1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mua bán doanh nghiệp theo

90 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 682,01 KB

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài (0)
  • 2. Tình hình nghiên cứu đề tài (6)
  • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài (7)
  • 4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài (8)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (8)
  • 6. Kết cấu của luận văn (8)
  • CHƯƠNG 1: (9)
    • 1.1. Khái quát về doanh nghiệp (9)
      • 1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp (9)
      • 1.1.2. Các đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp (11)
      • 1.1.3. Các loại hình doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành (13)
    • 1.2. Một số vấn đề lý luận cơ bản về mua bán doanh nghiệp (16)
      • 1.2.1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của mua bán doanh nghiệp (16)
      • 1.2.2. Lợi ích kinh tế của mua bán doanh nghiệp (21)
      • 1.2.3. Phân loại mua bán doanh nghiệp (23)
      • 1.2.5. Các mục tiêu kinh tế chủ yếu của mua bán doanh nghiệp (25)
  • CHƯƠNG 2: (28)
    • 2.1. Mua bán doanh nghiệp trong bối cảnh hiện tại của Việt Nam và những định hướng về kinh tế của Việt Nam có ảnh hưởng đến mua bán doanh nghiệp (28)
      • 2.1.1. Mua bán doanh nghiệp trong bối cảnh hiện tại của Việt Nam (28)
      • 2.1.2. Những định hướng về kinh tế của Việt Nam có ảnh hưởng đến mua bán (30)
    • 2.2. Thực trạng pháp luật hiện hành về mua bán doanh nghiệp (32)
      • 2.3.1. Chuyển giao quyền và nghĩa vụ pháp lý sau mua bán (36)
      • 2.3.2. Vấn đề tài sản và tài chính (38)
      • 2.3.3. Vấn đề lao động (41)
      • 2.3.4. Đất đai (42)
      • 2.3.5. Loại hình doanh nghiệp (43)
      • 2.3.6. Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp (47)
      • 2.3.7. Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp sau mua bán (48)
      • 2.3.8. Thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh (57)
      • 2.3.9. Những nội dung trong các cam kết WTO khác biệt so với Luật Doanh nghiệp (58)
    • 2.4. Phương hướng hoàn thiện pháp luật hiện hành về mua bán doanh nghiệp (62)
      • 2.4.1. Sự cần thiết của pháp luật hiện hành về mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam (62)
      • 2.4.2. Một số định hướng hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh nghiệp (63)
      • 2.4.3. Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành về mua bán (64)
  • KẾT LUẬN (69)

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tài

Mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam đã diễn ra theo các quy định pháp lý, bắt đầu với Nghị định số 103/1999/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 1999, quy định về giao, bán, khoán kinh doanh và cho thuê doanh nghiệp nhà nước Hiện nay, quy trình này được điều chỉnh bởi Nghị định số 80/2005/NĐ-CP ngày 22 tháng 6 năm 2005, nhằm thúc đẩy sự phát triển và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước.

2005 về cùng nội dung trên

Dựa trên thực tiễn, nhiều nghiên cứu đã tập trung vào vấn đề mua bán doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là đề tài “Một số vấn đề về bán, khoán kinh doanh và cho thuê các doanh nghiệp nhà nước” của các tác giả TS.

Nguyễn Văn Phúc, TS Vũ Thành Hưng và TS Nguyễn Văn Định đã xuất bản một tác phẩm qua Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia vào năm 2003 Tuy nhiên, hiện tại chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào vấn đề mua bán doanh nghiệp một cách tổng thể, cũng như việc tổng kết thực tiễn mua bán doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn này áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, sử dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích các vấn đề liên quan đến mua bán doanh nghiệp Nó nhấn mạnh vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong thực tiễn giao dịch doanh nghiệp Ngoài ra, luận văn còn dựa trên các quan điểm của Đảng về đường lối đổi mới trong phát triển kinh tế thị trường, nhằm định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật hiện hành về mua bán doanh nghiệp.

Trong luận văn, tác giả áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như tổng hợp, so sánh và phân tích quy phạm pháp luật, cùng với khảo sát thực tiễn, nhằm làm rõ các vấn đề được đề cập.

Kết cấu của luận văn

Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có kết cấu chính bao gồm hai chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về mua bán doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng pháp luật về mua bán doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành và phương hướng hoàn thiện

Khái quát về doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp

Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, là nguồn cung cấp dịch vụ và sản phẩm thiết yếu, góp phần tạo ra của cải và sự thịnh vượng Chúng được ví như các tế bào trong cơ thể kinh tế; khi doanh nghiệp phát triển và năng động, nền kinh tế cũng sẽ tăng trưởng Ngược lại, những doanh nghiệp trì trệ hoặc gặp khó khăn sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế Vì vậy, doanh nghiệp không chỉ phản ánh sức mạnh của nền kinh tế quốc gia mà còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học.

Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về doanh nghiệp, phản ánh sự đa dạng trong cách tiếp cận của các ngành khoa học và quan điểm của từng tác giả.

Theo quan điểm chức năng, doanh nghiệp được định nghĩa là một tổ chức sản xuất, nơi mà các yếu tố sản xuất được kết hợp và quản lý bởi nhân viên nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ Mục tiêu của doanh nghiệp là bán những sản phẩm này trên thị trường để thu về lợi nhuận, cụ thể là khoản chênh lệch giữa giá bán và giá thành sản phẩm.

Theo quan điểm phát triển, doanh nghiệp được xem như một cộng đồng sản xuất của cải, trải qua quá trình hình thành và phát triển, đối mặt với cả thất bại lẫn thành công Doanh nghiệp có thể vượt qua những giai đoạn khó khăn, nhưng cũng có thể phải ngừng hoạt động hoặc thậm chí tiêu vong khi gặp phải những thách thức không thể vượt qua.

Theo quan điểm hệ thống, doanh nghiệp được hiểu là một tập hợp các bộ phận có tổ chức, tương tác lẫn nhau và hướng tới một mục tiêu chung.

Doanh nghiệp được định nghĩa qua nhiều quan điểm khác nhau, nhưng điểm chung là chúng hoạt động vì mục đích kinh doanh Để hiểu rõ bản chất của doanh nghiệp, cần tìm hiểu khái niệm “kinh doanh”, thường được hiểu là việc cung ứng hàng hóa và dịch vụ nhằm mục tiêu lợi nhuận Luật Công ty định nghĩa kinh doanh là “việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.” Do đó, doanh nghiệp là tổ chức được thành lập để thực hiện hoạt động kinh doanh, trong khi hoạt động kinh doanh chính là cốt lõi kinh tế của doanh nghiệp.

Từ góc độ đa dạng hình thức doanh nghiệp, có thể kể đến các loại như công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty liên doanh, xí nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, ngân hàng và văn phòng luật sư, tất cả đều là tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh Điều này cũng giúp lý giải về công ty TNHH một thành viên do cá nhân thành lập và điều hành Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung vào các loại hình doanh nghiệp được pháp luật hiện hành công nhận.

Khái niệm "doanh nghiệp" lần đầu tiên được ghi nhận trong Sắc Lệnh số 104-SL ngày 01 tháng 01 năm 1948 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Công hoà, nhưng sau đó lại ít được sử dụng, thay vào đó là các thuật ngữ như xí nghiệp, xí nghiệp quốc doanh và xí nghiệp liên doanh Đến năm 1990, Luật Công ty đã đưa ra định nghĩa chính thức về doanh nghiệp là "đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh" Định nghĩa này nhấn mạnh yếu tố kinh doanh, phản ánh một cách tiếp cận chính xác và đã được kế thừa trong Luật Doanh.

Theo Nghị định 1999 và Luật Doanh nghiệp, doanh nghiệp được định nghĩa là tổ chức kinh tế có tên riêng, tài sản, trụ sở giao dịch ổn định và được đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh Định nghĩa này là cơ sở cho nghiên cứu trong toàn bộ luận văn.

1.1.2 Các đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp

Căn cứ vào Luật Doanh nghiệp, một tổ chức được coi là doanh nghiệp khi hội đủ các điều kiện sau:

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập để hoạt động kinh doanh và thu lợi nhuận thông qua việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ Hoạt động kinh doanh quyết định cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, với mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu kinh tế chính, phân biệt doanh nghiệp với các tổ chức khác như tổ chức chính trị hay tổ chức phi lợi nhuận Để đạt được mục tiêu này, pháp luật trao cho doanh nghiệp thẩm quyền kinh tế, bao gồm quyền và nghĩa vụ được Nhà nước xác nhận Thẩm quyền này là cơ sở pháp lý cho các hành vi pháp lý của doanh nghiệp Đặc biệt, doanh nghiệp nhà nước thực hiện các hoạt động công ích, cung cấp sản phẩm và dịch vụ mà thị trường khó có khả năng bù đắp chi phí Trong trường hợp thu không đủ bù đắp chi phí, ngân sách nhà nước sẽ cấp bù phần chênh lệch để đảm bảo lợi ích cho người lao động.

Bài viết đề cập đến việc chuyển giao tài sản từ ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích nhằm thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ mà họ cung cấp theo yêu cầu của Nhà nước Dịch vụ và hàng hóa công ích không dựa trên cơ sở thị trường cạnh tranh, do đó, mục đích lợi nhuận không phải là ưu tiên hàng đầu trong việc cung cấp sản phẩm này Vì vậy, nghiên cứu này chỉ tập trung vào hoạt động mua bán các loại hình doanh nghiệp vì mục đích lợi nhuận, không đề cập đến việc mua bán doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích.

Doanh nghiệp cần có tài sản để thực hiện hoạt động kinh doanh và tham gia vào các quan hệ kinh tế một cách độc lập Tài sản này thường được thể hiện dưới hình thức vốn sản xuất và kinh doanh Doanh nghiệp phải có quyền chi phối đối với vốn này và chịu trách nhiệm với bên thứ ba dựa trên vốn sản xuất, kinh doanh mà mình sở hữu.

Doanh nghiệp cần có một tên riêng để phân biệt mình với các doanh nghiệp khác, đây là yếu tố quan trọng thuộc về "nhân thân".

Doanh nghiệp cần có trụ sở để thực hiện các hoạt động kinh doanh và giao dịch với các bên liên quan Trụ sở không chỉ là nơi điều hành mà còn xác định mối quan hệ pháp lý giữa doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước Hơn nữa, trụ sở còn khẳng định quốc tịch của doanh nghiệp; cụ thể, doanh nghiệp có trụ sở tại Việt Nam sẽ mang quốc tịch Việt Nam.

Doanh nghiệp là tổ chức được thành lập hợp pháp và phải được cơ quan nhà nước cho phép hoặc đăng ký Việc này bao gồm các hình thức như đăng ký kinh doanh, đăng ký đầu tư, và đăng ký hoạt động, tất cả đều được gọi chung là đăng ký kinh doanh Đây là thủ tục hành chính – tư pháp nhằm công nhận tư cách pháp lý của doanh nghiệp Hiện tại, Việt Nam chưa có quy định công nhận các doanh nghiệp thực tế, tức là những doanh nghiệp đủ điều kiện nhưng chưa đăng ký kinh doanh Mặc dù vấn đề này cần được nghiên cứu, nhưng nó không nằm trong phạm vi của đề tài này.

Một số vấn đề lý luận cơ bản về mua bán doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm pháp lý của mua bán doanh nghiệp

Mua bán doanh nghiệp là một khái niệm đã được quy định trong pháp luật Việt Nam Cụ thể, Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 đã đề cập đến vấn đề bán và cho thuê doanh nghiệp tư nhân, tạo cơ sở pháp lý cho các giao dịch này.

Theo quy định hiện hành, "bán doanh nghiệp nhà nước" được hiểu là việc chuyển giao toàn bộ tài sản của doanh nghiệp nhà nước sang sở hữu của cá nhân, tổ chức khác mà không kèm theo việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ pháp lý, trừ khi có thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng Tuy nhiên, trong luận văn này, khái niệm "mua bán doanh nghiệp" sẽ được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao gồm cả việc chuyển giao các quyền và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến doanh nghiệp.

Theo quy định quốc tế, mua bán doanh nghiệp thường được gọi là “sáp nhập và mua lại” (M&A) Thuật ngữ này bao hàm nhiều khía cạnh, từ việc chuyển nhượng tài sản, phần vốn góp cho đến việc mua bán toàn bộ doanh nghiệp Trong bài viết này, chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu về việc mua bán toàn bộ doanh nghiệp.

Theo Khoản 1 Điều 20 Nghị Định 103/1999/NĐ-CP, các khoản nợ phải thu và phải trả sẽ do doanh nghiệp giải quyết Nếu người mua cam kết kế thừa các khoản nợ này, điều đó cần được ghi rõ trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp và thông báo cho các bên liên quan Từ đó, có thể hiểu rằng mua bán doanh nghiệp liên quan đến việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ tài chính giữa các bên.

Mua bán doanh nghiệp là quá trình chuyển giao toàn bộ quyền và nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp cho cá nhân hoặc tổ chức khác thông qua hợp đồng.

Với quan điểm này, mua bán doanh nghiệp mang những đặc điểm pháp lý sau:

Mua bán doanh nghiệp được thể hiện qua hợp đồng giữa bên bán và bên mua, với đối tượng là doanh nghiệp mục tiêu Đây là giao dịch dân sự giữa các bên có địa vị pháp lý ngang nhau, do đó, hợp đồng hoàn toàn do các bên quyết định và chịu trách nhiệm Sự can thiệp của công quyền chỉ nên diễn ra trong phạm vi vĩ mô, tạo hành lang pháp lý cho các bên tự do thỏa thuận, trừ khi giao dịch dẫn đến tập trung kinh tế cần kiểm soát theo pháp luật cạnh tranh Vấn đề hợp đồng mua bán doanh nghiệp liên quan đến nhiều hợp đồng khác và là một vấn đề phức tạp, hiện chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu Luận văn này sẽ xem xét hợp đồng này tổng quát như một văn bản quan trọng quy định các thỏa thuận liên quan đến giao dịch mua bán doanh nghiệp.

Hợp đồng mua bán doanh nghiệp xác định doanh nghiệp như một thực thể pháp lý và hàng hóa đặc biệt, theo học thuyết kinh tế - chính trị Mác – Lênin Doanh nghiệp mang giá trị sử dụng, thể hiện qua khả năng sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ cho thị trường, và giá trị của nó được kết tinh từ lao động và đầu tư của các cá nhân Khi được giao dịch trên thị trường, doanh nghiệp có giá trị trao đổi, được xác định bởi quan hệ cung – cầu, và giá cả có thể biến động nhưng luôn xoay quanh giá trị thực của doanh nghiệp Thị trường mua bán doanh nghiệp đã hình thành từ lâu ở các quốc gia phát triển và ngày càng trở nên quốc tế hóa.

Trong lĩnh vực mua bán doanh nghiệp, doanh nghiệp được xem như một "hàng hóa đặc biệt" với những tính chất riêng biệt Hàng hóa này không chỉ là một thực thể pháp lý mà còn tự tạo ra quyền và nghĩa vụ pháp lý cho chính nó Là một loại hàng hóa phi vật chất, doanh nghiệp hoạt động như một cơ thể sống thông qua các cá nhân trong tổ chức, dẫn đến giá trị của nó thay đổi liên tục theo thời gian Theo D.Larua.A Caillat, doanh nghiệp được định nghĩa là "một cộng đồng người sản xuất ra những của cải".

Nó trải qua quá trình sinh ra và phát triển, với nhiều thất bại và thành công Có những thời điểm vượt qua giai đoạn nguy hiểm, nhưng cũng có lúc phải ngừng sản xuất và đối mặt với nguy cơ tiêu vong do những khó khăn không thể vượt qua.

Mua bán doanh nghiệp là quá trình chuyển giao toàn bộ quyền và nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp mục tiêu, không chỉ bao gồm tài sản mà còn cả các quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến lao động, khách hàng, hệ thống phân phối, cũng như các quyền và nghĩa vụ gắn liền với cá nhân chủ sở hữu doanh nghiệp trước khi giao dịch.

Mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam cần được công nhận bởi cơ quan nhà nước thông qua các thủ tục pháp lý, do doanh nghiệp có tư cách pháp lý được hình thành từ đăng ký kinh doanh Khi thực hiện giao dịch mua bán, việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ pháp lý của các thành viên sáng lập cần có sự chứng nhận của công quyền Quá trình đăng ký này không chỉ quan trọng mà còn ảnh hưởng đến tên gọi của giao dịch, như sáp nhập, hợp nhất hoặc chuyển nhượng vốn Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập khung pháp lý cho các bên tham gia, tuy nhiên hiện nay vẫn thiếu khung pháp lý chuẩn cho giao dịch mua bán doanh nghiệp, dẫn đến nhiều giao dịch hợp pháp không thể thực hiện.

* Các tiền đề xuất hiện, tồn tại và phát triển họat động mua bán doanh nghiệp

Mua bán doanh nghiệp là một hiện tượng kinh tế - pháp lý phức tạp, yêu cầu các điều kiện và bối cảnh cụ thể để phát triển Hiện tượng này chỉ xuất hiện và tồn tại trong một môi trường kinh tế nhất định.

Nền kinh tế thị trường là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của hoạt động mua bán doanh nghiệp, trong khi nền kinh tế tập trung bao cấp không có cạnh tranh và do đó không có hiện tượng này Sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp trong nền kinh tế tập trung phụ thuộc vào ý chí của nhà nước và được thực hiện qua thủ tục hành chính, không thể gọi là mua bán doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh thúc đẩy doanh nghiệp tìm kiếm giải pháp nâng cao năng suất lao động, cung cấp sản phẩm và dịch vụ chất lượng với giá cả hợp lý, từ đó mở rộng kinh doanh và tăng tích lũy Quá trình cạnh tranh dẫn đến sự tồn tại và phát triển của một số doanh nghiệp, trong khi những doanh nghiệp khác có thể thua lỗ, phá sản hoặc bị mua lại, đồng thời tạo ra sự tích tụ vốn và tiền đề tài chính cho hoạt động mua bán doanh nghiệp.

Nhu cầu mua bán doanh nghiệp là một yếu tố cần thiết phát sinh từ quá trình kinh doanh trong nền kinh tế Khi nhiều doanh nghiệp muốn tham gia thị trường, tái cấu trúc hoặc rút lui, nhu cầu này sẽ tự nhiên xuất hiện Một nền kinh tế hoạt động theo nguyên tắc thị trường sẽ tạo ra nhu cầu mua bán doanh nghiệp, và nhu cầu này xuất phát từ chính các chủ thể kinh doanh, không phải từ ý chí của nhà nước hay các thực thể quyền lực phi thị trường.

Tiếp đến, phải có hành lang pháp lý cho hoạt động mua bán doanh nghiệp

Hành lang pháp lý cho việc mua bán doanh nghiệp cần ghi nhận quyền sở hữu của các thành viên trong doanh nghiệp mục tiêu và thừa nhận khả năng mua bán Hành lang này tạo ra điều kiện thuận lợi cho các giao dịch, xác định quyền và địa vị pháp lý của các bên, cùng với các thủ tục và hậu quả pháp lý liên quan Khi hành lang pháp lý đầy đủ và ổn định, lòng tin giữa các bên được củng cố, dẫn đến việc giảm chi phí giao dịch trong xã hội.

1.2.2 Lợi ích kinh tế của mua bán doanh nghiệp

* Mua bán doanh nghiệp có thể được xem xét dưới nhiều góc độ:

Mua bán doanh nghiệp trong bối cảnh hiện tại của Việt Nam và những định hướng về kinh tế của Việt Nam có ảnh hưởng đến mua bán doanh nghiệp

2.1.1 Mua bán doanh nghiệp trong bối cảnh hiện tại của Việt Nam

Trong hội thảo “Mua bán và sáp nhập doanh nghiệp” tổ chức tại Thành phố

Vào ngày 10/07/2007, Cục Quản lý Cạnh tranh thuộc Bộ Thương mại đã thông báo rằng hoạt động mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam đã bắt đầu hình thành từ những năm trước đó.

2000 Cũng theo thống kê của cơ quan này, từ năm 2000 đến năm 2005, cả nước có

Trong năm 2023, đã có 18 vụ mua bán doanh nghiệp với tổng giá trị đạt 61 triệu đô la Mỹ So với năm 2006, khi số vụ mua bán doanh nghiệp lên tới 32 và tổng giá trị đạt 245 triệu đô la Mỹ, con số này vẫn còn khiêm tốn Tuy nhiên, theo dự báo của cơ quan chức năng, mức độ tăng trưởng của các giao dịch mua bán doanh nghiệp sẽ gia tăng từ 30-40% mỗi năm trong thời gian tới.

Bối cảnh kinh tế của Việt Nam hiện nay đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển của hoạt động mua bán doanh nghiệp Những lý do là:

(i) Sự phát triển của kinh tế tư nhân

Kinh tế tư nhân Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ sau chính sách đổi mới, đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế quốc gia trong hơn 20 năm qua Khu vực này đã tích lũy khối lượng tài sản và tài chính lớn, tạo nền tảng cho hoạt động mua bán doanh nghiệp Sự phát triển của kinh tế tư nhân cũng đã hình thành các tập đoàn tư nhân mạnh mẽ, tương tự như kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, nơi các tập đoàn lớn thường được hình thành qua con đường mua bán doanh nghiệp.

Hai tác giả không có khả năng tiếp cận các tiêu chí xác định giao dịch “mua bán và sáp nhập” do Cục Quản lý Cạnh tranh công bố Sự khác biệt có thể xảy ra giữa khái niệm “mua bán doanh nghiệp” trong luận văn và khái niệm “mua bán và sáp nhập” theo Cục Cạnh tranh Do đó, các số liệu trong phần này được trích dẫn từ Cục Quản lý Cạnh tranh và có thể khác biệt nếu thống kê theo khái niệm “mua bán doanh nghiệp” trong luận văn này.

(ii) Sự hình thành và phát triển của thị trường vốn

Thị trường vốn Việt Nam đã phát triển với các thị trường căn bản như thị trường mua bán nợ, thị trường chứng khoán và thị trường hối đoái Gần đây, thị trường chứng khoán Việt Nam đã chứng kiến sự hình thành của thị trường chứng khoán tập trung và thị trường phi tập trung (OTC), giúp nhiều công ty thu hút vốn lớn cho hoạt động kinh doanh Một phần vốn huy động được được tái đầu tư vào các doanh nghiệp khác thông qua góp vốn, liên doanh, mua cổ phần và mua bán doanh nghiệp.

Thị trường tín dụng hiện nay chứng kiến sự gia tăng vai trò của các tổ chức tín dụng tư nhân và nước ngoài, mặc dù các tổ chức tín dụng nhà nước vẫn giữ vị trí quan trọng Sự cải thiện trong khả năng tiếp cận tín dụng đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy hệ thống tín dụng hỗ trợ các dự án mua bán doanh nghiệp.

Thị trường ngoại hối tại Việt Nam đang trải qua sự thay đổi tích cực nhờ vào việc nới lỏng quản lý ngoại hối theo Pháp lệnh ngoại hối hiện hành, tạo điều kiện thuận lợi cho dòng vốn nước ngoài Nhiều dự án mua bán doanh nghiệp đã được tài trợ từ nguồn vốn vay nước ngoài này Đặc biệt, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam hàng năm luôn tăng, chủ yếu được chuyển giao cho khu vực kinh tế tư nhân, đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động mua bán doanh nghiệp.

(iii) Chủ trương tư nhân hóa và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Chủ trương tư nhân hóa và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước bắt đầu từ những năm 80-90 nhằm khắc phục tình trạng trì trệ kinh tế và thất thoát tài sản nhà nước Hai biện pháp chính được thực hiện là chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước nhỏ sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và chuyển các doanh nghiệp lớn thành tổng công ty Những biện pháp này đã tạo ra tiền đề kinh tế, chính trị và xã hội cho sự phát triển của thị trường mua bán doanh nghiệp hiện nay Thành công của chính sách này cũng thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc duy trì và đẩy mạnh hoạt động mua bán doanh nghiệp nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường này.

(iv) Xu thế nới rộng các hạn chế đối với thành phần kinh tế có yếu tố nước ngoài

Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11 tháng 01 năm 2007, đánh dấu bước tiến quan trọng trong hội nhập kinh tế quốc tế Sự kiện này đã giúp Việt Nam gỡ bỏ nhiều rào cản và thiết lập lộ trình cụ thể cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường Điều này tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài thâm nhập vào thị trường Việt Nam, trong đó mua bán doanh nghiệp trở thành một lựa chọn hấp dẫn.

2.1.2 Những định hướng về kinh tế của Việt Nam có ảnh hưởng đến mua bán doanh nghiệp

Khi xem xét các chính sách và đường lối của Đảng về mua bán doanh nghiệp, có thể nhận thấy những định hướng quan trọng liên quan đến hoạt động này.

(i) Xây dựng kinh tế thị trường

Kể từ chính sách đổi mới những năm 80, Việt Nam đã xác định xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hoạt động theo cơ chế thị trường và được quản lý bởi nhà nước Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhấn mạnh việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần Định hướng này không chỉ quan trọng mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động mua bán doanh nghiệp, thể hiện sự công nhận quyền sở hữu của các thành phần kinh tế và xác định việc xây dựng các loại thị trường, trong đó thị trường mua bán doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng.

Mở rộng vai trò của kinh tế tư nhân và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực then chốt là một chiến lược quan trọng cho phát triển kinh tế Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định rằng phát triển kinh tế tư nhân là yếu tố chiến lược lâu dài, góp phần vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao nội lực đất nước trong hội nhập quốc tế Đồng thời, Đảng vẫn nhấn mạnh vai trò quyết định của doanh nghiệp nhà nước trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và ổn định kinh tế - xã hội, nhưng cũng điều chỉnh cơ cấu để tập trung vào các ngành, lĩnh vực quan trọng Đặc biệt, việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo chế độ công ty và đẩy mạnh cổ phần hóa là những bước đi cần thiết để tạo ra hàng hóa cho thị trường mua bán doanh nghiệp.

(iii) Tận dụng nguồn lực từ bên ngoài đề phát triển kinh tế trong đó ưu tiên thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các quốc gia không thể tồn tại độc lập mà phải gắn bó chặt chẽ với nhau Nhận thức rõ điều này, Việt Nam đang tích cực mở rộng quan hệ quốc tế, với phương châm “Tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại, nhằm hội nhập sâu rộng và toàn diện vào các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, với mục tiêu phục vụ lợi ích quốc gia.

Những định hướng phát triển của Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường mua bán doanh nghiệp Thực tế, sự phát triển của thị trường này tại Việt Nam là minh chứng rõ ràng cho tính đúng đắn của các chiến lược phát triển đã được đề ra.

Thực trạng pháp luật hiện hành về mua bán doanh nghiệp

Hiện nay, quy định về mua bán doanh nghiệp được phân tán trong nhiều văn bản pháp luật như Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh và Bộ luật Lao động.

Bộ luật Dân sự quy định các nguyên tắc cơ bản trong giao dịch dân sự, bao gồm tư cách chủ thể của các bên, nội dung và hình thức giao dịch Hoạt động mua bán doanh nghiệp, với tư cách là một loại giao dịch dân sự, cũng phải tuân thủ các tiêu chuẩn pháp lý chung mà Bộ luật này đề ra.

Luật Doanh nghiệp quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp như công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân trong mọi thành phần kinh tế Các quy định về mua bán doanh nghiệp được tập trung chủ yếu trong Luật Doanh nghiệp Tuy nhiên, luật này chỉ áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp nằm trong phạm vi điều chỉnh của nó, trong khi thực tế tại Việt Nam vẫn tồn tại những doanh nghiệp không thuộc phạm vi này.

Trong bối cảnh hiện tại, một số quy định của Luật Doanh nghiệp Nhà nước 2003 vẫn còn hiệu lực Vì vậy, khi thực hiện các giao dịch mua bán doanh nghiệp liên quan đến doanh nghiệp nhà nước, Luật này sẽ được viện dẫn và áp dụng.

Luật Đầu tư mới đã thay thế Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tuy không còn quy định về cơ cấu tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, khi thực hiện giao dịch mua bán doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài, các nhà đầu tư vẫn cần tham khảo các quy định của Luật Đầu tư liên quan đến quyền thành lập, quyền góp vốn, và quyền sáp nhập, mua lại.

Một số doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực đặc thù như ngân hàng, tổ chức tín dụng, văn phòng luật sư, công ty luật và hợp tác xã đều được điều chỉnh bởi các luật chuyên ngành tương ứng, bao gồm Luật các tổ chức tín dụng, Luật Luật sư và Luật Hợp tác xã.

Ngoài ra, Luật Cạnh tranh sẽ điều chỉnh các vấn đề về mua bán doanh nghiệp gây ảnh hưởng đến sự cạnh tranh trên thị trường liên quan

Hoạt động mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam đang được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau Tuy nhiên, do tính chất mới mẻ của lĩnh vực này, hệ thống quy định pháp luật hiện tại vẫn tồn tại một số bất cập cần được khắc phục.

Hiện nay, chưa có quan điểm thống nhất về mua bán doanh nghiệp, với việc chủ yếu được đề cập trên các phương tiện truyền thông dưới dạng trào lưu hơn là pháp lý Không tồn tại khái niệm chính thức hay tiêu chí nào để phân định rõ ràng về mua bán doanh nghiệp Trong giới nghiên cứu, số lượng công trình về lĩnh vực này còn hạn chế, và một số tác giả cho rằng sự khác biệt giữa "mua lại" và "sáp nhập" phụ thuộc vào tính chất hợp tác hay thù địch của các bên tham gia Cụ thể, nếu các bên hợp tác, giao dịch được gọi là "sáp nhập", ngược lại nếu có tính chất thù địch thì gọi là "mua lại" Thêm vào đó, thiếu các tiêu chí thống kê rõ ràng dẫn đến sự không nhất quán và thiếu chính xác trong các số liệu thống kê được công bố bởi các cơ quan nhà nước và truyền thông.

Hiện nay, chưa có quan điểm thống nhất giữa các luật điều chỉnh hoạt động mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam, với Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư tiếp cận vấn đề từ những góc độ khác nhau Luật Doanh nghiệp quy định về mua bán doanh nghiệp trong khuôn khổ tổ chức lại doanh nghiệp, trong khi Luật Đầu tư xem đây là một hình thức đầu tư trực tiếp Luật Cạnh tranh cũng đề cập đến mua bán doanh nghiệp như một hành vi tập trung kinh tế Thuật ngữ “sáp nhập và mua lại” trong Luật Đầu tư không được định nghĩa rõ ràng, gây ra sự không thống nhất trong hệ thống pháp luật Việc sử dụng các thuật ngữ khác nhau có thể gây khó khăn cho nhà đầu tư nước ngoài và phản ánh một quan điểm pháp lý chưa rõ ràng về vấn đề này Luật Đầu tư dường như chưa được xây dựng trên những tư tưởng rõ ràng, dẫn đến nhiều quy định khó hiểu và trùng lặp, như trong Điều 21 về các hình thức đầu tư trực tiếp mà không có định nghĩa rõ ràng cho "đầu tư phát triển kinh doanh" Điều này tạo ra sự mơ hồ giữa các quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Cạnh tranh, đặc biệt khi việc mua cổ phần cũng có thể được coi là hành vi mua lại.

Hiện nay, hệ thống quy định pháp luật về mua bán doanh nghiệp chưa được hình thành một cách đồng bộ và có tính hệ thống Các quy định hiện hành chủ yếu tập trung vào hình thức của hoạt động mua bán doanh nghiệp, trong khi nội dung lại chưa được đề cập đầy đủ Nhiều quy định không thể áp dụng do thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể Mua bán doanh nghiệp liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật như đất đai, lao động, thuế và tài chính, do đó, bất kỳ mâu thuẫn nào giữa các quy định pháp luật sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động này.

Mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn còn là một khái niệm mới mẻ, chỉ mới xuất hiện trong thời gian gần đây Điều này dẫn đến việc thiếu kinh nghiệm thực tiễn trong việc xử lý các vấn đề phát sinh từ quá trình này, theo quan điểm của Cục Cạnh tranh.

Nhận thức khác nhau về mua bán doanh nghiệp dẫn đến việc các cơ quan nhà nước tạo ra rào cản nhằm bảo vệ an toàn pháp lý cho mình Tuy nhiên, ít cơ quan có đủ năng lực để thẩm tra các vấn đề pháp lý trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp Tại Thành phố Hồ Chí Minh, cơ quan thuế yêu cầu doanh nghiệp phải nộp biên bản bàn giao hóa đơn giá trị gia tăng có xác nhận của cơ quan thuế, ngoài hồ sơ đăng ký kinh doanh Điều này gây tốn thời gian và chi phí cho doanh nghiệp, đồng thời yêu cầu này thiếu cơ sở pháp lý vững chắc, vì nó chỉ dựa trên công văn của cơ quan thuế mà không có văn bản quy phạm pháp luật rõ ràng.

Pháp luật hiện hành về mua bán doanh nghiệp vẫn đang trong giai đoạn hình thành, dẫn đến sự lạc hậu giữa quy định pháp luật và thực tế giao dịch Sự thiếu hoàn thiện trong các quy định này đã kìm hãm sự năng động của doanh nghiệp và nền kinh tế, làm cho luồng vốn không thể chuyển dịch đúng theo nhu cầu thực tế của thị trường.

2.3 Một số vấn đề pháp lý phát sinh khi thực hiện pháp luật hiện hành về mua bán doanh nghiệp

2.3.1 Chuyển giao quyền và nghĩa vụ pháp lý sau khi mua bán

Mua bán doanh nghiệp bao gồm việc chuyển giao toàn bộ quyền và nghĩa vụ pháp lý từ bên bán sang bên mua, trong đó bên bán sẽ chuyển giao toàn bộ tài sản hữu hình như nhà xưởng, máy móc, thiết bị và tài sản vô hình như nhãn hiệu, bí quyết công nghệ Bên bán cũng có thể chuyển giao các quyền tài sản như quyền đòi nợ và quyền sử dụng đất Tuy nhiên, việc chuyển giao hệ thống khách hàng và hệ thống phân phối, mặc dù có giá trị kinh tế lớn, lại gặp phải những vấn đề pháp lý Theo pháp luật Dân sự Việt Nam, bên bán cần chứng minh quyền sở hữu hoặc quyền nhân thân gắn với các hệ thống này để có thể chuyển giao Hệ thống phân phối và hệ thống khách hàng không được coi là tài sản theo quy định của Bộ Luật Dân sự, nhưng nếu chúng có thể trị giá được bằng tiền và có khả năng chuyển giao trong giao dịch dân sự, thì có thể xem xét khả năng chuyển nhượng về mặt pháp lý.

Chuyển giao quyền và nghĩa vụ pháp lý trong hợp đồng với bên thứ ba là một bước quan trọng sau khi hoàn tất việc mua bán doanh nghiệp Có thể xảy ra hai trường hợp: (i) Doanh nghiệp mục tiêu vẫn tồn tại mà không thay đổi về tư cách pháp lý; hoặc (ii) Doanh nghiệp mục tiêu bị chấm dứt hoạt động và sáp nhập hoặc hợp nhất vào doanh nghiệp khác.

Phương hướng hoàn thiện pháp luật hiện hành về mua bán doanh nghiệp

2.4.1 Sự cần thiết của pháp luật hiện hành về mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam

Hệ thống doanh nghiệp Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ từ khi ban hành Luật Doanh nghiệp 1999 và 2005, với mục tiêu chính là khuyến khích sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, nhu cầu mua bán doanh nghiệp đã xuất hiện tự nhiên, dẫn đến việc cần phải điều chỉnh các quy định liên quan Những quy định hợp lý về mua bán doanh nghiệp không chỉ tạo điều kiện cho nhà đầu tư mới mà còn giúp doanh nghiệp có thể rút lui nhanh chóng hoặc tái cấu trúc hiệu quả Việc thực hiện mua bán doanh nghiệp còn đơn giản và tiết kiệm hơn so với các thủ tục khác Do đó, các nhà hoạch định chính sách cần chú trọng hơn đến lĩnh vực này và xây dựng các chính sách thông thoáng để khuyến khích hoạt động mua bán doanh nghiệp.

Mua bán doanh nghiệp là một hiện tượng kinh tế - pháp lý phức tạp, với cả khía cạnh tích cực và tiêu cực Mặc dù lo ngại về sự xuất hiện của các doanh nghiệp độc quyền sau giao dịch là có, nhưng tại Việt Nam hiện nay, yếu tố tiêu cực này rất nhỏ so với những lợi ích mà mua bán doanh nghiệp mang lại Điều này chủ yếu do sự thiếu vắng các doanh nghiệp tư nhân lớn có khả năng tạo ra vị thế độc quyền, ngoại trừ một số doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực đặc thù.

Hiện nay, giao dịch mua bán doanh nghiệp đang gặp khó khăn do các quy định pháp lý không đồng bộ và thiếu rõ ràng Cần thiết phải xây dựng một hệ thống quy định pháp luật đầy đủ và rõ ràng về mua bán doanh nghiệp, nhằm khuyến khích các giao dịch hợp pháp và giảm thiểu những tác động tiêu cực Hệ thống này cần tạo ra hành lang pháp lý để hướng dẫn các bên tuân thủ pháp luật, đồng thời thu hút sự quan tâm của các nhà lập pháp và hoạch định chiến lược đối với vấn đề này.

2.4.2 Một số định hướng hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh nghiệp

Các quy định pháp luật về mua bán doanh nghiệp cần được xây dựng trên những định hướng sau:

Thứ nhất, có thế áp dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp Pháp luật Việt

Nam quy định nhiều loại hình doanh nghiệp, do nhiều luật khác nhau điều chỉnh

Yêu cầu đầu tiên của pháp luật về mua bán doanh nghiệp là tính phổ quát, áp dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp, không chỉ những doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp mà còn cả những doanh nghiệp thuộc các luật chuyên ngành khác.

Để thúc đẩy hoạt động mua bán doanh nghiệp, cần giảm thiểu chi phí giao dịch và xây dựng các quy định pháp luật khuyến khích sự phát triển của thị trường này Thị trường mua bán doanh nghiệp, thuộc thị trường vốn, cần được phát triển thông qua việc giảm thiểu các phiền hà và trở ngại liên quan Một hành lang pháp lý đầy đủ sẽ giúp các bên hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, từ đó củng cố lòng tin và giảm thiểu chi phí giao dịch không cần thiết.

Thị trường mua bán doanh nghiệp mang tính quốc tế và đã tồn tại từ lâu trên thế giới Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập kinh tế sâu rộng, hệ thống pháp luật về mua bán doanh nghiệp cần kế thừa các quy định và tập quán quốc tế, đồng thời tuân thủ các cam kết mà Việt Nam đã đưa ra.

2.4.3 Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành về mua bán doanh nghiệp

Mua bán doanh nghiệp không chỉ mang lại lợi ích cho nền kinh tế mà còn cần được khuyến khích để thúc đẩy hoạt động này Để tăng cường sự sôi động trong lĩnh vực này, cần sửa đổi và bổ sung các quy định trong Luật doanh nghiệp liên quan đến mua bán doanh nghiệp.

Quy định chi tiết về thủ tục chuyển đổi giữa các loại hình doanh nghiệp là cần thiết để tạo ra mối quan hệ tổ chức và vốn hiệu quả Luật Doanh nghiệp hiện hành điều chỉnh năm loại hình doanh nghiệp, bao gồm công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân, với tổng cộng 20 lựa chọn cho việc chuyển đổi Tuy nhiên, chỉ có 8 trong số 20 phương thức chuyển đổi được quy định, trong khi 12 phương thức còn lại chưa được đề cập Hơn nữa, Luật Doanh nghiệp cũng cần quy định thủ tục chuyển đổi từ các doanh nghiệp hoạt động theo luật chuyên ngành sang các doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp, do đó, việc sửa đổi Chương VII của Luật Doanh nghiệp để bổ sung các hình thức chuyển đổi là rất cần thiết.

(i) Chuyển đổi doanh nghiệp mục tiêu từ DNTN thành công ty cổ phần, công ty hợp danh

(ii) Chuyển đổi doanh nghiệp mục tiêu từ công ty TNHH hai thành viên thành công ty hợp danh hoặc DNTN

(iii) Chuyển đổi doanh nghiệp mục tiêu từ công ty TNHH một thành viên thành công ty hợp danh hoặc DNTN

Chuyển đổi doanh nghiệp mục tiêu từ Công ty hợp danh thành Công ty TNHH một thành viên, Công ty TNHH hai thành viên hoặc Công ty cổ phần thành Doanh nghiệp tư nhân Ngoài ra, có thể thực hiện việc chuyển đổi từ Công ty cổ phần sang Doanh nghiệp tư nhân hoặc Công ty hợp danh.

Luật Doanh nghiệp cần được cập nhật để bổ sung quy định về việc chuyển đổi doanh nghiệp thành chi nhánh hoặc văn phòng đại diện, đồng thời liên quan đến quá trình hợp nhất hoặc sáp nhập doanh nghiệp.

Thứ hai, mở rộng các hình thức tham gia góp vốn của các doanh nghiệp

Luật cần xem xét lại quan điểm pháp lý về công ty hợp danh, đặc biệt nếu công ty hợp danh đã được công nhận là “có tư cách pháp nhân” Cần quy định rõ quyền năng của công ty hợp danh, bao gồm khả năng sử dụng tài sản để góp vốn vào các doanh nghiệp khác Do đó, cần cụ thể hóa Chương V của Luật Doanh nghiệp, cho phép công ty hợp danh tham gia góp vốn thành lập các doanh nghiệp khác Nếu không, cần thay đổi quan niệm về việc công ty hợp danh là pháp nhân.

Tác giả đề xuất sửa đổi Điểm b khoản 1 Điều 130 nhằm tạo điều kiện cho sự hình thành các công ty hợp danh lớn, cho phép thành viên hợp danh không chỉ là cá nhân mà còn có thể là tổ chức, bao gồm cả những tổ chức có tư cách pháp nhân.

Thứ ba, cần sửa đổi các định nghĩa về chia, tách, hợp nhất, sáp nhập trong các điều 150, 151, 152 và 153 của Luật Doanh nghiệp, thay thuật ngữ “công ty” bằng “doanh nghiệp” để phù hợp với tinh thần của luật này và các định nghĩa trong Luật Cạnh tranh Đồng thời, việc sử dụng thuật ngữ “công ty” trong khái niệm “nhóm công ty” cũng nên được điều chỉnh, nhằm đảm bảo các khái niệm áp dụng cho tất cả loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế, không chỉ giới hạn ở các doanh nghiệp mang tên cụ thể.

Để cải thiện việc tổ chức thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư, cần thống nhất các biểu mẫu đăng ký kinh doanh trong các văn bản liên quan.

Hiện nay, có hai hệ thống biểu mẫu dùng trong đăng ký kinh doanh: (i) hệ thống biểu mẫu theo Thông tư số 03/2006/TT-BKH, hướng dẫn hồ sơ, trình tự và thủ tục đăng ký kinh doanh; và (ii) hệ thống biểu mẫu theo Quyết định số 1088/2006/QĐ-BKH.

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Australian Competition and Consumer Commission (1999), Mergers Guidelines, số xuất bản 0 642 24948 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mergers Guidelines
Tác giả: Australian Competition and Consumer Commission
Năm: 1999
3. Bakers and McKenzie, Vietnam Guide to Mergers and Acquisitions 2004/2005, Tài liệu nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam Guide to Mergers and Acquisitions 2004/2005
4. LS. Nguyễn Mạnh Bách, Những bất cập trong Luật Doanh nghiệp 2005, Thời báo Kinh tế Sài gòn, tháng 05/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bất cập trong Luật Doanh nghiệp 2005
5. Nguyễn Ngọc Bích, Tại sao DNTN không được góp vốn?; Thời báo Kinh tế Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tại sao DNTN không được góp vốn
6. Nguyễn Ngọc Bích, Cách dễ thương hay cách dễ giận, Thời báo Kinh tế Sài gòn ngày 05 tháng 04 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách dễ thương hay cách dễ giận
7. Meredith M. Brown (1999), International Mergers and Acquisitions – An Introduction, Kluwer Law International Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Mergers and Acquisitions – An Introduction
Tác giả: Meredith M. Brown
Năm: 1999
8. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thương Mại, Tài liệu hội thảo “WTO và các cam kết liên quan đến đầu tư” tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội thảo “WTO và các cam kết liên quan đến đầu tư”
12. Bộ Thương Mại, Quyết định số 27/2006/QĐ-BTM ngày 28 tháng 8 năm 2006 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị thuộc Cục Quản lý cạnh tranh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 27/2006/QĐ-BTM ngày 28 tháng 8 năm 2006 v"ề
14. D.Larua.A Caillat (1992), Kinh tế doanh nghiệp, NXB Khoa Học Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế doanh nghiệp
Tác giả: D.Larua.A Caillat
Nhà XB: NXB Khoa Học Xã Hội
Năm: 1992
26. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định số số 80/2005/NĐ-CP ngày 22 tháng 6 năm sửa đối một số điều của Nghị định số 2005103/1999/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 1999 của Chính phủ về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số số 80/2005/NĐ-CP ngày 22 tháng 6 năm sửa đối một số điều của Nghị định số" 2005
32. Cục Quản lý Cạnh Tranh - Bộ Thương mại tổ chức, Tài liệu hội thảo “Mua bán và sáp nhập doanh nghiệp”, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 10/07/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội thảo “Mua bán và sáp nhập doanh nghiệp”
33. Nguyễn Văn Cẩn, Tôi bán, ai mua?, Thời báo Kinh tế Sài gòn, ngày 05 tháng 04 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi bán, ai mua
39. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
40. Freshfields Bruckhaus Deringer, Guide to megers and acquisitions in Asia; Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guide to megers and acquisitions in Asia
41. Tấn Đức, Lại tắc do thiếu hướng dẫn, Thời báo Kinh tế Sài gòn ngày 12 tháng 07 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại tắc do thiếu hướng dẫn
42. Doãn Đình Huề, Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay, Tạp chí Cộng sản số 105-2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay
43. Hồ Xuân Hùng, Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 – Thách thức và triển vọng, website của Viện Kinh tế Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 – Thách thức và triển vọng
45. ThS. Bùi Thanh Lam, Mua lại doanh nghiệp bằng vốn vay, Thời báo kinh tế Sài Gòn ngày 30 tháng 08 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mua lại doanh nghiệp bằng vốn vay
46. ThS. Bùi Thanh Lam, Thị trường M&A ở Việt Nam, Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 26 tháng 7 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường M&A ở Việt Nam
47. Hải Lý, Hấp dẫn chuyển nhượng công ty, Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 05 tháng 04 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hấp dẫn chuyển nhượng công ty

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w