá hàng nhập khẩu có ảnh hưởng đáng kể đến tình hình lạm phát, thể hiện rõ qua các năm 1998, 1999, 2001 và 2002 khi giá hàng nhập khẩu giảm, đồng thời lạm phát cũng giảm trong các năm 1999 và 2000 Ngược lại, khi giá nhập khẩu tăng trong những năm sau, chỉ số giá tiêu dùng cũng tăng theo.

Như vậy, mối tương quan giữa chỉ số giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng là khá chắc chắn.

Các chính sách của nhà nước trong giai đoạn hiện nay

Vào tháng 6 năm 2007, lạm phát tăng nhanh với chỉ số giá CPI đạt khoảng 1%, đánh dấu sự khác biệt so với xu hướng giá cả trong hơn một thập kỷ qua Chính phủ đã nhanh chóng nhận diện tín hiệu lạm phát này và triển khai các chỉ thị để xử lý tình hình.

 Ngày 01/8/2007 Thủ tướng chính phủ ban hành chỉ thị số 18/2007/CT- TTg về một số biện pháp cấp bách kiềm chế tốc độ tăng thị trường.

Thủ tướng yêu cầu rà soát chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và huy động tín dụng Cần thực hiện các biện pháp thị trường mở để điều tiết lượng tiền lưu thông hợp lý, đồng thời giữ ổn định tỷ giá hối đoái và lãi suất chủ đạo của đồng tiền Việt Nam, tránh xảy ra đột biến trên thị trường tiền tệ.

Rà soát và tập trung vốn cho các dự án quan trọng, điều chỉnh vốn từ các công trình triển khai chậm sang những dự án cần thiết để sớm đưa vào sử dụng Phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan để giải quyết kịp thời những vướng mắc về cơ chế, chính sách, nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ, tín dụng nhà nước và ODA, đặc biệt trong lĩnh vực giao thông vận tải và nông nghiệp Thực hiện ứng vốn cho các dự án gặp khó khăn về thủ tục thanh toán Tăng cường quản lý và giám sát thị trường chứng khoán, điều hòa cung cầu để thị trường phát triển ổn định; lựa chọn các công ty uy tín phát hành cổ phiếu thu hút vốn cho sản xuất Đồng thời, tăng cường quản lý thị trường, chống gian lận thương mại và kiểm tra chất lượng hàng hóa theo tiêu chuẩn, kết hợp với kiểm tra niêm yết giá và bán hàng theo giá niêm yết.

Vào ngày 31/10, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 23/2007/CT-TTg nhằm tăng cường các biện pháp điều hành giá cả và ổn định thị trường trong những tháng cuối năm 2007, đồng thời chuẩn bị cho Tết Nguyên đán Mậu Tý.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các hiệp hội ngành hàng phối hợp chặt chẽ để thực hiện quyết liệt các giải pháp nhằm duy trì ổn định các cân đối kinh tế vĩ mô Đồng thời, cần kiên quyết thực hiện các biện pháp được nêu trong Chỉ thị số 18/2007/CT-TTg ngày 01 tháng 9 năm 2007 về các biện pháp cấp bách để kiềm chế tốc độ tăng giá thị trường.

Tiếp tục thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc tiết kiệm và chống lãng phí, đặc biệt trong tiêu dùng điện, xăng, dầu, cũng như trong chi phí sản xuất kinh doanh và xây dựng cơ bản Cần chú trọng tiết kiệm trong tổ chức hội nghị, tổng kết cuối năm và các hoạt động đón mừng năm mới.

Thủ tướng đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện các giải pháp đồng bộ để rút tiền từ lưu thông, cơ cấu lại tín phiếu ngắn hạn, và mua ngoại tệ hợp lý nhằm tăng dự trữ ngoại hối Mục tiêu là kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán, tránh tình trạng tăng giá hoặc mất giá quá mức của đồng tiền Việt Nam.

Bộ Tài chính tiếp tục triển khai kế hoạch phát hành trái phiếu Chính phủ năm

Vào năm 2007 và 2008, nhằm giảm bớt lượng tiền trong nền kinh tế, cần phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các Bộ, ngành để thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân cho các dự án đầu tư của Nhà nước, từ đó tăng cường khả năng hấp thụ vốn cho nền kinh tế.

Bộ Tài chính phối hợp với các bộ ngành như Công Thương, Xây dựng, Y tế và các địa phương nhằm tăng cường kiểm tra và quản lý giá các mặt hàng thiết yếu đang có xu hướng tăng cao, bao gồm xăng dầu, bất động sản, thuốc chữa bệnh, sắt thép và gas Các địa phương được chỉ đạo đẩy mạnh kiểm soát giá, ngăn chặn tình trạng độc quyền và định giá bất hợp lý, đồng thời xử lý nghiêm các vi phạm theo quy định của Pháp lệnh Giá.

Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chuẩn bị đầy đủ hàng hóa với giá ổn định để đáp ứng nhu cầu của người dân trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tý, đảm bảo sự vui vẻ, an toàn và tiết kiệm.

Bộ Thông tin và Truyền thông yêu cầu các cơ quan thông tin đại chúng phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan để tăng cường công tác tuyên truyền, giúp doanh nghiệp và người tiêu dùng nắm rõ và đồng thuận với các biện pháp điều hành giá của Nhà nước, nhằm ngăn chặn tác động tâm lý làm tăng giá cả.

Mặc dù các chính sách kinh tế đã được áp dụng, nhưng vẫn chưa giải quyết triệt để vấn đề lạm phát, khiến tình trạng này vẫn tiếp tục diễn biến ở mức cao và chưa được kiềm chế.

Trong bối cảnh nền kinh tế đang đối mặt với lạm phát cao, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chủ động thực hiện các biện pháp nhằm rút bớt tiền khỏi nền kinh tế thông qua nhiều công cụ tài chính khác nhau.

Tăng thêm 1% tỉ lệ dự trữ bắt buộc ( Quyết định số 187/QĐ-NHNN ) ngày 16/1/2008.

Vào ngày 13/2/2008, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã phát hành tín phiếu bắt buộc trị giá 20.300 tỷ đồng với kỳ hạn 1 năm và lãi suất 7,8%/năm theo quyết định số 364/QĐ-NHNN Đặc biệt, NHNN đã thực hiện điều hành linh hoạt các mức lãi suất chỉ đạo và đổi mới theo công điện số 2 nhằm nhanh chóng ổn định thị trường tiền tệ đang bị xáo trộn bởi cuộc chạy đua lãi suất.

Vào ngày 17/4/2008, chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 10/2008/NQ-CP với quyết định kiên quyết nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy tăng trưởng bền vững Nghị quyết này đưa ra 8 nhóm giải pháp cụ thể để đạt được các mục tiêu trên.

Thắt chặt tài khóa thông qua rà soát cắt giảm đầu tư Nhà Nước

Tăng cường quản lý thị trường giá cả

Hỗ trợ các chương trình an sinh xã hội

Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền nhằm ổn định tâm lý xã hội và hạn chế kỳ vọng của lạm phát

Thắt chặt chính sách tiền tệ:

Chính phủ đã chọn chính sách tiền tệ làm trọng tâm cho việc kiềm chế lạm phát, cụ thể như sau :

Giải pháp kiềm chế lạm phát

Ngày đăng: 15/01/2022, 14:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2 Các nhân tố làm tăng chi phí: - LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Hình 2 Các nhân tố làm tăng chi phí: (Trang 13)
Bảng 1: Tăng trưởng kinh tế và lạm phát (tỷ lệ %) - LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Bảng 1 Tăng trưởng kinh tế và lạm phát (tỷ lệ %) (Trang 18)
Hình 3: Lạm phát giai đoạn 1995-2007, tính theo chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 - LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Hình 3 Lạm phát giai đoạn 1995-2007, tính theo chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 (Trang 19)
Bảng 2: Chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam từ 1995 đến 2005 - LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Bảng 2 Chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam từ 1995 đến 2005 (Trang 19)
Bảng 3: Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 1995-2005 - LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Bảng 3 Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 1995-2005 (Trang 21)
Hình 4. Bức tranh lạm phát của một số nước châu Á (Tính đến tháng 6/2008) - LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Hình 4. Bức tranh lạm phát của một số nước châu Á (Tính đến tháng 6/2008) (Trang 23)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w