1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân

88 16 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thủ Tục Tố Tụng Truy Cứu Trách Nhiệm Hình Sự Pháp Nhân
Tác giả Trần Bá Quang
Người hướng dẫn Ts. Lê Huỳnh Tấn Duy
Trường học Trường Đại Học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,23 MB

Cấu trúc

  • 1.1 Pháp nhân (13)
    • 1.1.1 Khái niệm pháp nhân (13)
    • 1.1.2 Các điều kiện của pháp nhân (18)
    • 1.1.3 Đặc điểm của pháp nhân (23)
    • 1.1.4 Phân loại pháp nhân (26)
  • 1.2 Pháp nhân trong tố tụng hình sự (29)
    • 1.2.1 Pháp nhân là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (30)
    • 1.2.2 Pháp nhân là cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng (31)
    • 1.2.3 Pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự (32)
  • CHƯƠNG II. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN (39)
    • 2.1 Trình tự, thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân (39)
      • 2.1.1 Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam (39)
      • 2.1.2 Pháp luật một số quốc gia trên thế giới (43)
    • 2.2 Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự (46)
      • 2.2.1 Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam (46)
      • 2.2.2 Pháp luật một số quốc gia trên thế giới (51)
    • 2.3 Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bị (54)
      • 2.3.1 Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam (54)
      • 2.3.2 Pháp luật một số quốc gia trên thế giới (56)
      • 2.4.1 Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam (57)
      • 2.4.2 Pháp luật một số quốc gia trên thế giới (59)
    • 2.5 Vấn đề cần phải chứng minh khi tiến hành tố tụng đối với pháp nhân bị buộc tội (61)
  • CHƯƠNG III. NHỮNG KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ KHI ÁP DỤNG THỦ TỤC TỐ TỤNG TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ PHÁP NHÂN VÀ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI, HOÀN THIỆN (65)
    • 3.1 Những hạn chế trong quy định của BLTTHS năm 2015 về thủ tục tố tụng (0)
      • 3.1.1 Những quy định chung (65)
      • 3.1.2 Quy định về các giai đoạn tố tụng (70)
    • 3.2 Kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân (74)
      • 3.2.1 Thuật ngữ “Pháp nhân phạm tội” (74)
      • 3.2.2 Những vấn đề cần chứng minh khi tiến hành tố tụng đối với pháp nhân bị buộc tội (75)
      • 3.2.3 Thay đổi hình thức tổ chức hoặc chấm dứt sự tồn tại của pháp nhân (75)
      • 3.2.4 Biện pháp cƣỡng chế (76)
      • 3.2.5 Thời hạn trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử (78)
      • 3.2.6 Quyền và nghĩa vụ của pháp nhân bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố (78)

Nội dung

Pháp nhân

Khái niệm pháp nhân

Khái niệm pháp nhân được đặt nền móng từ thời kỳ phát triển mạnh mẽ của

Tư bản chủ nghĩa đã hình thành từ thời đại La Mã với sự ra đời của các phường hội, nơi diễn ra giao thương và buôn bán mà không có tài sản riêng, chỉ sở hữu chung giữa các thương nhân Trong chế độ phong kiến, phân công lao động phát triển, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều tổ chức kinh tế và các công ty khai thác thuộc địa tại châu Mỹ La tinh, châu Phi và châu Á Khi xã hội chuyển sang chủ nghĩa tư bản, nhu cầu củng cố địa vị pháp lý cho các tổ chức kinh tế trở nên cấp thiết, giúp chúng tham gia vào các quan hệ dân sự và thương mại, đồng thời tạo ra sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản Khái niệm pháp nhân đã được hình thành và phát triển trong giai đoạn này.

Cá nhân, hay còn gọi là thể nhân, là một thực thể tự nhiên và xã hội, được Nhà nước thừa nhận và điều chỉnh bởi các quy định pháp lý Khi xã hội phát triển, các cá nhân có thể tập hợp thành nhóm dưới các hình thức tổ chức như công ty, doanh nghiệp, hiệp hội, và trở thành một thực thể xã hội độc lập Những tổ chức này, khi đáp ứng các điều kiện pháp luật, sẽ được công nhận tư cách pháp lý, trở thành pháp nhân và tham gia vào các quan hệ xã hội với tư cách chủ thể riêng biệt.

Pháp nhân là một khái niệm chưa có định nghĩa chung trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia, bao gồm cả Việt Nam, mặc dù pháp luật hiện nay công nhận pháp nhân là chủ thể của luật dân sự, luật thương mại, và có thể chịu trách nhiệm hình sự Dù có nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của pháp nhân trong các mối quan hệ xã hội, nhưng không có văn bản nào đưa ra định nghĩa cụ thể về pháp nhân Các quy định hiện hành chủ yếu mô tả các dấu hiệu và điều kiện để thành lập pháp nhân, từ Thông tư số 525 năm 1975 đến các Bộ luật Dân sự năm 1995, 2005, và 2015, đều không cung cấp một khái niệm chính xác về pháp nhân.

"Pháp nhân" là một thuật ngữ Hán – Việt, trong đó "pháp" có nghĩa là luật pháp và "nhân" nghĩa là người, chỉ một thực thể được pháp luật công nhận Khác với pháp nhân, thể nhân là con người, một thực thể tự nhiên mà sự tồn tại không phụ thuộc vào sự cho phép của Nhà nước; pháp luật chỉ ghi nhận các quy phạm phù hợp với cá nhân trong xã hội Ngược lại, pháp nhân cần được Nhà nước thừa nhận để hợp pháp hóa sự hiện diện của mình Một pháp nhân chỉ được coi là tồn tại khi có sự công nhận hoặc quyết định thành lập từ Nhà nước Do đó, pháp nhân là chủ thể pháp luật độc lập, khác biệt với thể nhân.

Trong bối cảnh mở rộng các nền kinh tế giao thương, việc hiểu rõ khái niệm pháp nhân không chỉ theo quan điểm Việt Nam mà còn được công nhận toàn cầu là rất quan trọng Pháp nhân, được biết đến với các thuật ngữ như “legal entity” hay “legal person”, được coi là thực thể pháp lý có quyền lợi tương tự như một cá nhân Theo từ điển Black's Law Dictionary, pháp nhân là một "cơ thể" khác với con người tự nhiên, có khả năng tham gia kiện tụng và thực hiện các quyết định thông qua những người quản lý Do đó, pháp nhân có thể được hiểu đơn giản là một thực thể nhân tạo được thành lập bởi một hoặc nhiều cá nhân, với cấu trúc giống như một "cơ thể" và thực hiện chức năng trong phạm vi pháp luật cho phép Quan điểm của các luật gia phương Tây về pháp nhân có nhiều điểm tương đồng và khác biệt so với quan niệm của các luật gia Việt Nam.

Khái niệm "pháp nhân" trong quan điểm khoa học pháp lý của các học giả Việt Nam có nhiều điểm tương đồng, thường dựa vào các điều kiện và yêu cầu theo quy định của pháp luật Dân sự Pháp nhân được thành lập hoặc được cho phép thành lập bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, tài sản riêng biệt và tự chịu trách nhiệm bằng khối tài sản đó Theo Viện Khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp Việt Nam, pháp nhân là tổ chức đáp ứng đủ điều kiện do pháp luật quy định, khác với thể nhân là cá nhân riêng biệt Để trở thành pháp nhân, tổ chức cần đáp ứng các điều kiện luật định và tham gia vào các quan hệ pháp luật như một chủ thể độc lập, có địa vị pháp lý tương tự như cá nhân trong các giao dịch dân sự và quan hệ xã hội.

Theo quy định của pháp luật Dân sự, pháp nhân được xác định qua các dấu hiệu như: sự tồn tại độc lập không phụ thuộc vào các thành viên; sở hữu tài sản riêng biệt; quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản; khả năng tham gia hoạt động tố tụng với tư cách pháp lý; và chịu trách nhiệm độc lập về tài sản.

Bộ luật Dân sự năm 2015 có những điểm tương đồng với Bộ luật Dân sự năm 2005, nhưng đã được quy định chặt chẽ và cụ thể hơn Cụ thể, Điều 74 của Bộ luật Dân sự năm 2015 đưa ra những quy định rõ ràng về các dấu hiệu cơ bản trong lĩnh vực dân sự.

- Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;

- Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;

- Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;

Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi đáp ứng các điều kiện như tính hợp pháp khi thành lập, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ với cơ quan điều hành rõ ràng, sở hữu tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của chính mình trong quan hệ pháp luật Pháp nhân có tư cách pháp lý để tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập, và các điều kiện này là những tiêu chí để Nhà nước công nhận tổ chức đó là pháp nhân, chủ thể của quan hệ pháp luật.

Pháp nhân được hiểu là các tổ chức được pháp luật công nhận tư cách chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật, có địa vị pháp lý độc lập và bình đẳng với cá nhân Theo Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, pháp nhân là tổ chức hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và tài sản độc lập, có khả năng tham gia vào các quan hệ pháp luật và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình Pháp nhân không lệ thuộc vào bất kỳ tổ chức hay cơ quan nào và phải thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ mà họ tham gia.

Theo Trường Đại học Luật Hà Nội, pháp nhân được định nghĩa là tổ chức độc lập, hợp pháp với tài sản riêng, có khả năng tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình.

Pháp nhân là tổ chức hợp pháp được Nhà nước công nhận, có địa vị pháp lý độc lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Pháp nhân sở hữu tài sản riêng, chịu trách nhiệm bằng tài sản đó, không phụ thuộc vào cá nhân, tổ chức hay cơ quan khác, và có khả năng tham gia vào các quan hệ pháp luật trong xã hội.

Các điều kiện của pháp nhân

Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, một tổ chức cần đáp ứng bốn điều kiện pháp lý để được công nhận là pháp nhân Những điều kiện này giúp phân biệt rõ ràng giữa pháp nhân và các tổ chức không được công nhận là pháp nhân theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam.

Để được công nhận là pháp nhân hợp pháp, tổ chức phải được thành lập theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định, đồng thời được Nhà nước thừa nhận Nhà nước giữ vai trò chi phối, bảo đảm quyền lợi cho các cá nhân và tổ chức trong xã hội Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thành lập pháp nhân, thể hiện sự tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp phù hợp với xu hướng kinh tế thị trường Các tổ chức không tuân thủ trình tự, thủ tục pháp luật sẽ không được công nhận là pháp nhân Quy trình thành lập pháp nhân có thể thông qua đăng ký hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền, nhằm đảm bảo các tổ chức hoạt động đúng pháp luật và bảo vệ lợi ích của xã hội.

Tổ chức phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ theo Điều 83 Bộ luật Dân sự năm 2015, bao gồm cơ quan điều hành với nhiệm vụ và quyền hạn được ghi nhận trong Điều lệ hoặc quyết định thành lập Cơ cấu tổ chức cần đảm bảo tính tổ chức, tính cố kết và hiệu quả cao, giúp biến tập thể thành một thể thống nhất thực hiện nhiệm vụ tương ứng với loại hình tổ chức Tùy vào mục đích, nhiệm vụ và loại hình tổ chức (doanh nghiệp, trường đại học, hiệp hội, v.v.), nhóm sáng lập viên có quyền lựa chọn hình thức tổ chức phù hợp, đồng thời phải tuân thủ quy định pháp luật Tính thống nhất được duy trì qua các thủ tục pháp lý như điều lệ, nội quy và các văn bản pháp luật liên quan, và chỉ chấm dứt khi có quyết định phá sản hoặc giải thể Cơ cấu tổ chức phải hoàn chỉnh và thống nhất, với một bộ máy hoạt động đầy đủ chức năng và sự liên hệ chặt chẽ giữa các bộ phận, phụ thuộc lẫn nhau và chịu sự lãnh đạo thống nhất Cấu trúc này phải hoàn toàn tách biệt với các cá nhân, tổ chức khác, không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi thành viên hay tài sản, trừ khi thay đổi đó làm thay đổi cơ cấu hoặc chấm dứt pháp nhân Pháp nhân cũng cần có tính biệt lập so với các tổ chức khác trong xã hội.

Tổ chức cần có tài sản độc lập với cá nhân và tổ chức khác để tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó, điều này đánh dấu khả năng tài chính riêng của pháp nhân Tính độc lập tài chính đảm bảo uy tín của tổ chức khi tham gia vào các quan hệ pháp luật và kinh doanh Để xác định tài sản độc lập, tổ chức phải có khối lượng tài sản nhất định, quyền sở hữu và sự tách biệt hoàn toàn giữa tài sản của pháp nhân và tài sản của các thành viên, cơ quan chủ quản Tài sản này có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau như vốn góp, tài sản tặng cho hoặc ngân sách nhà nước Tài sản độc lập giúp tổ chức tự tham gia vào các quan hệ pháp luật và chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của mình Trách nhiệm tài sản của pháp nhân là vô hạn, trong khi trách nhiệm của các thành viên là hữu hạn, ngoại trừ một số loại hình doanh nghiệp như công ty hợp danh, nơi thành viên có thể phải chịu trách nhiệm bằng tài sản cá nhân nếu nợ lớn hơn tài sản của công ty Do đó, tổ chức cần có tài sản riêng để đảm bảo tính độc lập và tự chủ trong các hoạt động kinh doanh và pháp lý.

Tổ chức có tư cách pháp nhân tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập, nhờ vào ba điều kiện cơ bản: sự độc lập về cơ cấu tổ chức, tài sản và tư cách chủ thể Pháp nhân có quyền nhân danh chính mình, sử dụng tên gọi riêng mà không phụ thuộc vào Nhà nước hay tổ chức khác Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, pháp nhân có quyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước tòa án nếu bị xâm phạm Ngược lại, nếu thực hiện nhiệm vụ không đúng quy định, pháp nhân có thể trở thành bị đơn Sự tham gia của pháp nhân trong tố tụng dân sự là cơ sở cho tư cách pháp lý của họ trong tố tụng hình sự, mặc dù hai lĩnh vực này có những đặc thù riêng Pháp nhân là chủ thể độc lập và có trách nhiệm hình sự đối với các hành vi phạm tội mà mình gây ra.

Các dấu hiệu của pháp nhân là yếu tố bắt buộc để xác lập tư cách pháp nhân của tổ chức, với mối liên hệ chặt chẽ giữa chúng Khi được Nhà nước công nhận, pháp nhân có tư cách pháp lý theo luật định, có quyền tham gia vào các quan hệ pháp luật và giữ địa vị như một thể nhân tự nhiên Thiếu một trong các dấu hiệu này, tổ chức sẽ không được coi là có tư cách pháp nhân và có thể phù hợp với hình thức khác như hội hoặc hiệp hội Nhà lập pháp dựa vào mục tiêu, nhiệm vụ và các điều kiện cụ thể để xác định tư cách pháp nhân và phân biệt các hình thức sở hữu khác nhau.

Đặc điểm của pháp nhân

Để được công nhận là một thực thể xã hội có tư cách pháp lý, pháp nhân phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định Những điều kiện này không chỉ giúp phân biệt pháp nhân với các chủ thể khác trong quan hệ pháp luật mà còn xác định các đặc điểm riêng biệt của pháp nhân Những đặc điểm này là những đặc trưng khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của thành viên hay người đại diện, cơ quan tổ chức chủ quản Dựa trên khái niệm và điều kiện đã phân tích, có thể xác định những đặc điểm cụ thể của pháp nhân.

Năng lực chủ thể của pháp nhân khác biệt với cá nhân, bởi lẽ năng lực pháp luật của cá nhân bắt đầu từ khi sinh ra và kết thúc khi chết, trong khi năng lực pháp luật của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được thành lập hoặc được phép thành lập bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoặc khi được ghi vào sổ đăng ký nếu thuộc lĩnh vực phải đăng ký Năng lực pháp luật này chấm dứt khi pháp nhân ngừng tồn tại do đình chỉ hoạt động, chia, tách, sáp nhập hoặc hợp nhất Quyền và nghĩa vụ của pháp nhân tương ứng với phạm vi hoạt động và mục đích được ghi trong Điều lệ, cho thấy pháp nhân có năng lực chủ thể mang tính chuyên biệt dựa vào lĩnh vực và phạm vi hoạt động của mình.

Pháp nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật, thể hiện ý chí và mục đích riêng thông qua nội quy, điều lệ hoặc quyết định của chính nó, không phải từ người đại diện hay quản lý Ý chí của pháp nhân được thực hiện qua hành vi của người đại diện, khác biệt với cá nhân, nơi ý chí được biểu hiện qua hành động riêng lẻ Pháp nhân thể hiện ý chí tập thể thông qua các cá nhân làm việc cho nó, đồng thời hành vi của họ phải nằm trong khuôn khổ hợp đồng lao động Mặc dù mỗi cá nhân có vai trò khác nhau, tất cả đều hướng đến mục tiêu chung của pháp nhân theo điều lệ và tôn chỉ đã đề ra.

Hoạt động của pháp nhân được thực hiện thông qua các cá nhân, với việc giao kết được thực hiện nhân danh pháp nhân, nhằm xác lập quan hệ pháp luật rõ ràng giữa các bên Cá nhân thực hiện các hoạt động này không đại diện cho quyền và nghĩa vụ của chính họ, mà là của pháp nhân mà họ đại diện Việc thực hiện hoạt động của pháp nhân chủ yếu thông qua người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền và các thành viên của pháp nhân Người đại diện theo pháp luật có thể được xác định theo quy định của pháp luật, điều lệ hoặc chỉ định của cơ quan tài phán Đại diện theo ủy quyền cho phép cá nhân được ủy quyền thực hiện các nhiệm vụ trong phạm vi và thời hạn nhất định, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tham gia vào quan hệ pháp luật Hành vi của các thành viên pháp nhân cũng nằm trong phạm vi nghĩa vụ hợp đồng lao động và phát sinh quyền và nghĩa vụ cho pháp nhân Nếu thành viên không thực hiện nghĩa vụ hoặc gây thiệt hại, pháp nhân sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý.

Pháp nhân có sự độc lập về tài sản, nghĩa là tài sản của pháp nhân tách biệt với tài sản của các thành viên và các pháp nhân khác Điều này rất quan trọng trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của pháp nhân khi tham gia vào các quan hệ pháp luật Tự chủ về tài chính và tài sản là yêu cầu thiết yếu cho tổ chức khi trở thành pháp nhân, vì pháp nhân sẽ đại diện cho chính mình trong các giao dịch pháp lý Sự phụ thuộc vào tài sản có thể ảnh hưởng lớn đến tư cách pháp lý của pháp nhân, khiến các đối tác e dè khi thiết lập quan hệ hợp tác, từ đó gia tăng rủi ro và gây mất ổn định cho nền kinh tế Khi sở hữu tài sản, pháp nhân có quyền chiếm hữu, sở hữu và quyết định về tài sản đó.

Pháp nhân có lý lịch riêng biệt, giống như thể nhân, được xác định bởi các dấu hiệu đặc trưng và hình thành theo quy định của pháp luật, với sự cho phép của Nhà nước Lý lịch này giúp phân biệt các pháp nhân thông qua các tiêu chí mà pháp luật yêu cầu kê khai, bao gồm điều lệ, quyết định thành lập, tên gọi, địa chỉ trụ sở, quốc tịch, và thông tin trong sổ đăng ký Quốc tịch của pháp nhân, phụ thuộc vào quốc gia nơi pháp nhân được thành lập, quyết định sự quản lý và điều chỉnh pháp luật đối với các hoạt động của pháp nhân đó.

Phân loại pháp nhân

Theo Bộ luật Dân sự năm 2005, tổ chức có tư cách pháp nhân được phân loại thành năm loại chính, bao gồm: Cơ quan Nhà nước và đơn vị vũ trang nhân dân; Tổ chức chính trị và tổ chức chính trị – xã hội; Tổ chức kinh tế; Tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội và tổ chức xã hội nghề nghiệp; Quỹ xã hội và quỹ từ thiện Những phân loại này dựa trên nhiệm vụ, mục đích và hình thức sở hữu khác nhau của các tổ chức.

Bộ luật Dân sự 2005 cung cấp những giải thích chi tiết về nhiệm vụ, mục đích hình thành và yêu cầu pháp lý đối với từng loại pháp nhân Việc phân loại pháp nhân dựa trên nhiều tiêu chí như nhiệm vụ, mục đích, tính chất sở hữu và tên gọi, tuy nhiên, sự thiếu nhất quán trong cách trình bày các tiêu chí này có thể gây khó hiểu Chẳng hạn, trong khi cơ quan nhà nước được xác định mục tiêu là thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, thì tổ chức kinh tế lại không rõ ràng về mục đích hình thành, liệu là vì lợi nhuận hay mục đích xã hội Sự thiếu cụ thể và chi tiết trong quy định về các tiêu chí phân loại pháp nhân là một điểm bất cập cần được xem xét trong bộ luật.

Quốc hội đã thông qua Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm khắc phục những thiếu sót của luật trước đó, với tiêu chí phân loại pháp nhân rõ ràng dựa trên mục tiêu và lợi ích của tổ chức Bộ luật mới phân chia pháp nhân thành hai loại: pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại Pháp nhân thương mại được xác định bởi mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và chia sẻ lợi ích với các thành viên, trong khi pháp nhân phi thương mại không nhằm mục đích lợi nhuận hoặc không chia lợi nhuận cho các thành viên Các tổ chức như cơ quan nhà nước, quỹ xã hội, và doanh nghiệp xã hội đều thuộc loại pháp nhân phi thương mại, phục vụ cộng đồng và thực hiện chức năng quản lý Tiêu chí phân loại này tương đồng với quy định của nhiều quốc gia phát triển, tạo nền tảng cho sự phát triển của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này.

Năm 2015, quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại đã được ban hành, cùng với các quy phạm liên quan đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các pháp nhân Những quy định này nhằm nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm của các tổ chức trong hoạt động kinh doanh, đồng thời góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng và xã hội.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã thể hiện sự phân loại pháp nhân, đánh dấu một bước tiến tích cực trong kỹ thuật lập pháp Sự thay đổi này không chỉ nâng cao tính nhất quán mà còn đảm bảo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật.

Pháp nhân trong tố tụng hình sự

Pháp nhân là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Vụ án hình sự xảy ra khi có tội phạm, yêu cầu các cơ quan chức năng tiến hành điều tra, truy tố và xét xử theo quy định của pháp luật Việc này nhằm đảm bảo giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, chính xác và khoa học.

Tố tụng hình sự là một quy trình chặt chẽ, bao gồm nhiều giai đoạn và được thực hiện bởi các cơ quan hành pháp và tư pháp theo quy định của pháp luật Trong quá trình này, sự hiện diện của pháp nhân được phân loại dựa trên vai trò và tư cách của họ Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bao gồm cơ quan điều tra và các đơn vị được giao nhiệm vụ điều tra một số hoạt động cụ thể Mỗi vụ án hình sự phát sinh trong bối cảnh khác nhau, dẫn đến sự tham gia của các cơ quan với tư cách pháp nhân khác nhau Dựa trên chức năng, nhiệm vụ, và quyền hạn, pháp nhân có thể tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự với nhiều tư cách khác nhau.

Pháp nhân trong pháp luật tố tụng chủ yếu là các cơ quan tiến hành tố tụng như Viện kiểm sát, Cơ quan Điều tra, Tòa án và Cơ quan Thi hành án, thực hiện các giai đoạn từ khởi tố vụ án đến thi hành bản án Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố và kiểm sát trong tố tụng hình sự, trong khi Tòa án là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước Cơ quan điều tra Công an nhân dân, Quân đội nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân chịu trách nhiệm điều tra các tội phạm theo phân cấp thẩm quyền Cơ quan điều tra Quân đội chỉ điều tra các vụ án liên quan đến quân đội, trong khi Viện kiểm sát nhân dân tối cao xử lý các vụ án tham nhũng Các cơ quan khác như Bộ đội biên phòng, Hải quan, và Kiểm lâm cũng tham gia điều tra trong những trường hợp luật định Tất cả các cơ quan này đều là pháp nhân phi thương mại, hoạt động dưới sự chỉ đạo của Nhà nước, nhằm đảm bảo quy trình tố tụng hình sự diễn ra đúng pháp luật.

Pháp nhân là cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng

Pháp nhân không chỉ là cơ quan có thẩm quyền trong tố tụng mà còn tham gia với tư cách người tham gia tố tụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được công nhận quyền và nghĩa vụ trong các vai trò như người tố giác, bị hại, nguyên đơn dân sự và bị đơn dân sự Bộ luật mới kế thừa và mở rộng các quy định từ Bộ luật năm 2003, khẳng định quyền lợi của các cơ quan, tổ chức và pháp nhân, phù hợp với Hiến pháp năm 2013 Nhà nước cho phép các cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng thông qua người đại diện, và các tổ chức có thể là pháp nhân hoặc không Thực tế cho thấy, các cơ quan, tổ chức mang tư cách pháp nhân tham gia tố tụng thông qua người đại diện hợp pháp Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng quy định thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân, mở rộng đối tượng chịu trách nhiệm hình sự, bao gồm cả pháp nhân thương mại, trước những hành vi vi phạm pháp luật.

Pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo truyền thống lập pháp, luật hình sự chỉ xem xét hành vi và lỗi của cá nhân, dẫn đến nguyên tắc trách nhiệm hình sự cá nhân, không bao gồm tổ chức, pháp nhân Tuy nhiên, do thực tiễn yêu cầu cấp bách và sự nghiên cứu từ các học giả, tư duy về trách nhiệm hình sự của pháp nhân đã thay đổi, dẫn đến việc Bộ luật Hình sự năm 2015 ghi nhận trách nhiệm của pháp nhân với 31 tội danh liên quan đến kinh tế và môi trường Pháp nhân giờ đây tham gia tố tụng hình sự như người bị buộc tội, yêu cầu quy trình và thủ tục tố tụng phù hợp Luật hình sự xác định căn cứ và nguyên tắc trách nhiệm hình sự, nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nước và xã hội Để áp dụng luật hình sự vào thực tiễn, cần có quy trình cụ thể và thẩm quyền của cơ quan tố tụng Mối quan hệ giữa luật hình sự và tố tụng hình sự là thống nhất, với tố tụng hình sự là công cụ đánh giá quan hệ pháp luật hình sự Việc quy định trách nhiệm hình sự cho pháp nhân kéo theo các thủ tục tố tụng nhằm truy cứu trách nhiệm của họ khi bị cáo buộc phạm tội.

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định trách nhiệm hình sự cho pháp nhân, điều này phản ánh sự cần thiết phải điều chỉnh theo thực tiễn xã hội, đặc biệt là trong bối cảnh các công ty và tổ chức kinh tế xả thải gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Trước đây, chỉ có cá nhân mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, dẫn đến sự bất công khi một số cá nhân phải chịu trách nhiệm trong khi pháp nhân lại không bị xử lý Việc quy định này không chỉ đảm bảo tính công bằng mà còn nâng cao khả năng khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại, giúp duy trì trật tự xã hội và quản lý hiệu quả của Nhà nước.

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân tại Việt Nam đã được hình thành từ những nghiên cứu và quan điểm của các luật gia quốc tế, đặc biệt từ khi dự án Bộ luật Hình sự năm 1999 được xây dựng Mặc dù ban đầu chưa được công nhận, sự cần thiết phải quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đã được nhấn mạnh trong bối cảnh đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo vệ lợi ích của tổ chức, cá nhân trong xã hội Bộ luật Hình sự năm 2015 đã khắc phục những thiếu sót trước đó, đáp ứng nhu cầu thực tiễn và phòng chống rủi ro từ sự phát triển của các tổ chức trong nền kinh tế thị trường Việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân không chỉ phù hợp với xu hướng toàn cầu mà còn giúp Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế, như Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng Hiện nay, trách nhiệm hình sự của pháp nhân đã được ghi nhận trong pháp luật của 119 quốc gia, trong đó có nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á, điều này cho thấy sự cần thiết phải có cơ sở pháp lý để xử lý các vi phạm của tổ chức, pháp nhân nước ngoài.

Theo quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, pháp nhân chỉ được xem xét trong mối quan hệ với trách nhiệm hình sự khi là pháp nhân thương mại Bộ luật Tố tụng hình sự không định nghĩa rõ ràng về pháp nhân phạm tội, nhưng xác định rằng chỉ có pháp nhân thương mại mới chịu trách nhiệm hình sự Trong quá trình tố tụng, pháp nhân có thể đóng vai trò là bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc bị đơn dân sự, nhưng đối với việc truy cứu trách nhiệm hình sự, pháp nhân phải là pháp nhân thương mại Việt Nam tổ chức chính quyền theo hệ thống thống nhất, do đó chỉ pháp nhân thương mại mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự để đảm bảo khả năng thi hành án, trong khi các cơ quan, tổ chức trực thuộc nhà nước không thể tự xử lý Sự khác biệt về vai trò của pháp nhân trong các hoạt động tố tụng tùy thuộc vào tư cách tham gia của chúng.

Pháp nhân tham gia vào quá trình tố tụng hình sự với nhiều tư cách khác nhau, trong đó các cơ quan, tổ chức thực hiện tố tụng thường thuộc loại pháp nhân phi thương mại, đảm bảo quyền lực công của nhà nước và giải quyết vụ án hình sự một cách chính xác và nhanh chóng Ngược lại, khi pháp nhân tham gia với tư cách người tham gia tố tụng, trừ trường hợp đặc thù khi thực hiện hành vi phạm tội, thì chủ yếu là pháp nhân thương mại Do đó, các cơ quan, tổ chức không có tư cách pháp nhân, pháp nhân phi thương mại hoặc pháp nhân thương mại có thể đóng vai trò là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, bị hại, hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Pháp nhân trước đây chủ yếu nằm trong phạm vi điều chỉnh của pháp luật kinh tế và tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện tại, khi các quy định về xử phạt hành chính và bồi thường dân sự không đủ sức răn đe các hành vi vi phạm trong lĩnh vực kinh tế và môi trường, việc xem xét trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân trở nên cần thiết Luật hình sự cần phải dựa trên các đặc điểm của pháp nhân theo pháp luật dân sự để xác định phạm vi chịu trách nhiệm hình sự, chủ yếu là pháp nhân thương mại Hiểu rõ khái niệm pháp nhân là cơ sở để áp dụng trách nhiệm hình sự và thực hiện các thủ tục tố tụng một cách hiệu quả Chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân yêu cầu có các quy phạm pháp luật tố tụng đặc thù, khác với các cơ quan, tổ chức khác trong tố tụng hình sự Pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự có những điểm khác biệt rõ rệt, với vai trò trung tâm trong các hoạt động tố tụng nhằm giải quyết vụ án hình sự do hành vi vi phạm của chính nó Do đó, cần có các quy định pháp luật chuyên biệt để điều chỉnh hiệu quả trong quá trình tố tụng, nhằm đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân diễn ra nhanh chóng và đúng pháp luật.

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN

NHỮNG KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ KHI ÁP DỤNG THỦ TỤC TỐ TỤNG TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ PHÁP NHÂN VÀ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI, HOÀN THIỆN

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Khác
3. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 Khác
4. Bộ luật Hình sự năm 2015 Khác
5. Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 Khác
6. Bộ luật Dân sự năm 2015 Khác
7. Bộ luật Dân sự năm 2005 Khác
8. Luật Doanh nghiệp năm 2014 Khác
9. Luật Hợp tác xã năm 2012 Khác
10. Luật Thi hành án năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 Khác
11. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 Khác
12. Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 Khác
13. Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015;  Văn bản quy phạm pháp luật của một số quốc gia trên thế giới Khác
14. Bộ luật Tố tụng hình sự Hàn Quốc năm 1954 sửa đổi, bổ sung lần cuối năm 2009 Khác
15. Bộ luật Tố tụng hình sự Trung Quốc năm 1997 Khác
16. Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Bosnia và Herzegovina năm 2013 Khác
17. Bộ luật Tố tụng hình sự quận Brcko năm 2013 Khác
18. Bộ luật Tố tụng hình sự Cộng hòa Srpska năm 2012 Khác
19. Bộ luật Hình sự Singapore năm 1871 sửa đổi, bổ sung năm 2008 Khác
20. Bộ luật Tố tụng hình sự Singapore năm 2010 sửa đổi năm 2012 Khác
21. Bộ luật Hình sự Thụy Sỹ năm 1996 sửa đổi, bổ sung năm 2003 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w