1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quy chế pháp lý về con dấu của doanh nghiệp theo pháp luật việt nam

65 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy Chế Pháp Lý Về Con Dấu Của Doanh Nghiệp Theo Pháp Luật Việt Nam
Tác giả Phan Thị Thu Hà
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Phương Hà
Trường học Trường Đại Học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,11 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CON DẤU CỦA DOANH NGHIỆP (13)
    • 1.1. Khái niệm và đặc điểm về con dấu của doanh nghiệp (13)
      • 1.1.1. Khái niệm về con dấu của doanh nghiệp (13)
      • 1.1.2. Đặc điểm về con dấu của doanh nghiệp (14)
    • 1.2. Lịch sử hình thành và phát triển các quy định pháp luật về con dấu của (15)
      • 1.2.1. Trước khi có Luật Doanh nghiệp 2005 (16)
      • 1.2.2. Sau khi có Luật Doanh nghiệp 2005 (16)
      • 1.2.3. Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp 2014 (17)
    • 1.3. Vai trò con dấu của doanh nghiệp (17)
    • 1.4. Quy chế pháp lý con dấu của doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp (19)
    • 1.5. Quy chế pháp lý con dấu của doanh nghiệp theo quy định của các văn bản pháp luật có liên quan (25)
  • CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CON DẤU CỦA DOANH NGHIỆP (28)
    • 2.1. Quyền của doanh nghiệp đối với con dấu (28)
      • 2.1.1. Quyền quyết định về số lượng con dấu (28)
      • 2.1.2. Quyền quyết định về hình thức, nội dung con dấu (29)
      • 2.1.3. Quyền quản lý con dấu (30)
      • 2.1.4. Quyền sử dụng con dấu (31)
    • 2.2. Thủ tục xin cấp con dấu của doanh nghiệp (33)
    • 2.3. Những tranh chấp liên quan đến con dấu và hậu quả đối với hoạt động (37)
      • 2.3.1. Hiện tượng làm giả con dấu doanh nghiệp (37)
      • 2.3.2. Tranh chấp về con dấu trong nội bộ doanh nghiệp (42)
    • 2.4. Thẩm quyền xử lý tranh chấp liên quan đến con dấu của doanh nghiệp (44)
  • CHƯƠNG III: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ CON DẤU CỦA DOANH NGHIỆP (47)
    • 3.1. Quy định pháp luật về sử dụng con dấu doanh nghiệp của các quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam (47)
      • 3.1.1. Quy định pháp luật về sử dụng con dấu doanh nghiệp của các quốc (47)
      • 3.1.2. Kinh nghiệm cho Việt Nam (52)
    • 3.2. Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về con dấu của doanh nghiệp (53)
    • 3.3. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc quản lý sử dụng con dấu doanh nghiệp trên thực tế (57)
      • 3.3.1. Đối với cơ quan nhà nước (57)
      • 3.3.2. Đối với doanh nghiệp (57)

Nội dung

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CON DẤU CỦA DOANH NGHIỆP

Khái niệm và đặc điểm về con dấu của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm về con dấu của doanh nghiệp Đã từ lâu, con dấu được ví như “ngọc ấn” và gắn bó trong hầu hết các hoạt động của DN Tuy nhiên, khái niệm con dấu nói chung và con dấu DN nói riêng lại ít được đề cập và định nghĩa trong các văn bản pháp luật, nhưng có thể thấy trong một số tài liệu, văn bản đã định nghĩa về con dấu như:

Con dấu, theo định nghĩa trong cuốn từ điển Tiếng Việt thông dụng của nhà xuất bản Hồng Đức do Phạm Lê Liên chủ biên, là một vật liệu thường được làm bằng đồng hoặc gỗ Trên bề mặt con dấu có khắc chữ, và nó được sử dụng để ấn lên văn bản hoặc giấy tờ nhằm xác nhận một danh nghĩa nào đó.

Tại quy định của Điều 1 NĐ 58/2001/NĐ-CP ngày 24 tháng 08 năm 2001 của trong các Chính phủ về quản lý, sử dụng con dấu cũng đã định nghĩa:

Con dấu được sử dụng bởi các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hội quần chúng, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang và các cơ quan nước ngoài hoạt động tại Việt Nam Nó thể hiện vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp lý cho các văn bản, giấy tờ của những cơ quan, tổ chức và chức danh nhà nước.

Theo từ điển Từ và Ngữ của Nguyễn Lân, con dấu được định nghĩa là vật liệu bằng gỗ hoặc kim loại, có khắc chức vụ, được sử dụng để đóng vào giấy tờ nhằm làm bằng chứng Khi cơ quan thay đổi tên, việc đổi con dấu cũng là điều cần thiết.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 99/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 07 năm 2016 của Chính phủ, có quy định rõ về quản lý và sử dụng con dấu, trong đó đưa ra khái niệm cụ thể liên quan đến vấn đề này.

Con dấu là một công cụ quan trọng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký và quản lý Nó được sử dụng để đóng trên các văn bản và giấy tờ của cơ quan, tổ chức, cũng như các chức danh nhà nước.

8 Phạm Lê Liên (2015), Từ điển Tiếng Việt thông dụng, NXB Hồng Đức, tr.289

9 Nguyễn Lân (2000), Từ và Ngữ, NXB Hồ Chí Minh, tr.397

Con dấu doanh nghiệp là biểu tượng đặc trưng của một doanh nghiệp, có vai trò quan trọng trong việc xác nhận giá trị pháp lý của các văn bản và giấy tờ Nó được sử dụng để đóng trên các tài liệu, giúp khẳng định tính hợp pháp và uy tín của doanh nghiệp trong các giao dịch và hoạt động kinh doanh.

1.1.2 Đặc điểm về con dấu của doanh nghiệp Ở nước ta, con dấu được sử dụng trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, hội quần chúng, tổ chức kinh tế, cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam (dưới đây gọi tắt là cơ quan, tổ chức) và một số chức danh nhà nước 10 Con dấu hiện nay được phân làm nhiều loại và được điều chỉnh trong các văn bản pháp luật khác nhau, cụ thể tại quy định của NĐ 99/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 07 năm 2016 của Chính phủ về quản lý và sử dụng con dấu chỉ điều chỉnh con dấu của cơ quan, tổ chức và các chức danh nhà nước và không điều chỉnh đối với con dấu được đăng ký và hoạt động theo LDN và Luật Đầu tư 11 Con dấu DN được điều chỉnh tại LDN 2014, NĐ 96/2015/NĐ-CP và NĐ số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 09 năm 2015 của Chính phủ về đăng ký DN và có một số đặc điểm phân biệt với con dấu của cơ quan, tổ chức và các chức danh nhà nước cụ thể như sau:

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp có quyền quyết định số lượng con dấu mà mình sử dụng Đối với các cơ quan, tổ chức và chức danh nhà nước, chỉ được phép sử dụng một con dấu theo mẫu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, và việc bổ sung con dấu phải tuân theo quy định của pháp luật.

Con dấu của doanh nghiệp (DN) phải thể hiện tên và mã số DN theo quy định hiện hành, không được sử dụng hình ảnh hay ngôn ngữ như Quốc kỳ, Quốc huy, Đảng kỳ hoặc biểu tượng của cơ quan nhà nước Đối với con dấu của cơ quan, tổ chức nhà nước, nội dung con dấu phải có hình Quốc huy, trong khi các cơ quan, tổ chức khác có thể sử dụng con dấu không có hình Quốc huy nhưng phải có biểu tượng được pháp luật công nhận và quy định trong điều ước quốc tế.

10 Điều 1 NĐ 58/2001/NĐ-CP ngày 24-08-2001 của Chính phủ về quản lý sử dụng con dấu

11 Khoản 1, khoản 2 Điều 1 NĐ 99/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 07 năm 2016 của Chính phủ về quản lý và sử dụng con dấu

13 Khoản 4 Điều 5 NĐ 99/2016/NĐ-CP về Quản lý và sử dụng con dấu

15 Khoản 1 Điều 14 NĐ 96/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của LDN

16 Điều 7 NĐ 99/2016/NĐ-CP về Quản lý và sử dụng con dấu

Trong số 8 biểu tượng, không có hình Quốc huy và cũng không có các hình ảnh tượng trưng đặc trưng của cơ quan tổ chức.

Về hình thức con dấu, doanh nghiệp có quyền tự do lựa chọn kiểu dáng, có thể là hình tròn, hình đa giác hoặc các hình dạng khác, với kích thước và màu mực tùy ý như xanh, tím, hoặc đỏ Trong khi đó, con dấu của cơ quan, tổ chức và một số chức danh nhà nước phải tuân thủ quy định hình tròn và sử dụng mực màu đỏ.

Về quản lý và sử dụng con dấu, Điều 44 LDN 2014 quy định rằng việc này phải tuân theo Điều lệ của công ty đối với con dấu của doanh nghiệp Đối với con dấu của cơ quan, tổ chức và một số chức danh nhà nước, việc quản lý và sử dụng phải được thực hiện chặt chẽ theo quy định của pháp luật, và con dấu chỉ được phép mang ra ngoài trụ sở khi những người có chức danh nhà nước hoặc lãnh đạo cơ quan, tổ chức đó thực hiện nhiệm vụ.

Con dấu doanh nghiệp (DN) có những đặc điểm nổi bật riêng biệt so với con dấu của các cơ quan, tổ chức, và chức danh nhà nước Hình dáng, kích thước, hình ảnh và nội dung của con dấu DN đều mang tính đặc trưng, đồng hành cùng sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp, đồng thời giúp phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác.

Lịch sử hình thành và phát triển các quy định pháp luật về con dấu của

Dựa trên lịch sử phát triển của dân tộc, con dấu luôn mang ý nghĩa đặc biệt, xác định quyền lực và giá trị pháp lý Con dấu doanh nghiệp (DN) không chỉ là hình ảnh đại diện mà còn gắn liền với sự hình thành và phát triển của công ty Trong bối cảnh kinh tế thị trường ngày càng phát triển và số lượng doanh nghiệp gia tăng, con dấu DN trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Các quy định pháp luật về con dấu của DN đã có sự thay đổi và phát triển qua các giai đoạn khác nhau.

17 Điều 8, Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 Điều 3 NĐ NĐ 99/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 07 năm 2016 của Chính phủ về quản lý và sử dụng con dấu

18 Điểm 1, Khoản 1 Điều 12 NĐ 96/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của LDN

19 Khoản 4 Điều 4 NĐ 99/2016/NĐ-CP về Quản lý và sử dụng con dấu

20 Khoản 5 Điều 24 NĐ 99/2016/NĐ-CP về Quản lý và sử dụng con dấu

1.2.1 Trước khi có Luật Doanh nghiệp 2005

Kể từ sau thời kỳ đổi mới, nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quan trọng để quản lý hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, trong đó có Luật Doanh Nghiệp (LDN).

Từ năm 1990, các văn bản pháp luật như Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân đã không đề cập đến con dấu doanh nghiệp Tuy nhiên, sau đó, con dấu đã được ghi nhận trong một số văn bản pháp luật tiếp theo, đặc biệt là trong các Điều 1, Điều 43, và Điều 44 của Luật Doanh nghiệp Nhà nước.

Năm 1995, theo khoản 3 Điều 24 của Luật Doanh Nghiệp số 13/1999/QH10, nhà nước đã ban hành Nghị định 58/2001/NĐ-CP, quy định về việc sử dụng con dấu trong các cơ quan, tổ chức và một số chức danh nhà nước Con dấu không chỉ thể hiện vị trí pháp lý mà còn khẳng định giá trị pháp lý của các văn bản, giấy tờ Tuy nhiên, trước khi có Luật Doanh Nghiệp 2005, vấn đề con dấu doanh nghiệp vẫn chưa được đề cập nhiều và các quy định còn khá hình thức, thiếu cụ thể.

1.2.2 Sau khi có Luật Doanh nghiệp 2005

LDN 2005 ra đời đã dành hẳn một điều luật để quy định về chế định con dấu

DN, được quy định tại Điều 36:

Doanh nghiệp (DN) có con dấu riêng, được lưu giữ và bảo quản tại trụ sở chính của DN Hình thức, nội dung, điều kiện làm và chế độ sử dụng con dấu phải tuân thủ theo quy định của Chính phủ Con dấu được coi là tài sản của DN, và người đại diện theo pháp luật của DN có trách nhiệm quản lý và sử dụng con dấu theo quy định pháp luật Trong trường hợp cần thiết và có sự đồng ý của cơ quan cấp dấu, DN có thể được phép sử dụng con dấu thứ hai.

Các văn bản quy định chi tiết về quản lý và sử dụng con dấu bao gồm NĐ 31/2009/NĐ-CP và NĐ 102/2010/NĐ-CP, hướng dẫn thi hành một số điều của LDN 2005 LDN 2005 đã khẳng định con dấu là tài sản của doanh nghiệp (DN) và nâng cao vai trò của nó trong hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, các quy định này cũng đặt ra nhiều hạn chế cho DN, như yêu cầu khắt khe về số lượng và cách sử dụng, bảo quản con dấu, dẫn đến sự mất tính chủ động và linh hoạt trong hoạt động kinh doanh của DN.

1.2.3 Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp 2014

Nhận thấy được những điểm bất cập trong quy định về con dấu trong LDN

Luật Doanh Nghiệp (LDN) 2014 ra đời nhằm khắc phục những hạn chế của Luật Doanh Nghiệp năm 2005, không còn phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Một trong những điểm cải tiến quan trọng là quy định về con dấu doanh nghiệp, được quy định rõ ràng tại điều 44 của LDN 2014, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động của doanh nghiệp.

“1 DN có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của

DN Nội dung con dấu phải thể hiện những thông tin sau đây: a) Tên DN; b) Mã số DN

2 Trước khi sử dụng, DN có nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký

3 Việc quản lý, sử dụng và lưu giữ con dấu thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty

4 Con dấu được sử dụng trong các trường hợp theo quy định của pháp luật hoặc các bên giao dịch có thỏa thuận về việc sử dụng dấu

5 Chính phủ quy định chi tiết Điều này”

Pháp luật đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp (DN) trở nên chủ động và linh hoạt hơn trong việc quản lý và sử dụng con dấu DN có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của mình Ngoài Luật Doanh nghiệp 2014, còn có các văn bản hướng dẫn chi tiết như Nghị định 96/2015/NĐ-CP quy định về một số điều của Luật Doanh nghiệp 2014, trong đó nêu rõ quy chế con dấu tại Điều 44 Thêm vào đó, Nghị định 78/2015/NĐ-CP cũng quy định chi tiết về thủ tục đăng ký kinh doanh và hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng con dấu.

34 của NĐ này, hay công văn 4211/BKHĐT-ĐKKD hướng dẫn về vấn đề đăng ký kinh doanh của DN, cũng đã đề cập đến chế định con dấu

Quy chế pháp lý về con dấu của doanh nghiệp đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, liên tục được điều chỉnh để phù hợp với sự biến đổi của nền kinh tế quốc gia và toàn cầu Những thay đổi này giúp doanh nghiệp hoạt động kinh doanh một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Vai trò con dấu của doanh nghiệp

Con dấu là một phần quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp, thể hiện giá trị pháp lý qua các văn bản và giấy tờ Sự hiện diện của con dấu không chỉ chứng nhận tính hợp pháp mà còn khẳng định uy tín của doanh nghiệp trong các giao dịch và hoạt động kinh doanh.

11 của LDN 2014 và một số văn bản pháp luật có liên quan khác, con dấu có tầm quan trọng đặc biệt:

Con dấu được coi là tài sản của doanh nghiệp (DN) theo Luật Doanh nghiệp (LDN) 2014, cho phép DN tự quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu Điều này khẳng định rằng con dấu thuộc sở hữu của DN và việc sử dụng, quản lý con dấu nằm dưới sự kiểm soát của DN Ngoài ra, quy định tại khoản 2 Điều 36 LDN 2005 cũng nhấn mạnh rằng con dấu là tài sản của DN, gắn liền với sự hình thành và phát triển của DN.

Con dấu không chỉ là biểu trưng của doanh nghiệp (DN) mà còn là dấu hiệu phân biệt giữa các DN Theo Luật Doanh nghiệp 2014, DN có quyền quyết định hình thức, số lượng và nội dung con dấu, cho thấy mỗi DN đều sở hữu con dấu với hình dáng, kích thước và mẫu mã riêng biệt Nội dung trên con dấu bao gồm tên DN và mã số DN Tên DN phải là duy nhất, không trùng lặp với bất kỳ DN hay tổ chức nào khác Mã số DN, được cấp khi thành lập và ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký, cũng thể hiện sự khác biệt giữa các DN, như quy định tại Điều 30 Luật Doanh nghiệp 2014.

Mỗi doanh nghiệp (DN) đều được cấp một mã số duy nhất, không được phép sử dụng lại cho DN khác, nhằm đảm bảo sự phân biệt rõ ràng giữa các DN Quy định trong Luật Doanh Nghiệp 2005 đã nhấn mạnh vai trò của con dấu trong việc nhận diện DN, với yêu cầu mỗi DN phải có con dấu riêng, coi đó là tài sản của DN Hình thức và nội dung của con dấu được quy định cụ thể bởi Chính phủ, theo Điều 8 Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4.

Theo quy định của Chính phủ vào tháng 4 năm 2010 về đăng ký doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp được cấp một mã số duy nhất gọi là mã số doanh nghiệp, mã số này tồn tại suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp và không được cấp lại cho tổ chức hay cá nhân khác Điều này cho thấy rằng con dấu của mỗi doanh nghiệp có sự khác biệt rõ rệt, là hình ảnh đại diện cho công ty, xuất hiện trong hầu hết các giao dịch và văn bản, đồng thời là dấu hiệu nhận biết và phân biệt các doanh nghiệp với nhau.

Theo Điều lệ của công ty, con dấu có thể thể hiện giá trị pháp lý của các văn bản, giấy tờ và quyết định liên quan đến hiệu lực của giao dịch trong nhiều trường hợp.

Kể từ khi Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực, con dấu đã trở thành một phương tiện xác nhận tính hợp pháp của các tài liệu doanh nghiệp Tuy nhiên, vai trò của con dấu đã thay đổi, không còn được coi trọng về giá trị pháp lý mà chủ yếu dựa vào quy định của pháp luật, thỏa thuận giữa các bên giao dịch hoặc theo Điều lệ của công ty Điều này cho thấy sự tiến bộ trong cách nhìn nhận về vai trò của con dấu trong doanh nghiệp.

Việc xóa bỏ sự phụ thuộc vào con dấu giúp doanh nghiệp (DN) linh hoạt hơn trong các hoạt động liên quan đến văn bản và hợp đồng giao dịch Cải cách này nhằm khắc phục những bất cập trong quy định cũ, nơi con dấu được coi là tài sản của DN và là yếu tố quyết định giá trị pháp lý của các giấy tờ Theo quy định trước đây, các văn bản và hợp đồng không có con dấu sẽ không có giá trị pháp lý, mặc dù có chữ ký của người có thẩm quyền Do đó, việc giảm thiểu vai trò của con dấu sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho DN trong việc thực hiện giao dịch.

Theo tiến trình thay đổi của Luật Doanh Nghiệp (LDN), vai trò của con dấu đã giảm dần tầm quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp Điều này mở rộng quyền tự quyết định của doanh nghiệp về việc sử dụng con dấu, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong các giao dịch kinh doanh.

Quy chế pháp lý con dấu của doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp

Ngày 1/7/2015, LDN 2014 chính thức có hiệu lực, đánh dấu một bước đột phá trong cải cách pháp luật phù hợp với sự phát triển của xã hội Mặc dù chỉ quy định trong một điều luật, nhưng nó phản ánh tư duy tiến bộ của các nhà lập pháp trong việc quy định về con dấu, thể hiện qua từng nội dung cụ thể.

Luật Doanh nghiệp 2014 đã trao quyền cho doanh nghiệp (DN) trong việc quyết định số lượng con dấu mà họ sử dụng, cho phép DN tự lựa chọn việc sử dụng một hoặc nhiều con dấu Trước đây, theo Luật Doanh nghiệp 2005, mỗi DN chỉ được phép có một con dấu chính và một con dấu phụ với sự đồng ý của cơ quan cấp dấu Trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập toàn cầu, việc giữ nguyên quy định cũ sẽ gây khó khăn cho DN trong việc thực hiện các giao dịch hợp đồng, đặc biệt khi người đại diện pháp luật không thể có mặt để ký kết hoặc không thể mang con dấu ra khỏi trụ sở Quy định mới cho phép DN tự quyết định số lượng con dấu sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thực hiện các giao dịch kinh doanh.

21 Điều 36 về “Con dấu của DN”, LDN 2005

22 Điều 1 NĐ 58/2001/NĐ-CP ngày 24-08-2001 của Chính phủ về quản lý và sử dụng con dấu

13 thuận lợi hơn cho DN trong việc giao dịch các hợp đồng, văn bản và giúp DN chủ động hơn trong các hoạt động kinh doanh của mình

Luật Doanh Nghiệp 2014 đã trao quyền cho doanh nghiệp tự quyết định hình thức và nội dung con dấu Doanh nghiệp có thể lựa chọn các dạng như hình tròn, hình đa giác hoặc hình dạng khác, đồng thời thống nhất về hình thức con dấu Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có quyền quyết định kích cỡ, nội dung và màu mực của con dấu Đây là một quy định hoàn toàn mới so với Luật Doanh Nghiệp cũ, khi mà hình thức con dấu trước đây phải tuân theo quy định của Chính phủ.

Bộ Công an đã quy định rõ ràng về mẫu dấu, việc sử dụng biểu tượng và chữ nước ngoài trong con dấu, cũng như việc sử dụng con dấu thứ hai với màu mực chính là màu đỏ Doanh nghiệp (DN) có quyền tự quyết định hình thức con dấu, cho phép lựa chọn chất liệu như cao su, gỗ, nhựa và kích thước đa dạng Màu mực có thể chọn từ đỏ, cam, tím, vàng, lục, lam, chàm, và hình dáng có thể là oval, chữ nhật hoặc tam giác, miễn là không vi phạm quy định tại Điều 14 của NĐ số 96/2015/NĐ-CP Những quy định này đánh dấu một bước tiến mới, giúp DN tự do sáng tạo và tạo ra con dấu mang dấu ấn riêng biệt.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 44 Luật Doanh Nghiệp và khoản 3 Điều 14 Nghị định số 96/2015/NĐ-CP, doanh nghiệp có quyền quyết định nội dung con dấu của mình Con dấu phải bao gồm tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp, và có thể bổ sung thêm các từ ngữ, hình ảnh khác, ngoại trừ những trường hợp bị cấm Doanh nghiệp không được sử dụng hình ảnh, từ ngữ, ký hiệu liên quan đến quốc kỳ, quốc huy, đảng kỳ, tên cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, cũng như các ký hiệu vi phạm truyền thống văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam.

26 Khoản 2 Điều 12 NĐ số 96/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 về quy định chi tiết một số điều của LDN

27 Điểm a, Khoản 1 Điều 12 NĐ số 96/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 về quy định chi tiết một số điều của LDN 2014

Theo Khoản 1 Điều 36 Luật Doanh Nghiệp 2005 và Khoản 4 Điều 1 Nghị định số 31/2009/NĐ-CP ngày 01 tháng 04 năm 2009, có quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2001/NĐ-CP ngày 24 tháng 08 năm 2001 liên quan đến quản lý và sử dụng con dấu Đồng thời, Khoản 5 Điều 6 Nghị định số 58/2001/NĐ-CP cũng nêu rõ các quy định cần thiết trong lĩnh vực này.

Tranh chấp giữa doanh nghiệp (DN) và các cá nhân, tổ chức liên quan về nội dung con dấu được giải quyết tại Tòa án hoặc trọng tài Pháp luật hiện hành không quy định cụ thể về nội dung con dấu, cho phép DN tự do lựa chọn kích thước, kiểu dáng và vị trí chữ trên con dấu, với yêu cầu bắt buộc chỉ là tên DN và mã số DN So với quy định của Luật Doanh nghiệp (LDN) 2005, quy định hiện tại đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho DN trong việc tự quyết định nội dung con dấu mà không bị ràng buộc bởi các quy định pháp luật Tuy nhiên, LDN 2014 lại thiếu quy định về cơ quan có thẩm quyền thẩm tra nội dung mẫu con dấu.

Luật Doanh nghiệp 2014 đã trao quyền cho các doanh nghiệp tự quy định việc quản lý, sử dụng và lưu giữ con dấu của mình, theo Điều lệ công ty hoặc thỏa thuận giữa các bên Điều này giúp khắc phục những hạn chế của Luật Doanh nghiệp 2005, trong đó yêu cầu con dấu phải được lưu trữ tại trụ sở chính và chỉ người đại diện theo pháp luật mới được sử dụng Việc này đã gây khó khăn cho doanh nghiệp trong các giao dịch cần con dấu, đặc biệt khi người đại diện không có mặt hoặc không thể mang con dấu ra ngoài trụ sở chính Quy định mới giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn trong việc sử dụng con dấu, giảm sự phụ thuộc vào nó trong các giao dịch và tài liệu pháp lý.

29 Khoản 2 Điều 14 NĐ số 96/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 về quy định chi tiết một số điều của LDN

Khoản 4 Điều 1 Nghị định số 31/2009/NĐ-CP ngày 01 tháng 04 năm 2009 quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2001/NĐ-CP ngày 24 tháng 08 năm 2001 liên quan đến quản lý và sử dụng con dấu, nhằm cải thiện quy trình và tăng cường hiệu quả trong việc quản lý con dấu trong các cơ quan, tổ chức.

31 Khoản 3 Điều 14 14 NĐ số 96/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 về quy định chi tiết một số điều của LDN

Theo quy định mới của Luật Doanh Nghiệp 2014, doanh nghiệp (DN) được quyền tự quyết định về số lượng, hình thức và nội dung con dấu, cho phép DN tự khắc hoặc thuê đơn vị khắc dấu Điều này đánh dấu sự khác biệt so với Luật Doanh Nghiệp 2005, khi mà DN phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về việc khắc con dấu, như nộp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và các giấy tờ liên quan cho cơ quan công an trong thời gian 7 ngày Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan công an sẽ cấp giấy phép khắc dấu và giới thiệu đến cơ sở khắc dấu theo quy định.

Vào ngày thứ Sáu, thông báo về mẫu dấu của doanh nghiệp (DN) đã được đưa ra Theo quy định mới, trước khi sử dụng, DN phải thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký DN 35 Điều này giúp nhà đầu tư dễ dàng tra cứu thông tin về DN trên toàn quốc Quy định mới này tiến bộ hơn so với quy định cũ, khi DN không còn phải đăng ký mẫu tại cơ quan công an sau khi khắc dấu, giảm bớt thủ tục phức tạp và thời gian cho DN trong quá trình gia nhập thị trường.

Theo khoản 2 Điều 1 NĐ 31/2009/NĐ-CP, sau khi khắc dấu, doanh nghiệp (DN) cần đăng ký tại cơ quan công an và chờ cấp giấy chứng nhận mẫu dấu trước khi sử dụng Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày càng cạnh tranh, việc đơn giản hóa thủ tục và giảm bớt gánh nặng công việc cho các cơ quan nhà nước là rất cần thiết để hỗ trợ DN hoạt động hiệu quả hơn.

Vào thứ bảy, doanh nghiệp có thể thực hiện việc thay đổi hoặc hủy mẫu con dấu của mình Theo khoản 2 Điều 34 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP về Đăng ký doanh nghiệp, quy định rõ ràng về quy trình này.

Trước khi thực hiện các thay đổi liên quan đến mẫu con dấu, số lượng con dấu của doanh nghiệp, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện, doanh nghiệp cần gửi thông báo đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi đặt trụ sở Thông báo này sẽ được đăng tải trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

34 Khoản 4 Điều 10 NĐ số 58/2001/NĐ-CP ngày 24 tháng 08 năm 2001 của Chính phủ về quản lý và sử dụng con dấu

Theo quy định trước đây tại khoản 1 Điều 16 NĐ 58/2001/NĐ-CP và khoản 7 Điều 1 NĐ 31/2009/NĐ-CP, Công an là đơn vị quản lý con dấu Tuy nhiên, sau khi LDN 2014 có hiệu lực, Phòng Đăng ký kinh doanh đã trở thành cơ quan chịu trách nhiệm quản lý việc thay đổi và hủy mẫu con dấu Điều này giúp giảm bớt thủ tục cho các doanh nghiệp, khi không còn phải thông báo lên cơ quan công an để xử lý việc thay đổi mẫu dấu.

Quy chế pháp lý con dấu của doanh nghiệp theo quy định của các văn bản pháp luật có liên quan

Bên cạnh những quy định về con dấu trong LDN 2005 và LDN 2014 và các

Chế định con dấu được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật như Luật Kế toán, Luật Tố tụng Dân sự, Luật Thi hành án dân sự, và các luật khác Mặc dù Luật Doanh nghiệp 2014 đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong việc sử dụng con dấu, nhưng nhiều văn bản vẫn yêu cầu sử dụng con dấu, cho thấy sự chưa đồng nhất trong hệ thống pháp luật và cải cách pháp luật chưa triệt để Cụ thể, Luật Kế toán 2003 quy định rằng chứng từ kế toán gửi ra ngoài phải có dấu của đơn vị kế toán, và cơ quan có thẩm quyền phải lập biên bản khi niêm phong chứng từ, ghi rõ lý do và số lượng từng loại chứng từ được niêm phong.

39 Luật Kế toán số 03/2003/QH11 ngày 17 tháng 06 năm 2003 và Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2015

40 Luật TTDS số 95/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015

Luật Thi hành án dân sự (THADS) số 26/2008/QH12, ban hành ngày 14 tháng 11 năm 2008, đã được sửa đổi và bổ sung bởi Luật số 64/2014/QH13 vào ngày 25 tháng 11 năm 2014, nhằm điều chỉnh một số điều trong Luật THADS năm 2008.

42 Luật SHTT số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật SHTT số 39/2009/QH12 ngày 19 tháng 06 năm 2009

43 Luật các công cụ chuyển nhượng số 49/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005

44 Luật Quảng cáo số 16/2012/QH13 ngày 21 tháng 06 năm 2012

45 Luật TTHC số 64/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 và Luật TTHC số 93/2015/QH13 ngày 25 tháng

46 Khoản 4 Điều 19 về “Lập chứng từ kế toán”, Luật Kế Toán 2003

47 Khoản 4 Điều 22 về “Quản lý sử dụng chứng từ kế toán”, Luật kế toán 2003

Theo quy định của Luật Kế Toán năm 2015, sổ kế toán phải được đóng dấu giáp lai, mặc dù quy định về việc đóng dấu trên chứng từ kế toán gửi ra bên ngoài đã được bãi bỏ Cơ quan có thẩm quyền cũng phải đóng dấu vào chứng từ niêm phong Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 yêu cầu đóng dấu trong các trường hợp như xem xét thẩm định tại chỗ và tại cuối đơn khởi kiện, đơn kháng cáo Luật Thi hành án dân sự quy định rằng đơn yêu cầu từ pháp nhân phải có chữ ký và dấu của người đại diện Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, văn bản ủy quyền cũng cần phải có dấu Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005 yêu cầu chữ ký của đại diện tổ chức phải kèm theo dấu Luật Quảng cáo năm 2012 quy định rằng bản thiết kế cần có chữ ký và dấu của chủ đầu tư Luật Tố tụng hành chính năm 2010 cũng yêu cầu đóng dấu trong các văn bản như đơn khởi kiện Trong lĩnh vực thuế, văn bản giao dịch với cơ quan thuế phải được ký và đóng dấu đúng thẩm quyền, và biên bản thanh tra thuế cũng yêu cầu chữ ký và dấu Cuối cùng, theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, mẫu Tờ khai đăng ký thuế phải có chữ ký và dấu của người khai thuế.

48 Khoản 2 Điều 25 về “Sổ kế toán và hệ thống sổ kế toán”, Luật kế toán 2003

49 Khoản 2 Điều 24 về “Sổ kế toán”, Luật Kế Toán 2015

50 Khoản 4 Điều 21 vê “Quản lý sử dụng chứng từ kế toán”, Luật kế toán 2015

51 Khoản 2 Điều 101 Bộ Luật TTDS 2015

52 Khoản 3 Điều 189, khoản 4 Điều 272 Bộ Luật TTDS 2015

53 Điểm đ, Khoản 2 Điều 107 về “Uỷ quyền đại diện trong các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp”, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005

54 Khoản 18 Điều 4 Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005

55 Điểm đ, Khoản 2, Điều 31 về “Cấp giấy phép xây dựng công trình quảng cáo”, Luật Quảng Cáo năm 2012

56 Điều 105 Điều 82, Luật Tố tụng hành chính năm 2010

Theo Khoản 2 Điều 5 của Thông tư 156/2013/TT-BTC ban hành ngày 06 tháng 11 năm 2003, hướng dẫn thực hiện một số quy định của Luật Quản lý Thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế, cùng với Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ, các quy định này nhằm đảm bảo việc quản lý thuế hiệu quả và minh bạch.

Theo Điểm g, Khoản 4 Điều 66 của Thông tư 156/2013/TT-BTC ban hành ngày 06 tháng 11 năm 2003, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý Thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế, cùng với Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ, quy định rõ ràng về các quy trình và thủ tục liên quan đến quản lý thuế.

Việc quản lý và sử dụng con dấu trong doanh nghiệp phải tuân thủ quy định chặt chẽ, trong đó nhân viên văn thư có trách nhiệm giữ và đóng dấu Nhân viên văn thư không được phép giao con dấu cho người khác nếu chưa có sự cho phép bằng văn bản từ người có thẩm quyền Ngoài ra, chỉ được đóng dấu vào các văn bản, giấy tờ sau khi đã có chữ ký của người có thẩm quyền và không được đóng dấu khống.

Bài viết này đề cập đến các quy định về chế độ con dấu của doanh nghiệp (DN), nhấn mạnh rằng còn nhiều văn bản khác liên quan đến việc sử dụng con dấu mà chưa được liệt kê Luật Doanh nghiệp (LDN) đã trao quyền tự quyết cho DN về số lượng và quản lý con dấu, theo quy định của pháp luật hoặc thỏa thuận giữa các bên Mặc dù LDN 2014 đã giảm bớt sự phụ thuộc vào con dấu, nhiều văn bản và hợp đồng vẫn yêu cầu sử dụng con dấu, cho thấy sự cải cách về chế độ con dấu của pháp luật vẫn chưa triệt để.

Tác giả đã làm rõ khái niệm con dấu doanh nghiệp (DN) và phân biệt nó với con dấu của các cơ quan, tổ chức và chức danh nhà nước, đồng thời khám phá lịch sử hình thành và phát triển quy định pháp luật về con dấu Bài viết phân tích vai trò của con dấu trong hoạt động của DN và so sánh các quy định trong Luật Doanh nghiệp (LDN) 2014 với LDN 2005 để chỉ ra sự tiến bộ trong tư duy lập pháp Ngoài ra, tác giả cũng xem xét quy định về con dấu trong các văn bản pháp luật khác, nhận thấy rằng cải cách pháp luật về con dấu vẫn chưa triệt để và cần có lộ trình thay đổi để "giải phóng" con dấu khỏi những ràng buộc hiện tại.

Điểm c, khoản 4, Điều 25 NĐ 08/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết về thủ tục hải quan, bao gồm kiểm tra, giám sát và kiểm soát hải quan, nhằm thực hiện hiệu quả Luật Hải Quan.

60 Khoản 2, Điều 25 NĐ 110/2004/NĐ-CP của Chính phủ về công tác văn thư

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CON DẤU CỦA DOANH NGHIỆP

Quyền của doanh nghiệp đối với con dấu

Luật Doanh Nghiệp 2014 đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc trao quyền tự quyết về con dấu cho doanh nghiệp, được xem như một cuộc cách mạng đột phá Quy định này giúp khắc phục những rào cản pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong việc gia nhập thị trường.

Luật Doanh Nghiệp (LDN) 2014 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc giảm thiểu sự phụ thuộc vào con dấu, giúp chúng ta tiếp cận gần hơn với xu hướng hiện đại của các quốc gia phát triển Mặc dù có nhiều cải cách tích cực, nhưng quy định về con dấu trong LDN 2014 vẫn tồn tại nhiều vấn đề và bất cập khi áp dụng thực tiễn, dẫn đến những khó khăn và lúng túng trong quá trình thực hiện.

2.1.1 Quyền quyết định về số lượng con dấu

Luật Doanh Nghiệp (LDN) hiện hành đã trao quyền cho doanh nghiệp (DN) quyết định về số lượng, hình thức và nội dung con dấu, theo khoản 1 Điều 44 LDN 2014 Quy định này dẫn đến sự hiểu nhầm về việc DN có thể có một, nhiều hoặc thậm chí không có con dấu nào Từ ngữ trong tiếng Việt rất phong phú và đa nghĩa, gây ra một số vướng mắc trong thực tiễn Một DN không có nhu cầu sử dụng con dấu có thể không cần có, trong khi DN khác với nhiều chi nhánh có thể cần nhiều con dấu Do đó, việc hiểu rằng “có thể không có con dấu” là hợp lý hay không cần được xem xét kỹ lưỡng.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 98 Luật Doanh Nghiệp 2014, Chủ tịch công ty có quyền sử dụng bộ máy quản lý, điều hành và bộ phận giúp việc (nếu có) cùng với con dấu của công ty để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Cụm từ "nếu có" làm rõ rằng bộ phận giúp việc không phải là điều kiện bắt buộc, trong khi con dấu vẫn là yêu cầu cần thiết Điều này được khẳng định thêm bởi điểm c khoản 1 Điều 204 Luật Doanh Nghiệp 2014, khi hồ sơ giải thể doanh nghiệp vẫn phải có sự hiện diện của con dấu Ngoài ra, các văn bản pháp luật và chuyên ngành khác cũng yêu cầu doanh nghiệp phải đóng dấu trong nhiều trường hợp.

Mặc dù có quy định "có thể không có con dấu", nhưng đối với các giao dịch mà pháp luật yêu cầu phải có dấu, doanh nghiệp sẽ không được tham gia nếu không sử dụng con dấu Điều này cho thấy rằng con dấu vẫn là một yếu tố bắt buộc trong các hoạt động giao dịch.

Cách hiểu về doanh nghiệp (DN) không cần con dấu theo Luật Doanh nghiệp (LDN) 2014 là chưa phù hợp với tinh thần của pháp luật So với quy định trước đây, LDN 2005 đã quy định mỗi DN chỉ được sử dụng một con dấu, và chỉ khi có sự đồng ý của cơ quan cấp dấu mới có thể có con dấu thứ hai Quy định này rất rõ ràng, xác định số lượng con dấu, giúp việc áp dụng trong thực tiễn trở nên dễ dàng hơn Do đó, cần điều chỉnh từ ngữ trong LDN 2014 để tránh những tranh cãi không cần thiết.

2.1.2 Quyền quyết định về hình thức, nội dung con dấu

Kể từ khi Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực, doanh nghiệp (DN) được tự do quyết định hình thức và nội dung con dấu, bao gồm hình dạng, kích thước và màu mực, miễn là con dấu thể hiện tên và mã số DN, đồng thời không vi phạm các quy định tại Điều 14 Nghị định 96/2015/NĐ-CP Tuy nhiên, vẫn tồn tại băn khoăn về việc xác định từ ngữ, ký hiệu và hình ảnh nào vi phạm truyền thống văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam, khi cơ quan đăng ký kinh doanh không chịu trách nhiệm thẩm tra nội dung con dấu Điều này dẫn đến khó khăn trong việc xác định trách nhiệm và chế tài đối với các trường hợp con dấu vi phạm, tạo ra sự không rõ ràng trong quy định và thực tiễn áp dụng Mặc dù việc cải cách pháp luật cho phép DN tự do sáng tạo hình ảnh con dấu, nhưng thiếu định nghĩa rõ ràng và cơ quan thẩm tra khiến việc xác định hành vi vi phạm trở nên khó khăn.

Quy định trong LDN 2005 đã thống nhất mẫu dấu với việc sử dụng màu mực đỏ 62, tạo sự chặt chẽ và cố định trong việc áp dụng Điều này giúp đảm bảo tính chính xác và cụ thể trong thực thi pháp luật, đồng thời giảm thiểu tình trạng hiểu sai và lúng túng trong việc áp dụng như hiện nay.

61 Khoản 3, Điều 14, NĐ 96/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ Quy định chi tiết một số Điều của LDN

62 Khoản 5, Điều 5 NĐ số 58/2001/NĐ-CP ngày 24-08-2001 của Chính phủ về quản lý sử dụng con dấu

2.1.3 Quyền quản lý con dấu

Pháp luật không quy định cụ thể về quản lý con dấu, do đó, mỗi doanh nghiệp (DN) tự soạn thảo Điều lệ để quyết định các vấn đề liên quan Điều lệ không chỉ quy định về quản lý mà còn về lưu giữ con dấu, tuy nhiên, việc lưu giữ này phải tuân theo quy định của Điều lệ công ty Theo Nghị định số 96/2015/NĐ-CP, chỉ đề cập đến quản lý và sử dụng con dấu, dẫn đến những khó khăn nếu Điều lệ không rõ ràng Vấn đề lưu giữ con dấu và trách nhiệm của người quản lý sẽ không được xác định rõ ràng Chế định quản lý con dấu tại Điều 15 Nghị định này đã gây khó khăn cho các DN thành lập trước ngày 01 tháng 07 năm 2015.

Tại khoản 2 Điều 15 NĐ số 96/2015/NĐ-CP thì:

Doanh nghiệp thành lập trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 cần làm con dấu mới theo quy định tại Nghị định này phải nộp lại con dấu cũ và Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu cho cơ quan công an nơi đã cấp Giấy chứng nhận Cơ quan công an sẽ cấp giấy biên nhận cho doanh nghiệp khi tiếp nhận lại con dấu.

Quy trình làm con dấu mới theo NĐ 96/2015/NĐ-CP khá phức tạp, yêu cầu doanh nghiệp phải thực hiện nhiều bước Đầu tiên, doanh nghiệp cần nộp con dấu cũ và Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu cho cơ quan công an Sau đó, cơ quan công an sẽ cấp giấy biên nhận trước khi doanh nghiệp tự khắc dấu và thông báo mẫu dấu cho cơ quan đăng ký kinh doanh để công khai trên Cổng thông tin quốc gia Tuy nhiên, việc nới lỏng quy định về con dấu giúp doanh nghiệp gia nhập thị trường nhanh chóng hơn, đồng thời giảm bớt thủ tục với cơ quan công an, từ đó giảm tải công việc và rút ngắn thời gian cấp con dấu mới.

Tại khoản 3 Điều 15 NĐ này cũng đã đề cập chế định quản lý con dấu như:

Doanh nghiệp thành lập trước ngày 01 tháng 7 năm 2015, nếu bị mất con dấu hoặc Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu, có quyền làm con dấu mới theo quy định tại Nghị định này Đồng thời, doanh nghiệp cần thông báo việc mất con dấu và Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu cho cơ quan công an nơi đã cấp Giấy chứng nhận.

Khi mất con dấu và giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu, doanh nghiệp cần thông báo cho cơ quan công an và thực hiện thủ tục đăng ký mẫu dấu mới theo quy định của Luật Doanh Nghiệp Thủ tục cấp dấu cho doanh nghiệp hiện nay đã trở nên phức tạp hơn và sẽ tốn nhiều thời gian hơn do phải thực hiện đồng thời các thủ tục hành chính tại cơ quan công an và cơ quan đăng ký kinh doanh.

Thủ tục làm lại con dấu cho doanh nghiệp hiện nay có thể mất nhiều thời gian hơn so với quy định trước đây Theo Nghị định 58/2001/NĐ-CP và Nghị định 31/2009/NĐ-CP, khi mất con dấu, tổ chức chỉ cần báo cho cơ quan công an và thông báo huỷ bỏ con dấu bị mất Sau đó, họ chỉ cần gửi văn bản yêu cầu khắc lại con dấu mới mà không cần thêm bất kỳ tài liệu nào khác Như vậy, các tổ chức kinh tế chỉ cần làm việc với cơ quan công an duy nhất Do đó, cần đơn giản hóa thủ tục làm lại con dấu cho doanh nghiệp thành lập trước ngày 01 tháng 07 năm 2015 để tiết kiệm thời gian và công sức.

Cơ quan công an cần xây dựng phương án hiệu quả và nhanh chóng để hỗ trợ doanh nghiệp, giúp họ tránh những rắc rối liên quan đến thủ tục cấp con dấu.

Thủ tục xin cấp con dấu của doanh nghiệp

Trước đây, để sử dụng con dấu doanh nghiệp (DN), cần phải đăng ký tại cơ quan công an và nhận giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu Theo Nghị định số 58/2001/NĐ-CP, cơ quan có thẩm quyền cấp con dấu được quy định tại Điều 8 Chương III và hướng dẫn cụ thể tại Điều 12 Thông tư.

66 Khoản 2, Điều 26 NĐ số 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 04 năm 2004 của Chính phủ về công tác văn thư

67 Điều 1 NĐ số 58/2001/NĐ-CP về quản lý và sử dụng con dấu

68 Khoản 2 Điều 1 của NĐ số 31/2009/NĐ-CP ngày 01/4/2009 sửa đổi Khoản 1, khoản 2 Điều 6 NĐ số 58/2001/NĐ-CP

Thông tư 07/2010/TT-BCA quy định chi tiết một số điều của Nghị định 58/2001/NĐ-CP, đã được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 31/2009/NĐ-CP, xác định thẩm quyền cấp con dấu.

1 Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội có trách nhiệm giải quyết thủ tục làm con dấu, đăng ký lưu chiểu và cấp Giấy chứng nhận đã đăng ký mẫu dấu cho các cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước sau đây: a Quốc hội, Chính phủ, chức danh nhà nước, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan, tổ chức trực thuộc; b Cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức tôn giáo, tổ chức phi chính phủ, hội quần chúng, hội nghề nghiệp và các đơn vị trực thuộc; c Cơ quan đại diện ngoại giao của nước ngoài; cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam do cơ quan Trung ương của Việt Nam cấp phép thành lập, hoạt động; d Cơ quan, tổ chức của Việt Nam hoạt động ở nước ngoài thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức ở Trung ương; đ Tổ chức kinh tế do cơ quan Trung ương thành lập, cấp phép hoạt động; e Các cơ quan, tổ chức nước ngoài mang con dấu vào Việt Nam sử dụng

2 Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm giải quyết thủ tục làm con dấu, đăng ký mẫu dấu và cấp Giấy chứng nhận đã đăng ký mẫu dấu các trường hợp sau: a Cơ quan chuyên môn, tổ chức sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị

Các tổ chức xã hội, tôn giáo, phi chính phủ, hội quần chúng và hội nghề nghiệp tại địa phương, cùng với các cơ quan, tổ chức theo hệ thống ngành dọc hoạt động tại địa phương, đều cần tuân thủ quy định của Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Ngoài ra, các tổ chức nước ngoài và tổ chức kinh tế được địa phương cấp phép cũng phải đáp ứng các yêu cầu tương tự Thủ tục cấp con dấu cho các doanh nghiệp khá phức tạp, yêu cầu chuẩn bị nhiều loại giấy tờ như Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép đầu tư, và giấy phép đặt chi nhánh Đặc biệt, đối với doanh nghiệp nhà nước và tổ chức chính trị, cần có thêm các giấy tờ liên quan theo quy định.

Các cơ quan, tổ chức hoặc chức danh nhà nước khi muốn khắc lại con dấu bị mất, mòn hoặc hỏng cần nộp văn bản nêu rõ lý do và đề nghị cơ quan công an khắc dấu mới mà không cần thêm tài liệu khác Trong vòng 7 ngày kể từ khi nhận hồ sơ, cơ quan công an sẽ cấp giấy phép khắc dấu và giới thiệu đến cơ sở khắc dấu theo quy định.

Hiện nay, thủ tục cấp con dấu DN có nhiều thay đổi theo hướng giản đơn hơn

Doanh nghiệp không cần đăng ký tại cơ quan công an nữa; tuy nhiên, trước khi hoạt động, doanh nghiệp phải gửi thông báo đến phòng đăng ký kinh doanh nơi đặt trụ sở Điều này nhằm tải thông báo mẫu dấu lên cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, theo quy định cụ thể.

Theo Điều 44 Luật Doanh nghiệp (LDN) và khoản 2 Điều 34 Nghị định 78/2015/NĐ-CP, thủ tục cho các doanh nghiệp được thành lập theo Luật Đầu tư trước đây khá phức tạp.

Theo Điều 44 khoản 1 của Luật Doanh nghiệp (LDN) 2014, con dấu của doanh nghiệp (DN) phải thể hiện tên DN và mã số DN Trước đây, khi giấy chứng nhận đầu tư cũng là giấy chứng nhận đăng ký DN, con dấu được khắc theo giấy chứng nhận đầu tư Tuy nhiên, từ khi Luật Đầu tư 2014 có hiệu lực, giấy chứng nhận đầu tư không còn được coi là giấy chứng nhận đăng ký DN Theo Điều 4 của LDN 2014, giấy chứng nhận đăng ký DN là văn bản hoặc bản điện tử do cơ quan đăng ký kinh doanh cấp, ghi lại thông tin về việc đăng ký DN Cụ thể, theo Điều 29 của LDN 2014, nội dung giấy chứng nhận đăng ký DN bao gồm: tên DN, mã số DN, địa chỉ trụ sở chính, thông tin người đại diện theo pháp luật và vốn điều lệ.

2014 về giấy chứng nhận đầu tư, cụ thể quy định tại Điều 3 và Điều 39 Luật Đầu tư

Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, theo quy định của Luật Đầu tư 2014, là tài liệu quan trọng ghi nhận thông tin về dự án đầu tư của nhà đầu tư Nội dung giấy chứng nhận này bao gồm mã số dự án, tên và địa chỉ nhà đầu tư, tên dự án, địa điểm thực hiện, diện tích đất sử dụng, mục tiêu và quy mô dự án, vốn đầu tư, thời gian hoạt động, tiến độ thực hiện, cũng như các ưu đãi và điều kiện liên quan Cần lưu ý rằng nội dung của giấy chứng nhận đầu tư và giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là khác nhau, dẫn đến mã số doanh nghiệp và mã số đầu tư cũng không giống nhau Tuy nhiên, Luật Đầu tư 2014 không yêu cầu doanh nghiệp phải tách biệt nội dung đăng ký kinh doanh khỏi giấy chứng nhận đầu tư khi thực hiện thông báo mẫu dấu.

69 Khoản 1, khoản 3 Điều 50 Luật đầu tư năm 2005 và khoản 2 Điều 5 NĐ 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng

09 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư

Các doanh nghiệp (DN) không có nhu cầu sử dụng con dấu mới vẫn có thể tiếp tục sử dụng con dấu đã được cấp Nếu có sự thay đổi về số lượng con dấu hoặc cần làm lại con dấu đã mất, DN có thể thực hiện thông báo mẫu dấu Đối với các DN được thành lập theo Luật Đầu tư trước đây, việc khắc con dấu mới theo Luật Doanh nghiệp 2014 yêu cầu phải thực hiện qua nhiều bước.

Để khắc con dấu với mã số và tên doanh nghiệp, doanh nghiệp cần tách nội dung đăng ký kinh doanh khỏi giấy chứng nhận đầu tư và được cơ quan đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Theo quy định tại Điều 61 và Điều 63 NĐ số 118/2015/NĐ-CP, các nội dung đăng ký kinh doanh trong giấy phép đầu tư và giấy chứng nhận đầu tư sẽ được chuyển sang giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Doanh nghiệp đang hoạt động theo giấy phép đầu tư cần nộp hồ sơ đổi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và bản sao giấy phép đầu tư cho cơ quan đăng ký kinh doanh Sau khi xem xét, cơ quan này sẽ cấp đổi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đồng thời nội dung đăng ký kinh doanh tại giấy phép đầu tư sẽ hết hiệu lực, nhưng nội dung dự án đầu tư vẫn tiếp tục có hiệu lực Nếu doanh nghiệp muốn thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh, cần thực hiện theo trình tự và thủ tục quy định tại cơ quan đăng ký kinh doanh, sau đó cơ quan này sẽ ghi nhận nội dung điều chỉnh và nội dung không điều chỉnh, dẫn đến việc nội dung đăng ký kinh doanh tại giấy phép đầu tư cũng sẽ hết hiệu lực.

Sau khi doanh nghiệp (DN) được cấp lại giấy chứng nhận đăng ký theo nội dung tách ra từ giấy chứng nhận đầu tư, DN cần tiến hành trả con dấu cũ cho cơ quan công an theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định 96/2015/NĐ-CP Đối với các DN thành lập trước ngày 01 tháng 07 năm 2015, việc nộp lại con dấu và giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu phải được thực hiện tại cơ quan công an nơi cấp giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu.

Bước thứ ba, doanh nghiệp cần khắc con dấu theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 và Điều 34 Nghị định 78/2015/NĐ-CP Trước khi sử dụng con dấu, doanh nghiệp phải gửi thông báo đến cơ quan có thẩm quyền.

70 Khoản 6 Điều 61 NĐ 118/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn một số Điều của Luật Đầu tư

71 Khoản 1 Điều 63 NĐ 118/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn một số Điều của Luật Đầu tư

Những tranh chấp liên quan đến con dấu và hậu quả đối với hoạt động

2.3.1 Hiện tượng làm giả con dấu doanh nghiệp

Trước LDN 2014, các doanh nghiệp rất coi trọng con dấu, xem đây là yếu tố cần thiết để đảm bảo tính hợp pháp của văn bản Sự phụ thuộc vào con dấu đã dẫn đến tình trạng lạm dụng và lừa đảo, điển hình là vụ án Huyền Như, gây chấn động dư luận.

Vụ án Huỳnh Thị Huyền Như và đồng phạm là một ví dụ điển hình về những hậu quả nghiêm trọng từ việc làm giả con dấu Bản án hình sự sơ thẩm đã chỉ ra rõ ràng những hệ lụy lớn lao mà hành vi này gây ra.

Vụ án liên quan đến Huỳnh Thị Huyền Như, nhân viên Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, chi nhánh TP Hồ Chí Minh, đã diễn ra từ ngày 06 tháng 01 năm 2014 đến ngày 27 tháng 01 năm 2014 và được ghi nhận trong Bản án hình sự phúc thẩm số 02/2015/HSPT 73 Sau khi gặp khó khăn trong kinh doanh bất động sản và lâm vào nợ nần lên tới 200 tỷ đồng vào năm 2008, Như đã vay mượn tiền với lãi suất cao từ nhiều người Để trả nợ, Như đã lợi dụng danh nghĩa của Vietinbank chi nhánh Hồ Chí Minh và Nhà Bè, thực hiện các thủ đoạn gian lận như giả mạo con dấu và chữ ký của lãnh đạo ngân hàng, cũng như các công ty khác để chiếm đoạt tài sản Tổng số tiền mà Như chiếm đoạt lên tới 3.986.254.481.860 đồng, dẫn đến việc Tòa án sơ thẩm tuyên án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

“Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức” với hình phạt tù Chung thân về tội

Bị cáo Huỳnh Thị Huyền Như bị tuyên án 6 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức" Cô phải bồi thường cho các đơn vị, cá nhân bị hại và tịch thu, tiêu hủy 8 con dấu giả Sau đó, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có kháng nghị và bị cáo cũng đã kháng cáo.

72 Bản án Hình sự sơ thẩm số 46/2014/HSST ngày 27 tháng 01 năm 2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

73 Bản án Hình sự phúc thẩm số 02/2015/HSPT ngày 07 tháng 01 năm 2015 của Tòa án nhân dân tối cao Tòa phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh

Tại phiên tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP Hồ Chí Minh, 32 bị cáo, nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã tham gia xét xử Huỳnh Thị Huyền Như không kháng cáo hình phạt của mình mà chỉ xin trả lại biệt thự ở Quảng Nam cho mẹ Tòa án quyết định giữ nguyên hình phạt tù chung thân đối với Như về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 6 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, đồng thời buộc Như phải bồi thường cho các cá nhân và tịch thu, tiêu hủy 8 con dấu tròn giả.

Luật Doanh nghiệp 2005 đã quy định chặt chẽ về quản lý con dấu, yêu cầu con dấu phải được lưu giữ tại trụ sở chính và người đại diện theo pháp luật có trách nhiệm quản lý Theo Nghị định số 58/2001/NĐ-CP, chỉ người đứng đầu cơ quan, tổ chức mới được sử dụng con dấu và phải quản lý chặt chẽ, chỉ mang ra ngoài trong trường hợp cần thiết Tuy nhiên, tâm lý coi trọng vai trò của con dấu đã dẫn đến việc làm giả con dấu để trục lợi Vụ án Huyền Như, với việc làm giả 8 con dấu và chữ ký, đã chiếm đoạt 4.000 tỷ đồng, cho thấy hành vi này gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản của Nhà nước và công dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh tế và đời sống của người dân.

Luật Doanh Nghiệp 2014 đã mang đến sự tự do cho con dấu doanh nghiệp, không còn bị ràng buộc bởi những quy chuẩn cứng nhắc như trước Tuy nhiên, sự tự do này cũng dẫn đến những thách thức trong việc quản lý con dấu, khiến cho hiệu quả quản lý không được như mong đợi.

Theo quy định tại điều 33, các công ty có quyền quyết định số lượng, hình thức và nội dung con dấu, đồng thời mẫu dấu được công khai trên Cổng thông tin điện tử quốc gia về đăng ký DN Điều này cho phép mọi người dễ dàng truy cập và xem mẫu dấu của các doanh nghiệp chỉ bằng cách nhập tên DN hoặc mã số thuế Việc này tạo điều kiện cho hành vi làm giả con dấu trở nên đơn giản hơn, nhất là khi có nhiều phương tiện hiện đại hỗ trợ Gần đây, đã xảy ra một số vụ việc liên quan đến tình trạng làm giả con dấu, cho thấy sự cần thiết phải tăng cường quản lý và bảo mật thông tin.

Cụ thể, một vụ việc làm giả con dấu DN do báo Người lao động đưa tin:

Vào ngày 23 tháng 8 năm 2016, Thượng tá Nguyễn Hồng Kỳ, Phó trưởng Công an TP Nha Trang, Khánh Hòa, đã tiếp nhận và xác minh đơn tố cáo của bà Nguyễn Thị Hương, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Tường Nghiêm 2, về Siêu thị điện máy - nội thất Chợ Lớn tại Nha Trang.

10) làm giả chứng từ, con dấu của công ty, theo đơn tố cáo đó, ông Nguyễn Quốc Cường, quản lý siêu thị điện máy nội thất Chợ Lớn đã làm giả chứng từ, con dấu của công ty để làm các bảng báo giá với giá thành cao hơn giá Công ty Tường Nghiêm 2 đưa ra khoảng10% Cụ thể, ngày 29-3-2016, Siêu thị điện máy - nội thất Chợ Lớn Nha Trang đã lập bảng báo giá 6 bộ tivi, khung treo trên 80 triệu đồng cho Trường Mầm non Hoa Hướng Dương có dấu đỏ của Công ty Tường Nghiêm 2 Tuy nhiên, con dấu này hoàn toàn khác với con dấu mà công ty đang sử dụng 74 Ngay sau khi sự việc này bị phát giác, Công ty TNHH Cao Phong (chủ hệ thống Siêu thị Điện máy - Nội thất Chợ Lớn tại TP HCM) đã có quyết định buộc thôi việc ông Nguyễn Quốc Cường với lý do có hành vi giả mạo thông tin báo giá, dấu mốc vuông của đối thủ cạnh tranh Ông Nguyễn Quốc Cường - quản lý siêu thị Chợ Lớn tại Nha Trang cho rằng ông có tiếp khách vào cuối tháng 6 để bán 1 lô hàng cho Công ty Khi kết thúc bán hàng, khách đồng ý mua hàng và đề nghị xin thêm bảng báo giá của Công ty khác Nhằm tiết kiệm thời gian và giữ chân khách hàng ông Cường đã sử dụng phần mềm thiết kế Ilustrator để lập báo giá giả, xuất ra file PDF và gửi mail cho khách hàng Ông Cường cũng thừa nhận ông lập bản báo giá có hình con dấu đỏ của Tường Nghiêm 2 75

Bài viết từ nguồn tin nld.com.vn ngày 15 tháng 06 năm 2017 thông báo rằng 74 siêu thị điện máy đã bị tố cáo về hành vi làm giả con dấu Vụ việc này đang thu hút sự chú ý của cơ quan chức năng và dư luận, gây lo ngại về tính minh bạch và uy tín của các siêu thị điện máy này.

Khánh Hòa đã xảy ra vụ việc liên quan đến việc làm giả con dấu và chứng từ, dẫn đến việc quản lý siêu thị điện máy Chợ Lớn tại Nha Trang bị cho thôi việc Vụ việc này đã thu hút sự chú ý của dư luận và được báo chí đưa tin Thông tin chi tiết có thể được tìm thấy trong bài viết của Phi Thành trên Lao Động, truy cập ngày 15 tháng 06 năm 2017.

Vào ngày 15 tháng 06 năm 2016, báo Pháp luật Việt Nam đưa tin về vụ việc liên quan đến Hà Văn Nghĩa (SN 1983, ở huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa) và 3 đồng phạm bị khởi tố, bắt tạm giam 4 tháng về hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức Vào đầu năm 2017, sau khi nhận được tin báo tố giác về nhóm tội phạm sản xuất, mua bán và làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan nhà nước với quy mô lớn, Công an quận Bắc Từ Liêm đã tiến hành điều tra và xác định đường dây phạm tội do Nghĩa tổ chức Nghĩa đã sản xuất con dấu và tài liệu giả tại nơi ở của mình ở phường Phú La, quận Hà Đông, trong khi anh là kỹ sư xây dựng làm việc cho một công ty tư nhân.

Nghĩa, với kiến thức chuyên môn, đã quyết định thuê chung cư để mua máy móc phục vụ cho việc làm giả giấy tờ và con dấu ngoài giờ hành chính Tại cơ quan, Nghĩa khai nhận đã tổ chức đường dây làm giả này từ năm trước.

Từ năm 2015, Nghĩa cùng đồng bọn đã tạo ra hàng chục tài khoản mạng xã hội để quảng bá dịch vụ làm giấy tờ giả Nhóm của Nghĩa đã sản xuất và tiêu thụ khoảng 2.000 bộ giấy tờ và con dấu giả, bao gồm các tài liệu của cơ quan Nhà nước, đơn vị Công an, Quân đội, cũng như các trường đại học và công ty.

Và cũng thêm một vụ việc khác do báo Dân trí đưa tin ngày 31 tháng 08 năm

2016 theo đó, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (PC50

Thẩm quyền xử lý tranh chấp liên quan đến con dấu của doanh nghiệp

Theo quy định trước đây, thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến con dấu của doanh nghiệp thuộc về cơ quan công an, cụ thể là Nghị định số 58/2001/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn liên quan Hành vi vi phạm quy định về quản lý và sử dụng con dấu có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ vi phạm Bộ trưởng Bộ Công an và Trưởng ban tổ chức - cán bộ Chính phủ có trách nhiệm hướng dẫn kiểm tra việc quản lý, sử dụng con dấu, trong khi các cơ quan, tổ chức đã thành lập sẽ thực hiện kiểm tra việc bảo quản và sử dụng con dấu Trách nhiệm này thuộc về cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập tổ chức sử dụng con dấu, như Sở Kế hoạch và Đầu tư đối với các công ty Việc xử lý các tranh chấp liên quan đến con dấu sẽ được thực hiện nhanh chóng và hiệu quả hơn nhờ vào kinh nghiệm của cơ quan công an trong việc phòng chống tội phạm Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2005 vẫn chưa quy định rõ về thẩm quyền xử lý tranh chấp nội bộ liên quan đến con dấu, dẫn đến tình trạng lúng túng trong thực tế.

80 Điều 13 NĐ số 58/2001/NĐ-CP ngày 24 tháng 08 năm 2001 của Chính phủ

81 Điểm 1.3 mục 1 phần III TTLT số 07/2002/TTLT-BCA-BTCCBCP

82 Điểm 1.3 tiểu mục 1 mục B phần III Thông tư số 08/2003/TT-BCA

Vụ việc liên quan đến hành vi chiếm giữ trái phép con dấu của công ty đã được nêu rõ trong bài viết trên báo Công lý số 65, phát hành ngày 15 tháng 08 năm 2012 Cần phải xử lý nghiêm khắc đối với những hành vi này để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các doanh nghiệp.

Năm 2011, công ty HĐ đã ký hợp đồng lao động với ông D làm Tổng giám đốc Tuy nhiên, do mâu thuẫn với các cổ đông, ông D đã tự ý mang con dấu công ty ra khỏi văn phòng, chiếm giữ trái phép và từ chối đóng dấu vào các Nghị quyết của Hội đồng quản trị và Đại hội đồng cổ đông Công ty HĐ đã gửi đơn tố cáo đến Sở kế hoạch & Đầu tư tỉnh HB, nhưng cơ quan này cho biết không thuộc thẩm quyền giải quyết Sau đó, theo hướng dẫn của Công an tỉnh HB, công ty HĐ đã khởi kiện ông D tại Tòa án quận H, thành phố HN để yêu cầu giao trả con dấu, nhưng Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện với lý do thiếu chữ ký của người đại diện theo pháp luật và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với tranh chấp về quản lý, sử dụng con dấu.

Theo quy định của LDN 2014, các tranh chấp liên quan đến con dấu giữa doanh nghiệp và các cá nhân, tổ chức khác sẽ được giải quyết tại Tòa án hoặc trọng tài Doanh nghiệp phải ngừng sử dụng con dấu có từ ngữ, ký hiệu hoặc hình ảnh vi phạm và bồi thường thiệt hại theo quyết định của Tòa án hoặc trọng tài Đối với các tranh chấp nội bộ liên quan đến quản lý và sử dụng con dấu, cũng cần được giải quyết theo quy định hiện hành.

DN liên quan đến con dấu thì LDN 2014 không quy định thẩm quyền giải quyết Đồng thời các Luật khác như BLDS số 33/2005/QH11, BLDS số 91/2015/QH13,

Nghị định 96/2015/NĐ-CP, Nghị định 78/2015/NĐ-CP, Bộ luật Tố tụng Dân sự số 92/2015/QH13 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) không quy định cụ thể về thẩm quyền giải quyết tranh chấp nội bộ công ty liên quan đến con dấu.

Theo quy định tại DN LDN 2014, việc giải quyết tranh chấp nội bộ được thực hiện dựa trên Điều lệ công ty và thủ tục tố tụng dân sự, cụ thể là thông qua Tòa án Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định về tranh chấp nội bộ công ty, đặc biệt tại khoản 4 Điều 30, nêu rõ các tranh chấp kinh doanh thương mại giữa công ty với các thành viên, người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn và thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần.

83 Khoản 2 Điều 14 NĐ số 96/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của LDN

84 Điều 1 và khoản 4 Điều 30 BLTTDS 2015

Nghị định hiện hành về thẩm quyền giải quyết liên quan đến con dấu công ty còn nhiều thiếu sót, gây khó khăn trong việc áp dụng thực tế Hầu hết tranh chấp liên quan đến con dấu doanh nghiệp, bao gồm nội dung, hình thức và các vấn đề nội bộ, đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Điều này dẫn đến những bất cập, bởi quy trình giải quyết tại Tòa án thường phức tạp và kéo dài, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động bình thường của công ty.

DN, kinh doanh, sản xuất bị trì trệ và nhiều khó khăn khác

Quy định hiện hành vẫn chưa xác định rõ ràng thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến quản lý và sử dụng con dấu, cũng như các tranh chấp nội bộ trong công ty về con dấu doanh nghiệp, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng trên thực tiễn.

Chương 2 đã chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật liên quan đến con dấu, bao gồm sự không rõ ràng về số lượng con dấu và thiếu cơ quan thẩm tra hình thức, nội dung con dấu Chế định quản lý con dấu chưa hiệu quả, dẫn đến việc sử dụng con dấu của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn Các thủ tục rườm rà đối với doanh nghiệp thành lập trước ngày 01 tháng 07 năm 2015 và quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp con dấu còn nhiều vấn đề Tác giả cũng đã phân tích các bản án liên quan đến hành vi làm giả con dấu và tranh chấp nội bộ công ty, từ đó nhận thấy những thiếu sót trong quy định pháp luật đã dẫn đến vi phạm So sánh với quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, tác giả nhấn mạnh những điểm tích cực cần được kế thừa và phát triển để hoàn thiện quy định về con dấu doanh nghiệp.

KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ CON DẤU CỦA DOANH NGHIỆP

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
44. Trương Thanh Đức (2017), “Luận giải về Luật Doanh Nghiệp 2014”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận giải về Luật Doanh Nghiệp 2014”
Tác giả: Trương Thanh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật
Năm: 2017
45. Trần Thị Giang (2016) “Con dấu DN trong pháp luật Việt Nam” Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường lần thứ XX năm 2015 -2016 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con dấu DN trong pháp luật Việt Nam”
46. Lê Xuân Hiền “Cải cách con dấu DN: Nguyên nhân và giải pháp” trưởng phòng Đăng ký kinh doanh sở Khoa học và Đầu tư tỉnh Hải Dương, nguồn từ Cục Quản lý đăng ký kinh doanh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách con dấu DN: Nguyên nhân và giải pháp
47. Phạm Hoài Huấn “Người đại diện và con dấu”, báo Diễn Đàn DN ngày 11 tháng 10 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người đại diện và con dấu”
49. Kiều Anh Vũ, “Con dấu DN vẫn còn phức tạp” báo Kinh tế Sài Gòn ngày 29 tháng 10 năm 2015.II. Tài liệu Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con dấu DN vẫn còn phức tạp”
1. Luật Doanh nghiệp (Luật số 68/2014/QH13) ngày 26/11/2014 Khác
2. Luật Doanh nghiệp (Luật số 60/2005/QH11) ngày 29/11/2005 Khác
3. Luật Kế toán (Luật số 03/2003/QH11) ngày 17/06/2003 Khác
4. Luật Kế toán (Luật số 88/2015/QH13) ngày 20/11/2015 Khác
5. Luật Tố tụng dân sự (Luật số 95/2015/QH13) ngày 25/11/2015 Khác
6. Luật Thi hành án dân sự (Luật số 26/2008/QH12) ngày 14/11/2008 đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật Thi hành án dân sự (Luật số 64/2014/QH13) ngày 25/11/2014 Khác
7. Luật Sở hữu trí tuệ (Luật số 50/2005/QH11) ngày 29/11/2005 được sửa đổi, bổ sung tại Luật sở hữu trí tuệ (Luật số 39/2009/QH12) ngày 19/06/2009 Khác
8. Luật Các công cụ chuyển nhượng (Luật số 49/2005/QH11) ngày 29/11/2005 Khác
9. Luật Quảng cáo (Luật số 16/2012/QH13) ngày 21/06/2012 Khác
10. Luật Tố tụng hành chính (Luật số 64/2010/QH12) ngày 24/11/2010 Khác
11. Luật Tố tụng hành chính (Luật số 93/2015/QH13) ngày 25/11/2015 Khác
12. Luật Xây dựng (Luật số 50/2014/QH13) ngày 18/06/2014 Khác
13. Luật Đấu thầu (Luật số 43/2013/QH13) ngày 26/11/2013 Khác
14. Luật Nhà ở (Luật số 65/2014/QH13) ngày 25/11/2014 Khác
15. Luật Đầu tư (Luật số 67/2014/QH13) ngày 26/11/2014 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w