Tính cấp thiết của đề tài
Hình phạt là một khái niệm pháp lý - xã hội phức tạp, gắn liền với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật, và đã được ghi nhận từ rất sớm trong hệ thống pháp luật hình sự toàn cầu Tại Việt Nam, hình phạt đóng vai trò trung tâm và quan trọng trong luật hình sự, với tính chất và mức độ thể hiện của các nguyên tắc cơ bản như pháp chế, nhân đạo và dân chủ xã hội chủ nghĩa phụ thuộc vào chế định này Do đó, việc nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về chế định hình phạt là cần thiết, đặc biệt khi Bộ luật Hình sự Việt Nam lần đầu tiên được áp dụng.
Năm 2015, PNTM đã được công nhận là chủ thể mới phải chịu hình phạt bên cạnh thể nhân, đánh dấu một bước đột phá trong chính sách hình sự Việt Nam Sự thay đổi này không chỉ làm thay đổi nhận thức truyền thống về hình phạt mà còn đặt ra yêu cầu đánh giá lại các vấn đề lớn liên quan đến chế định hình phạt như định nghĩa, đặc điểm, phân loại, mục đích và ý nghĩa, nhằm phù hợp với chủ thể tội phạm mới này.
Hiện nay, chế định hình phạt đối với pháp nhân phạm tội chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên biệt Trước khi pháp luật hình sự Việt Nam thừa nhận TNHS của pháp nhân, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào lý luận và các học thuyết liên quan để chứng minh pháp nhân là chủ thể chịu TNHS Các nhà khoa học Việt Nam đã đề xuất mô hình hình phạt cho pháp nhân dựa trên kinh nghiệm quốc tế Sau khi Bộ luật Hình sự Việt Nam 2015 thừa nhận TNHS của pháp nhân, nghiên cứu về hình phạt áp dụng cho pháp nhân phạm tội vẫn còn hạn chế và chỉ được một số tác giả khai thác.
Nghiên cứu và so sánh các quy định pháp luật hình sự Việt Nam với thông lệ quốc tế là rất cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh Bộ luật Hình sự 2015 sắp có hiệu lực Đề tài "Hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội theo luật hình sự Việt Nam" đang trở nên cấp bách và thu hút sự quan tâm từ các tạp chí khoa học pháp lý.
Tình hình nghiên cứu
Trách nhiệm hình sự của pháp nhân đã trở thành một vấn đề quan trọng trong khoa học pháp lý Việt Nam Việc bổ sung chế định này vào Bộ luật Hình sự là cần thiết, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cấp bách và là kết quả của quá trình nghiên cứu lâu dài.
Trong suốt 16 năm (từ 1999 đến nay), Chính phủ đã kiên trì nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những bất cập trong việc xử lý vi phạm pháp luật của pháp nhân, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế và môi trường, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người bị thiệt hại Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu hiện nay chỉ tập trung vào việc chứng minh pháp nhân là chủ thể chịu trách nhiệm hình sự, trong khi các quy định về hình phạt đối với pháp nhân vẫn chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu Mặc dù có nhiều tài liệu đề cập đến hình phạt áp dụng cho pháp nhân phạm tội, nhưng chủ yếu chỉ dừng lại ở việc tham khảo pháp luật của các quốc gia khác Đặc biệt, chưa có tài liệu chuyên khảo nào xây dựng lý luận một cách hệ thống về vấn đề này Đây là một trong những vấn đề cần được giải quyết trong khóa luận, đặc biệt khi Bộ luật Hình sự 2015 sắp có hiệu lực và chỉ có một vài bài viết trên các tạp chí liên quan.
Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại (PNTM) theo Bộ luật Hình sự năm 2015 là một vấn đề quan trọng mà các doanh nghiệp cần nắm rõ Theo tác giả Nguyễn Văn Hương, PNTM có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu vi phạm pháp luật Trong khi đó, tác giả Ngô nhấn mạnh rằng doanh nghiệp cần hiểu rõ các quy định liên quan đến PNTM phạm tội để tránh những rủi ro pháp lý Việc nắm bắt các quy định này không chỉ giúp doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi mà còn góp phần xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh.
Ngọc Trai đã đề cập đến các quy định về trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên (PNTM) trong Bộ luật Hình sự năm 2015, thông qua các tác phẩm của Nguyễn Văn Thuyết, Đinh Công Thành, và tập thể tác giả Lê Văn Cảm, Nguyễn Quang Long, Nguyễn Văn Thủy Các bài viết này chỉ cung cấp một cái nhìn tổng quan về hình phạt áp dụng cho PNTM phạm tội theo BLHS 2015, nhấn mạnh những điểm mới trong các chế định về biện pháp tha miễn và quy định dành cho người dưới 18 tuổi.
Bên cạnh tài liệu trong nước, tài liệu nước ngoài cũng cung cấp nguồn thông tin phong phú cho nghiên cứu Những tài liệu này chủ yếu phân tích các vấn đề thực tiễn liên quan đến pháp luật hình sự ở các quốc gia có quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân Do đó, chúng sẽ được sử dụng làm cơ sở tham khảo để so sánh với các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật thế giới, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ và phạm vi của khóa luận
Mục đích của khóa luận là nghiên cứu hệ thống các vấn đề lý luận liên quan đến hình phạt áp dụng cho pháp nhân phạm tội, dựa trên cơ sở lý luận về hình phạt trong luật hình sự Việt Nam Bên cạnh đó, khóa luận cũng sẽ phân tích các quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) để làm rõ hơn về vấn đề này.
Năm 2015, nghiên cứu về hình phạt dành cho PNTM phạm tội đã được thực hiện, dựa trên kinh nghiệm của các quốc gia khác để đưa ra các đề xuất lý luận và thực tiễn cho vấn đề này tại Việt Nam Để đạt được mục tiêu này, khóa luận đã xác định các nhiệm vụ cần thực hiện.
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm, phân loại, mục đích, ý nghĩa của hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội
Bài viết này sẽ xem xét và phân tích các loại hình phạt áp dụng đối với PNTM (phạm nhân tái phạm) theo Bộ luật Hình sự 2015, bao gồm điều kiện và nguyên tắc áp dụng Đồng thời, chúng tôi sẽ đánh giá tính hợp lý của những quy định này nhằm hiểu rõ hơn về hiệu quả và sự công bằng trong việc xử lý các trường hợp phạm tội.
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn pháp lý về hình phạt đối với pháp nhân phạm tội tại một số quốc gia trên thế giới giúp đánh giá và rút ra những bài học quý giá cho pháp luật Việt Nam Việc phân tích các hình thức xử lý pháp nhân sẽ cung cấp cơ sở để hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong việc xử lý các vi phạm của tổ chức.
Bài viết phân tích quy định của Bộ luật Hình sự 2015 và kinh nghiệm từ pháp luật nước ngoài, chỉ ra những bất cập trong việc áp dụng hình phạt đối với pháp nhân phạm tội Đồng thời, tác giả đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Phân tích các quy định của BLHS 2015 về hình phạt áp dụng đối với PNTM phạm tội bao gồm các điều thuộc chương XI (Điều 75, Điều 77 đến Điều
Theo Bộ luật Hình sự 2015, các điều khoản chung như Điều 2, Điều 30, Điều 31 và Điều 33 quy định về hình phạt áp dụng đối với phụ nữ tham gia hoạt động tội phạm trong 31 tội danh được quy định trong luật.
- Phân tích các quy định hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội của pháp luật các nước trên thế giới như Singapore, Mỹ, Pháp, Bỉ.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài này được xây dựng dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tập trung vào hai khía cạnh chính là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, nhằm phân tích mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh, thống kê…
Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của khóa luận
Khóa luận “Hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội theo Bộ luật hình sự Việt Nam” nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu cả về lý luận lẫn thực tiễn, đóng góp vào việc giải quyết các vấn đề lý luận và phân tích thực tiễn quy định pháp luật hình sự liên quan đến hình phạt đối với pháp nhân phạm tội.
Khóa luận đã nghiên cứu lý luận về hình phạt áp dụng cho pháp nhân phạm tội và phân tích quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam 2015 cũng như pháp luật hình sự quốc tế Qua đó, khóa luận chỉ ra những bất cập trong các quy định hiện hành và đề xuất các phương án hoàn thiện pháp luật liên quan đến hình phạt cho pháp nhân.
Tác giả hy vọng khóa luận là một tài liệu tham khảo có giá trị khoa học trong học tập, nghiên cứu về pháp luật hình sự
Cơ cấu của khóa luận
Cơ cấu của khóa luận: ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm hai chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội
- Chương 2: Quy định của Bộ luật Hình sự 2015 về hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội và một số kiến nghị hoàn thiện
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI PHÁP NHÂN PHẠM TỘI
Một số vấn đề về pháp nhân phạm tội và hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội
1.1 Một số vấn đề về pháp nhân phạm tội và hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội
1.1.1 Khái quát về pháp nhân phạm tội
BLHS 2015 lần đầu tiên công nhận trách nhiệm hình sự của pháp nhân và xem pháp nhân là chủ thể của tội phạm, điều này mở ra một khái niệm mới về pháp nhân phạm tội trong lĩnh vực hình sự Để hiểu rõ hơn về chủ thể này, chúng ta cần nghiên cứu khái niệm pháp nhân và vai trò của nó trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là trong bối cảnh BLDS.
2015 không quy định khái niệm pháp nhân là gì, nhưng có quy định các điều kiện để một tổ chức được công nhận là pháp nhân tại Điều 74 1
Theo Bộ luật Hình sự 2015, chỉ có pháp nhân thương mại (PNTM) mới có thể là chủ thể của tội phạm, như quy định tại khoản 1 Điều 8 Để xác định thế nào là PNTM, Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định tại Điều 75.
“1 PNTM là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên
2 PNTM bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.”
Theo Điều 76 BLDS 2015, pháp nhân phi thương mại được định nghĩa nhằm xác định các tổ chức không thuộc phạm vi này, bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác Theo quy định, các doanh nghiệp được thành lập theo luật doanh nghiệp như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh là những pháp nhân có khả năng trở thành chủ thể của tội phạm.
Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: được thành lập theo quy định của Bộ luật và các luật liên quan, có cơ cấu tổ chức phù hợp với Điều 83 của Bộ luật này.
Có tài sản độc lập với cá nhân và pháp nhân khác, đồng thời tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình Bên cạnh đó, cá nhân hoặc tổ chức có thể tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Doanh nghiệp tư nhân không được coi là chủ thể của tội phạm do không có tư cách pháp nhân; trong trường hợp này, chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ là người chịu trách nhiệm Bên cạnh doanh nghiệp tư nhân, các tổ chức kinh tế khác cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm nếu đáp ứng các điều kiện về tư cách pháp nhân theo Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015.
Phạm vi chủ thể của PNTM theo BLHS 2015 bao gồm doanh nghiệp và tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm hình sự.
Nguyễn Văn Hương sau khi nghiên cứu quy định của BLDS 2015 cũng cho rằng PNTM bao gồm doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân 2
PNTM sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng đủ ba điều kiện theo khoản 1 Điều 75 BLHS 2015 Theo tài liệu tập huấn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao vào tháng 5 năm 2016, các điều kiện này bao gồm việc PNTM thực hiện hành vi phạm tội, có năng lực trách nhiệm hình sự và không thuộc các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự.
Hành vi phạm tội dưới danh nghĩa pháp nhân thương mại (PNTM) bao gồm ba yếu tố chính Thứ nhất, người thực hiện hành vi phạm tội có thể là lãnh đạo, điều hành hoặc người được ủy quyền bởi PNTM Thứ hai, hành vi phạm tội phải nhằm mang lại lợi ích cho PNTM, ngay cả khi lợi ích đó không phải là duy nhất Thứ ba, hành vi phạm tội cần có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận từ PNTM, phản ánh trách nhiệm của pháp nhân qua ý thức của người đứng đầu hoặc ban lãnh đạo Do đó, PNTM chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi lãnh đạo nhận thức hành vi trái pháp luật mà vẫn tiếp tục chỉ đạo thực hiện.
2 Nguyễn Văn Hương (2016), “Trách nhiệm hình sự của PNTM theo BLHS 2015”, Tạp chí Luật học, (04), tr
PNTM chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau: hành vi phạm tội phải được thực hiện nhân danh PNTM, vì lợi ích của PNTM, có sự chỉ đạo hoặc chấp thuận của PNTM, và thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự chưa hết theo quy định của Bộ luật.
8 hành hoặc chấp thuận cho người đó thực hiện hành vi nhằm phục vụ cho lợi ích chung của pháp nhân
Theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015, điều kiện để pháp nhân thương mại (PNTM) chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) chủ yếu dựa trên học thuyết “đồng nhất hóa” Học thuyết này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định TNHS của các pháp nhân, thể hiện sự kết nối giữa hành vi của cá nhân và trách nhiệm của tổ chức.
Hiện nay, trong các tài liệu khoa học pháp lý tại Việt Nam, vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về khái niệm pháp nhân phạm tội Nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra những quan điểm khác nhau liên quan đến vấn đề này.
Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Hòa, khái niệm "phạm tội" của pháp nhân thương mại (PNTM) được xác định trong Bộ luật Hình sự 2015 chỉ áp dụng khi PNTM phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội do cá nhân thực hiện, theo các Điều 75 và 76 Ông nhấn mạnh rằng pháp nhân không phải là chủ thể của tội phạm; trách nhiệm hình sự có thể thuộc về cá nhân hoặc pháp nhân, nhưng tội phạm chỉ có thể do cá nhân thực hiện Tiến sĩ Nguyễn Văn Hương cũng đồng tình với quan điểm này.
“PNTM “được coi”, “bị quy kết” là phạm tội khi có hành vi của con người được
Hiện nay, nghiên cứu về vai trò của pháp nhân trong trách nhiệm hình sự (TNHS) tại Việt Nam được chia thành ba nhóm chính: (1) nhóm nghiên cứu xác định pháp nhân là chủ thể của TNHS nhưng không thể hiện pháp nhân là chủ thể của tội phạm; (2) nhóm nghiên cứu cho thấy pháp nhân là chủ thể của TNHS và cũng là chủ thể của tội phạm; và (3) nhóm nghiên cứu khẳng định pháp nhân vừa là chủ thể của TNHS vừa là chủ thể của tội phạm Việc xác định pháp nhân có phải là chủ thể của tội phạm hay không rất quan trọng trong việc áp dụng hình phạt, vì trách nhiệm hình sự là yếu tố thiết yếu trong việc xác định mục đích của hình phạt đối với pháp nhân phạm tội.
4 Nguyễn Ngọc Hòa (2016), “Khái niệm tội phạm và việc quy định TNHS của PNTM trong BLHS Việt Nam năm 2015”, Tạp chí Luật học, (02), tr 11
5 Nguyễn Văn Hương (2016), tlđd 2, tr 63
6 Xem: Nguyễn Ngọc Hòa (2016), tlđd 4, tr 8
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau từ các học giả về vai trò của pháp nhân trong lĩnh vực trách nhiệm hình sự, tác giả của khóa luận này ủng hộ quan điểm cho rằng pháp nhân vừa là một chủ thể của trách nhiệm hình sự, vừa là một chủ thể của tội phạm Quan điểm này cũng được khẳng định bởi Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong tài liệu tập huấn Bộ luật hình sự 2015 vào tháng 5 năm 2016.
Quy định của pháp luật nước ngoài về hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội
1.2.1 Quy định của các nước theo truyền thống Thông Luật (Common Law)
Trong các nước theo truyền thống Thông luật (Common Law), hình phạt áp dụng cho pháp nhân phạm tội chủ yếu là hình phạt tiền, được coi là hình phạt duy nhất Anh Quốc là quốc gia tiên phong trong việc thiết lập chế định hình sự đối với pháp nhân dựa trên các án lệ, và từ đó, quy định này đã được áp dụng tại nhiều quốc gia Thông luật khác như Canada, Úc và New Zealand Mặc dù vậy, phần lớn các nước trong hệ thống Thông luật vẫn chỉ quy định hình phạt tiền cho pháp nhân phạm tội.
32 được áp dụng đối với pháp nhân phạm tội, tuy nhiên cách thức và mức độ chế tài xử phạt của mỗi nước là khác nhau
Singapore là một quốc gia Châu Á theo hệ thống Common Law, với nguồn luật hình sự không chỉ giới hạn ở Bộ luật hình sự (BLHS) mà còn bao gồm hơn 150 văn bản pháp luật chuyên ngành khác BLHS Singapore 1985 xác định trách nhiệm hình sự của pháp nhân qua Điều 11, cho phép các công ty và tổ chức, dù có tư cách pháp nhân hay không, phải chịu trách nhiệm hình sự cho mọi loại tội Điều 40 của BLHS quy định rằng tội phạm là hành vi bị trừng phạt theo luật hiện hành, cho thấy BLHS không phải là văn bản duy nhất quy định hình phạt cho pháp nhân phạm tội Mặc dù có quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân, luật hình sự Singapore không nêu rõ các hình thức trách nhiệm hình sự áp dụng, có thể do ảnh hưởng từ hệ thống Thông Luật Anh Tuy nhiên, theo các đạo luật riêng, hình phạt tiền thường được áp dụng cho pháp nhân phạm tội, điển hình như Luật Chứng khoán và các hoạt động phái sinh (SFA) cùng nhiều luật khác liên quan.
Khi một công ty hoạt động gây hại, công tố viên nhà nước thường áp dụng các quy định cụ thể theo một Luật riêng, thay vì dựa trên các quy định tổng quát trong Bộ luật Hình sự.
36 Xem: Cao Thị Oanh (2009), “Nghiên cứu so sánh các quy định của Luật Hình sự Singapore và Luật Hình sự Việt Nam”, Tạp chí Luật học, (12), tr 18
37 Hoàng Thị Tuệ Phương (2006), tlđd 18, tr.72
38 Stanley Yeo, Neil Morgan, Chan Wing Cheong (2012), Criminal Law in Malaysia and Singapore,
Vào năm 2004, 33 hầm tàu điện ngầm tại quốc lộ Nicholl, Singapore đã sụp đổ, dẫn đến cái chết của bốn người Hệ quả là công ty nhà thầu chính và ba giám đốc điều hành cấp cao bị truy tố theo Đạo luật Nhà máy năm 1998 vì vi phạm luật Các cá nhân liên quan cũng sẽ bị khởi tố theo Đạo luật kiểm soát xây dựng Sự việc này minh chứng rằng, mặc dù hành vi phạm tội tương tự, nhưng các quy định pháp luật áp dụng cho cá nhân và pháp nhân lại khác nhau Trong cùng một đạo luật, mức phạt tiền đối với pháp nhân thường cao hơn so với cá nhân.
Theo Điều 204 Luật Chứng khoán và các hoạt động phái sinh (SFA), các hành vi như lũng đoạn thị trường chứng khoán (Điều 198) và kinh doanh trái phép (Điều 197) có thể bị phạt lên đến 250.000 đô la Singapore (SGD) hoặc phạt tù đến bảy năm Đối với pháp nhân, theo Điều 333 SFA, mức phạt tối đa có thể gấp đôi, lên đến 500.000 SGD Tương tự, Điều 23 Đạo luật về sản xuất kính áp tròng năm 2004 quy định rằng pháp nhân vi phạm thông tin có thể bị phạt tối đa 100.000 SGD, và nếu tái phạm, mức phạt có thể lên đến 200.000 SGD Đối với cá nhân vi phạm, mức phạt tối đa là 50.000 SGD hoặc phạt tù đến 6 tháng.
Pháp luật Singapore quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân cho mọi loại tội phạm trong Bộ luật Hình sự, nhưng thực tế, các luật riêng lại được ưu tiên áp dụng Sự kết hợp này thể hiện tính đa dạng của hệ thống pháp luật hình sự, giúp người dân dễ dàng tìm hiểu khi tham gia vào các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội Tuy nhiên, sự tồn tại của nhiều văn bản pháp luật riêng biệt quy định hình phạt cho pháp nhân phạm tội cũng đặt ra những thách thức trong việc áp dụng và thực thi pháp luật.
Việc áp dụng 34 tội danh này sẽ gặp khó khăn cho các Thẩm phán, và phương pháp này chỉ phù hợp với những khu vực có đội ngũ cán bộ tư pháp chuyên nghiệp.
Khi xác định một pháp nhân phạm một tội Liên bang, thẩm phán sẽ dựa theo Điều 3553 (a) phần 18 của Bộ tổng luật Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (18 U.S Code §
3553) và Chương 8 hướng dẫn tuyên án Liên bang (United State Sentencing Guidelines – U.S.S.G) để đưa ra hình phạt dành cho pháp nhân phạm tội
Năm 1991, Ủy ban tuyên án của Mỹ đã ban hành những hướng dẫn tuyên án chung đầu tiên (U.S.S.G) nhằm xác định các bản án hình sự đối với doanh nghiệp phạm tội tại Tòa án Liên bang Hệ thống này áp đặt các hình phạt sáng tạo với mục tiêu chính là cung cấp sự trừng phạt và răn đe hợp lý, đồng thời khuyến khích các tổ chức duy trì cơ chế nội bộ để ngăn ngừa, phát hiện và báo cáo hành vi phạm tội Theo luật liên bang, các biện pháp trừng phạt bao gồm phạt tiền, bồi thường, khắc phục hậu quả, tham gia dự án cộng đồng và giám sát tư pháp, trong khi luật bang có thể dẫn đến việc giải thể công ty và cấm tham gia một số hoạt động kinh doanh Hệ thống này nhấn mạnh rằng hình phạt phải ở mức vừa đủ và phù hợp, do đó Tòa án cần tính toán số tiền phạt theo các bước cụ thể.
Theo Mục 2.4 Phần C Chương 8 của U.S.S.G, tòa án sẽ xác định mức phạt cơ sở dựa trên mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội Mức độ nghiêm trọng này được đánh giá thông qua việc tính toán lợi ích tài chính mà tổ chức thu được từ hành vi phạm tội, thiệt hại gây ra cho nạn nhân bởi các hành động bất hợp pháp, và cấp độ tội phạm tương ứng với một khoản tiền cụ thể theo bảng tham chiếu quy định.
40 Hans de Doelder Klaus Tiedemann (1996), Criminal Liability of Corporations - US, Kluwer Law
Tòa án sẽ nhân số tiền phạt cơ sở với một con số phản ánh mức độ lỗi của hành vi phạm tội, được tính toán dựa trên các tiêu chí như quy mô tổ chức, lịch sử chấp hành pháp luật và thời gian vi phạm trong vòng 10 hoặc 5 năm Các yếu tố này sẽ giúp dự đoán phạm vi tiền phạt Cuối cùng, Tòa án sẽ chọn mức phạt phù hợp trong khoảng tiền phạt dự kiến, xem xét các yếu tố như mức độ nghiêm trọng của hành vi, sự cần thiết của hình phạt để bảo vệ công chúng, vai trò của tổ chức trong hành vi phạm tội, tổn thất gây ra, và mức độ hợp tác của tổ chức trong quá trình điều tra.
Trong trường hợp công ty hoạt động chủ yếu với mục đích phạm tội, tiền phạt sẽ được xác định ở mức đủ để loại bỏ tổ chức này, thông qua việc tước bỏ toàn bộ tài sản ròng của nó Điều này có nghĩa là mức phạt sẽ cao đến mức khiến pháp nhân phạm tội phải phá sản, theo quy định tại U.S.S.G, Chapter 8, C1.1.
Hướng dẫn cụ thể như sau: “Hướng dẫn này giải quyết các trường hợp trong đó
Tòa án sẽ xem xét bản chất, hoàn cảnh của hành vi phạm tội và đặc điểm của tổ chức để xác định nếu tổ chức đó chủ yếu hoạt động với mục đích phạm tội, như trong trường hợp một mặt trận cho kế hoạch gian lận.
Các tổ chức được thành lập để tham gia vào sản xuất, nhập khẩu hoặc phân phối các chất bị kiểm soát, hoặc hoạt động chủ yếu bằng phương tiện phạm tội, sẽ phải đối mặt với hình phạt nặng nề Cụ thể, mức phạt sẽ đủ để loại bỏ toàn bộ tài sản ròng của tổ chức Nếu không xác định được giá trị tài sản, mức phạt tối đa theo quy định sẽ được áp dụng Tài sản ròng của tổ chức được tính là giá trị thực của doanh nghiệp tại thời điểm xem xét, sau khi đã trừ đi các khoản nợ và lỗ kinh doanh.
Mức tiền phạt tối đa của pháp nhân phạm tội được quy định tại Điều 3571(c) phần 18 Bộ tổng luật Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (18 U.S Code § 3571) Theo đó,
Trừ trường hợp được miễn hình phạt, tổ chức bị kết tội có thể bị phạt không vượt quá các mức sau: (1) Số tiền theo quy định của luật; (2) Hai lần tổng lợi ích thu được từ tội phạm hoặc hai lần tổng thiệt hại gây ra; (3) Tối đa 500,000 USD cho trọng tội; (4) Tối đa 500,000 USD cho khinh tội dẫn đến chết người; (5) Tối đa 200,000 USD cho khinh tội bảng A không dẫn đến chết người; (6) Tối đa 10,000 USD cho khinh tội bảng B hoặc C không dẫn đến chết người; (7) Tối đa 10,000 USD cho tội vi cảnh.
Từ các quy định pháp luật Mỹ về hình phạt tiền áp dụng cho pháp nhân phạm tội, có thể nhận thấy một số ưu điểm nổi bật của hình phạt này, bao gồm khả năng tạo ra động lực cho các tổ chức tuân thủ pháp luật, giảm thiểu nguy cơ tái phạm, và khuyến khích sự minh bạch trong hoạt động kinh doanh.