1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự việt nam

97 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 0,9 MB

Cấu trúc

  • 1.1. Nhận thức chung về hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự (11)
    • 1.1.1. Khái niệm hiệu lực của đạo luật hình sự (13)
    • 1.1.2. Khái niệm hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự (15)
  • 1.2. Cơ sở của quy định về hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự (16)
    • 1.2.1. Nguyên tắc lãnh thổ (16)
    • 1.2.2. Nguyên tắc quốc tịch (21)
    • 1.2.3. Nguyên tắc bảo vệ quốc gia (25)
    • 1.2.4. Nguyên tắc theo pháp luật quốc tế (28)
  • 1.3. Quy định của pháp luật một số nước về hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự (11)
    • 1.3.1. Quy định của Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức về hiệu lực (0)
    • 1.3.2. Quy định của Bộ luật hình sự Liên bang Nga về hiệu lực (0)
    • 1.3.3. Quy định của Bộ luật hình sự Thụy Điển về hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự (0)
  • 2.1. Thực trạng quy định của Bộ luật hình sự về hiệu lực theo không gian đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (0)
    • 2.1.1. Khái niệm lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phạm vi hiệu lực theo không gian của Bộ luật hình sự và một số bất cập (62)
    • 2.1.2. Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về hiệu lực theo không gian đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và một số bất cập (0)
  • 2.2. Thực trạng quy định của Bộ luật hình sự về hiệu lực theo không gian đối với những hành vi phạm tội ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (0)
  • 2.3. Phương hướng hoàn thiện các quy định về hiệu lực theo không gian của Bộ luật hình sự Việt Nam (0)
    • 2.3.1. Phương hướng hoàn thiện quy định về hiệu lực theo không gian đối với hành vi thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam (86)
    • 2.3.2. Phương hướng hoàn thiện quy định về hiệu lực theo không gian đối với hành vi thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam (87)
  • KẾT LUẬN (60)

Nội dung

Nhận thức chung về hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự

Khái niệm hiệu lực của đạo luật hình sự

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, "hiệu lực" được hiểu là tác dụng đích thực hoặc giá trị thi hành Do đó, hiệu lực của đạo luật hình sự có thể được định nghĩa là tác dụng thực tế hoặc giá trị thực thi của nó Trong lĩnh vực khoa học luật hình sự hiện nay, khái niệm hiệu lực của đạo luật hình sự được thể hiện qua nhiều cách khác nhau.

Theo Trần Thị Quang Vinh và Vũ Thị Thúy, đạo luật hình sự xác định rõ ràng giới hạn về không gian và thời gian áp dụng đối với các hành vi phạm tội.

Theo cuốn Mô hình lý luận về Bộ luật hình sự Việt Nam (phần chung) của Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, hiệu lực của đạo luật hình sự được hiểu là sự hiện thực hóa các quy phạm pháp luật trong đạo luật, phản ánh năng lực pháp lý của chúng trong thực tế Khái niệm này bao gồm hiệu lực về không gian và thời gian, tức là xác định các giới hạn về địa lý và thời gian áp dụng của đạo luật hình sự Tóm lại, hiệu lực của đạo luật hình sự là những giới hạn không gian và thời gian trong việc thực thi các quy định của pháp luật hình sự.

1 Nguyễn Nhƣ Ý (2008), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.702

2 Trần Thị Quang Vinh, Vũ Thị Thúy (2008), Luật hình sự Việt Nam (phần chung), NXB Trẻ, tr.36

3 Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (1993), Mô hình lý luận về Bộ luật Hình sự Việt Nam

(phần chung), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.57

Tác giả Phạm Văn Beo nhấn mạnh rằng hiệu lực của đạo luật hình sự được xác định bởi phạm vi tác động trong không gian và thời gian cụ thể Hiệu lực này thể hiện sự hiện thực hóa các quy phạm pháp luật hình sự đã được quy định trong đạo luật.

Theo tác giả Lê Cảm, hiệu lực của đạo luật hình sự bắt đầu khi một hoặc nhiều quy phạm cụ thể của luật hình sự được áp dụng cho hành vi phạm tội của một chủ thể nhất định, trong một lãnh thổ và khoảng thời gian cụ thể Điều này cho thấy rằng đạo luật hình sự chỉ có hiệu lực trong những điều kiện nhất định.

- Một hoặc nhiều quy phạm cụ thể đƣợc quy định tại một hoặc nhiều điều khoản tương ứng của pháp luật hình sự thực định;

Áp dụng đạo luật hình sự chỉ xảy ra khi có sự kiện phạm tội, tức là khi có hành vi phạm tội cụ thể được quy định trong luật và được thực hiện trong thực tế khách quan.

- Hành vi phạm tội phải do chủ thể nhất định thực hiện;

- Về mặt không gian, hành vi phạm tội phải đƣợc thực hiện trên một lãnh thổ nào đó; và

Điều khoản trong bộ luật hình sự chỉ được áp dụng trong khoảng thời gian mà hành vi phạm tội xảy ra và đang trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử Điều này có nghĩa là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ thể của tội phạm theo quy định của pháp luật vẫn còn hiệu lực.

Trong giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường đại học Luật Hà

Hiệu lực của đạo luật hình sự được đánh giá qua hai khía cạnh chính: thứ nhất, hiệu lực không gian của đạo luật hình sự, tức là phạm vi áp dụng của nó trong lãnh thổ cụ thể.

Luật hình sự Việt Nam quy định hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng, đồng thời xác định thời điểm có hiệu lực của đạo luật hình sự.

Các tác giả đều đồng thuận rằng hiệu lực của đạo luật hình sự liên quan đến phạm vi tác động về không gian và thời gian của nó, cũng như khả năng áp dụng thực tế các quy định đối với tội phạm xảy ra trong những khoảng không gian và thời gian đã được xác định.

Khái niệm hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự

Hiệu lực theo không gian là một trong hai thành tố quan trọng của khái niệm hiệu lực trong đạo luật hình sự Theo Trần Thị Quang Vinh và Vũ Thị Thúy, hiệu lực này liên quan đến việc xác định khu vực và đối tượng áp dụng cho hành vi phạm tội Cụ thể, đạo luật hình sự quốc gia có hiệu lực đối với các hành vi phạm tội diễn ra trong một không gian nhất định và áp dụng cho một nhóm người cụ thể.

Tác giả Đào Trí Úc cho rằng hiệu lực theo không gian tức là hiệu lực đƣợc xác định trên những phạm vi lãnh thổ nhất định 8

Theo tác giả Lê Cảm, hiệu lực của đạo luật hình sự theo không gian là thời điểm áp dụng các quy phạm cụ thể của luật hình sự đối với hành vi phạm tội do một chủ thể thực hiện trên một lãnh thổ nhất định Điều này có nghĩa là bản chất pháp lý của hiệu lực đạo luật hình sự theo không gian liên quan đến việc áp dụng các điều luật được quy định trong pháp luật hình sự tại nơi xảy ra tội phạm.

6 Xem: Trường đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập I, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.32

7 Xem: Trần Thị Quang Vinh, Vũ Thị Thúy (2008), Luật hình sự Việt Nam (phần chung), NXB Trẻ, tr.36

8 Xem: Đào Trí Úc (2000), Luật hình sự Việt Nam, quyển I - Những vấn đề chung, NXB Khoa học xã hội,

9 Xem: Lê Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung), NXB Đại học quốc gia Hà Nội, tr.219

Hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự được định nghĩa là phạm vi tác động của đạo luật này, cụ thể là khả năng áp dụng các quy định đối với tội phạm xảy ra trong một không gian xác định và liên quan đến một số người nhất định.

Cơ sở của quy định về hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự

Nguyên tắc lãnh thổ

Lãnh thổ quốc gia là phần đất, nước, trời và lòng đất thuộc quyền sở hữu của một quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế Nó là một trong bốn yếu tố thiết yếu cấu thành một quốc gia, bao gồm lãnh thổ xác định, dân cư ổn định, chính phủ và khả năng quan hệ quốc tế Lãnh thổ không chỉ giúp duy trì ranh giới quyền lực nhà nước mà còn tạo ra trật tự pháp lý quốc tế ổn định Theo pháp luật quốc tế, mỗi quốc gia có quyền chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối đối với lãnh thổ của mình.

Theo quy chế pháp lý quốc tế, quốc gia có quyền tài phán đối với mọi công dân, tổ chức, bao gồm cả người nước ngoài và tổ chức quốc tế, nếu họ thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ quốc gia Nguyên tắc lãnh thổ khẳng định quyền lực tối cao của quốc gia trong việc bảo vệ trật tự và an ninh cộng đồng Tòa án của quốc gia nơi hành vi phạm tội diễn ra có thẩm quyền xử lý các hành vi và người phạm tội, bất kể quốc tịch của họ Nguyên tắc lãnh thổ cũng quyết định hiệu lực theo không gian của pháp luật hình sự, được chia thành hai trường hợp: tội phạm xảy ra trên lãnh thổ và tội phạm xảy ra ngoài lãnh thổ quốc gia Sự chi phối của nguyên tắc này là cơ sở lý luận cho việc áp dụng các quy định pháp luật hình sự.

Trường đại học Luật Hà Nội (2008) trong Giáo trình Luật quốc tế nêu rõ rằng đạo luật hình sự quốc gia có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra trên lãnh thổ của quốc gia đó Theo quy định, quốc gia có quyền tài phán hình sự tuyệt đối đối với tất cả các tội phạm diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt được quy định bởi pháp luật quốc tế.

Nguyên tắc lãnh thổ đóng vai trò quan trọng trong lập pháp hình sự, thể hiện qua các điều khoản đầu tiên trong phần quy định về hiệu lực của luật hình sự quốc gia Cụ thể, tội phạm xảy ra trên lãnh thổ quốc gia nào sẽ bị xét xử theo Bộ luật hình sự của quốc gia đó Ví dụ, Bộ luật hình sự Thụy Điển quy định rằng "Tội phạm được thực hiện trên lãnh thổ Thụy Điển bị xét xử theo pháp luật Thụy Điển tại tòa án Thụy Điển." Tương tự, Bộ luật hình sự Liên bang Nga khẳng định quyền tài phán đối với các hành vi phạm tội trên lãnh thổ của mình: "Người nào thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ Liên bang Nga thì người đó chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này." Luật hình sự Việt Nam cũng quy định rõ ràng về hiệu lực không gian: "Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam."

Mở rộng nguyên tắc lãnh thổ trong xác định thẩm quyền tài phán hình sự, một số nhà nghiên cứu luật quốc tế khẳng định rằng quốc gia sở hữu tàu thuyền mang cờ hoặc phương tiện bay, vũ trụ mang quốc tịch có quyền tài phán đối với hành vi tội phạm xảy ra trên các phương tiện này.

Nguyên tắc luật mang cờ 12 hay nguyên tắc cờ phương tiện 13 là nội dung được công nhận trong tập quán quốc tế và được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế đa phương và song phương Theo nguyên tắc này, quốc gia có quyền tuyệt đối thực hiện biện pháp giám sát đối với tàu thuyền mang quốc tịch của mình.

Theo các công ước quốc tế như Công ước Geneva về biển cả năm 1958, Luật biển quốc tế năm 1982 và Công ước Tokyo về các hành vi phạm tội trên tàu bay năm 1963, lãnh thổ quốc gia có thể mở rộng ra ngoài vùng đất liền, hải đảo, vùng biển nội thủy, lãnh hải và vùng trời Các tàu thuyền và máy bay mang quốc tịch của quốc gia được xem là phần lãnh thổ không thể tách rời, và quốc gia có tàu mang quốc tịch sẽ có thẩm quyền tài phán đối với các phương tiện này.

Theo Công ước Tokyo năm 1963, mọi hành vi vi phạm luật hình sự, dù là tội phạm hay không, có thể gây nguy hiểm cho an toàn của tàu bay, hành khách hoặc tài sản trên tàu bay đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật của quốc gia đăng ký tàu bay Hành vi phạm tội có thể xảy ra trên bất kỳ tàu bay nào được đăng ký tại quốc gia ký kết, khi tàu bay đang bay, ở vùng biển khơi hoặc tại bất kỳ nơi nào ngoài lãnh thổ quốc gia đăng ký Đối với tàu thuyền mang quốc tịch của quốc gia, Điều 92 Công ước Luật biển năm 1982 quy định rằng tàu thuyền đó chỉ chịu sự tài phán của quốc gia đăng ký, trừ những trường hợp đặc biệt như nghi ngờ.

Nguyễn Trường Giang (2011) đã đề cập đến một số điều ước quốc tế liên quan đến việc bảo đảm an ninh và phòng, chống tội phạm trên biển trong bài viết của mình Bài viết được đăng trên Trang thông tin điện tử về Biên giới lãnh thổ, do Uỷ ban quản lý.

Biên giới quốc gia - Bộ Ngoại giao, < http://biengioilanhtho.gov.vn/vie/motsodieuuocquocte-nd-

13 Xem: Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn (2011), “Về phần chung Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức”,

Tạp chí Luật học, Đặc san tháng 9 năm 2011, đã nghiên cứu về hệ thống pháp luật của Cộng hòa Liên bang Đức, trong đó đề cập đến các hành vi như cướp biển và buôn bán nô lệ theo Điều 110 của Công ước Luật biển năm 1982, đồng thời nhấn mạnh rằng các trường hợp đưa người di cư bất hợp pháp không nằm trong phạm vi này.

Theo Điều 32, tiểu mục C của Luật biển quốc tế năm 1982, tàu chiến và tàu thuyền không thương mại của quốc gia, khi treo cờ quốc gia, được coi là một phần lãnh thổ có chủ quyền của quốc gia đó, bất kể vị trí của chúng, bao gồm cả vùng lãnh hải và cảng biển của quốc gia khác cũng như vùng biển cả Điều này có nghĩa là các tàu quân sự mang cờ quốc gia đều được hưởng quyền chủ quyền đầy đủ và tuyệt đối.

Không chỉ tàu chiến và tàu nhà nước phục vụ mục đích không thương mại, mà cả tàu buôn và tàu nhà nước dùng cho mục đích thương mại (tàu dân sự) cũng được công nhận quyền chủ quyền ở một mức độ nhất định Những tàu này được xem như lãnh thổ của quốc gia và hưởng quyền miễn trừ tài phán trong một số trường hợp đặc biệt.

Theo Điều 27 Công ước Luật biển 1982, tàu dân sự có quy chế pháp lý khác so với tàu quân sự, chỉ được hưởng quyền miễn trừ tài phán hình sự trong một số trường hợp nhất định Khi xảy ra hành vi phạm tội trên tàu dân sự nước ngoài trong lãnh hải của quốc gia ven biển, quốc gia đó không tự động có thẩm quyền tài phán hình sự Bộ luật hình sự của quốc gia chỉ áp dụng cho các hành vi phạm tội này khi thỏa mãn các điều kiện tại Điểm a, b, c, d Khoản 1 Điều 27, liên quan đến nguyên tắc bảo vệ quốc gia và pháp luật quốc tế.

Phân tích Tiểu mục B Điều 27 và Tiểu mục C Điều 32 cho thấy quy chế pháp lý quốc tế công nhận việc áp dụng quy chế lãnh thổ cho các tàu mang cờ quốc gia, nhằm mục đích không thương mại, với chủ quyền đầy đủ và tuyệt đối Đối với các tàu buôn hoặc tàu nhà nước sử dụng cho mục đích thương mại, quy định này cũng được áp dụng trong một số trường hợp Việc công nhận tàu mang cờ quốc gia là một phần lãnh thổ quốc gia có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định hiệu lực không gian của Bộ luật hình sự quốc gia Khi các tàu mang cờ quốc gia được xem là lãnh thổ quốc gia, các hành vi phạm tội xảy ra trên những tàu này sẽ được coi là xảy ra trên lãnh thổ quốc gia và do đó thuộc phạm vi hiệu lực của Bộ luật hình sự quốc gia đó.

Việc công nhận lãnh thổ quốc gia mở rộng ra các tàu thuyền mang cờ quốc gia và các phương tiện bay hàng không hoặc vũ trụ đã dẫn đến sự xuất hiện của các khái niệm như “lãnh thổ mở rộng”, “lãnh thổ bay” và “lãnh thổ bơi” Những khái niệm này thực chất phản ánh sự chủ quyền quốc gia về mặt pháp lý trong những trường hợp đặc biệt.

Nguyên tắc quốc tịch

Quốc tịch, theo chế định dân cư trong luật quốc tế, là một khái niệm chính trị - pháp lý quan trọng, thể hiện mối quan hệ pháp lý hai chiều giữa cá nhân và quốc gia Nó bao gồm tổng thể các quyền và nghĩa vụ của cá nhân đối với quốc gia mà họ mang quốc tịch, cũng như các quyền và nghĩa vụ của quốc gia đối với công dân của mình.

Mối quan hệ giữa công dân và nhà nước thể hiện qua việc công dân phải tuân thủ và chịu sự chi phối của chính quyền quốc gia mà họ mang quốc tịch Dù đang sinh sống trong hay ngoài lãnh thổ quốc gia, công dân vẫn có nghĩa vụ tôn trọng và chấp hành pháp luật của quốc gia đó.

Trong luật hình sự quốc tế, nguyên tắc quốc tịch được chia thành hai loại: nguyên tắc quốc tịch chủ động và nguyên tắc quốc tịch bị động Các quốc gia có thể lựa chọn áp dụng một trong hai nguyên tắc này hoặc kết hợp cả hai, tùy thuộc vào nhu cầu và mức độ đấu tranh phòng chống tội phạm của mình.

1.2.2.1 Nguyên tắc quốc tịch chủ động

Nguyên tắc quốc tịch chủ động xác định rằng quốc gia có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự là quốc gia mà cá nhân mang quốc tịch thực hiện hành vi phạm tội, bất kể nơi xảy ra hành vi đó Điều này có nghĩa là quốc tịch của người phạm tội là yếu tố quyết định trong việc xác định quyền tài phán Nguyên tắc này cũng có vai trò quan trọng trong việc chi phối quy định về hiệu lực không gian của luật hình sự quốc gia.

Nguyên tắc lãnh thổ xác định thẩm quyền tài phán hình sự của quốc gia đối với hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ của quốc gia đó Trong khi đó, nguyên tắc quốc tịch chủ động được áp dụng để xác định hiệu lực của đạo luật hình sự đối với hành vi phạm tội diễn ra ngoài lãnh thổ Cụ thể, đạo luật hình sự của quốc gia sẽ được áp dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm do công dân của quốc gia đó thực hiện ở nước ngoài Nguyên tắc quốc tịch chủ động thể hiện rõ ràng trong các quy định pháp luật liên quan.

Khoản 3 Điều 5 Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức: “Nếu người thực hiện tội phạm là người Đức và có nguồn sống của mình trong phạm vi hiệu lực theo không gian của luật này”; hoặc tại Khoản 1 Điều 12 Bộ luật hình sự

Theo Bộ luật hình sự Liên bang Nga, công dân Nga thực hiện hành vi phạm tội ngoài lãnh thổ sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của bộ luật này.

Thụy Điển: “Nếu người phạm tội là: Công dân Thụy Điển hoặc người nước ngoài cư trú tại Thụy Điển”

1.2.2.2 Nguyên tắc quốc tịch bị động

Nguyên tắc quốc tịch bị động ra đời nhằm khắc phục những hạn chế của nguyên tắc quốc tịch chủ động, đặc biệt trong trường hợp người phạm tội không có quốc tịch hoặc có đa quốc tịch Khác với nguyên tắc chủ động, nguyên tắc bị động tập trung vào mối quan hệ giữa quốc gia thực hiện quyền xét xử và nạn nhân là công dân của quốc gia đó.

Nguyên tắc quốc tịch bị động đang ngày càng được chấp nhận rộng rãi trong khoa học pháp lý hình sự và thực tiễn lập pháp hình sự toàn cầu Các quốc gia theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa và Anh - Mỹ đã có sự chuyển biến trong quan điểm của mình Mặc dù trước đây Mỹ và Anh từng phản đối nguyên tắc này, nhưng sự phát triển của các quan hệ quốc tế và sự gia tăng các hành vi phạm tội nguy hiểm đã khiến họ phải xem xét lại Việc xử lý các tội phạm khủng bố và bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản công dân đã thúc đẩy các quốc gia này thay đổi lập trường về nguyên tắc quốc tịch bị động.

Một số điều ước quốc tế trong lĩnh vực hình sự khẳng định nguyên tắc quốc tịch bị động, như Công ước Tokyo về an ninh hàng không quốc tế Công ước này quy định rằng thẩm quyền tài phán dựa vào quốc tịch của người bị hại Cụ thể, Điều 4 nêu rõ rằng một quốc gia ký kết không phải là quốc gia đăng ký tàu bay không được can thiệp vào tàu bay đang bay để thực hiện quyền tài phán hình sự, trừ khi hành vi phạm tội do công dân hoặc người thường trú của quốc gia đó thực hiện hoặc chống lại họ.

Nguyên tắc quốc tịch bị động xác định rằng quốc gia có thẩm quyền xét xử hình sự là nơi nạn nhân, là công dân của quốc gia đó, bị xâm hại Quốc tịch của nạn nhân trở thành căn cứ để xác định hiệu lực không gian của luật hình sự đối với hành vi phạm tội Nguyên tắc này được áp dụng sau nguyên tắc quốc tịch chủ động, nhằm xác định hiệu lực của luật hình sự đối với các tội phạm xảy ra ngoài lãnh thổ quốc gia Do đó, luật hình sự của quốc gia nơi nạn nhân là công dân sẽ được áp dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm diễn ra ở nước ngoài.

Nguyên tắc quốc tịch bị động có thể được áp dụng mở rộng để bao gồm cả người không có quốc tịch và người nước ngoài thường trú tại quốc gia Điều này cho phép xác định hiệu lực của đạo luật hình sự dựa trên việc bảo vệ quyền lợi của những đối tượng này Ví dụ, Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức quy định rằng nếu hành vi phạm tội nhằm chống lại người Đức đang cư trú tại nước này, thì luật sẽ được áp dụng Tương tự, Bộ luật hình sự Liên bang Nga bảo vệ lợi ích của công dân Nga và người không có quốc tịch thường trú tại đây, trong khi Bộ luật hình sự Thụy Điển cũng nhấn mạnh việc bảo vệ công dân và tổ chức tại Thụy Điển, bao gồm cả người nước ngoài cư trú.

Nguyên tắc bảo vệ quốc gia

Bảo vệ quốc gia là một vấn đề quan trọng mà các quốc gia luôn chú trọng, vì sự ổn định của trật tự công cộng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong và quyền lợi của mỗi quốc gia trên trường quốc tế Nguyên tắc bảo vệ quốc gia đã được hình thành để phân định thẩm quyền tài phán hình sự, nhằm bảo vệ quốc gia khỏi những hành vi bất hợp pháp của người nước ngoài, đặc biệt là khi những hành vi này không bị coi là bất hợp pháp tại quốc gia nơi chúng diễn ra.

Nguyên tắc phân định thẩm quyền tài phán hình sự của quốc gia không chỉ dựa vào nơi thực hiện hành vi phạm tội hay quốc tịch của thủ phạm và nạn nhân, mà còn xem xét đến lợi ích quốc gia bị xâm hại Quốc gia có lợi ích bị tổn hại, như trật tự công cộng, ổn định chính trị và an ninh quốc gia, có quyền tài phán đối với các tội phạm xảy ra ngoài lãnh thổ, thậm chí do người nước ngoài thực hiện, nếu những hành vi này gây thiệt hại nghiêm trọng cho quốc gia đó.

Nguyên tắc này yêu cầu xử lý theo luật hình sự quốc gia đối với người nước ngoài và người không có quốc tịch, ngay cả khi họ không sinh sống trên lãnh thổ quốc gia và phạm tội ở nước ngoài Những hành vi này phải được xem xét nếu chúng xâm hại đến lợi ích quốc gia, như xâm phạm quốc thể, đe dọa an ninh, nền độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, cũng như chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của quốc gia Ví dụ về các tội danh này bao gồm hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, gián điệp và làm tiền giả Do đó, việc xây dựng quy định về hiệu lực theo nguyên tắc này là rất cần thiết.

14 Xem: Nguyễn Thị Thuận (2006), Luật hình sự quốc tế, NXB Công an nhân dân, tr.88

Luật hình sự Việt Nam quy định rằng nguyên tắc bảo vệ quốc gia được áp dụng để xác định hiệu lực của đạo luật hình sự đối với hành vi phạm tội xảy ra ngoài lãnh thổ Cụ thể, những cá nhân nước ngoài hoặc không có quốc tịch thực hiện hành vi phạm tội bên ngoài lãnh thổ Việt Nam mà xâm hại đến các lợi ích được luật bảo vệ sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật này Nói cách khác, luật hình sự của quốc gia sẽ được áp dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm gây hại đến lợi ích cơ bản của quốc gia.

Nội dung này được quy định trong hầu hết các đạo luật hình sự của các quốc gia, thể hiện qua các dấu hiệu như “xâm hại đến các lợi ích mà Bộ luật này bảo vệ”, “phạm tội chống nhà nước” hoặc “chống chính quyền địa phương và các cơ quan khác” Cụ thể, Điều 8 quy định rõ về các hành vi vi phạm này.

Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho phép áp dụng đối với người nước ngoài phạm tội chống Nhà nước hoặc công dân Trung Hoa ở ngoài lãnh thổ, với điều kiện mức hình phạt tối thiểu là 3 năm tù, trừ khi hành vi đó không bị xử phạt theo pháp luật nơi xảy ra tội phạm Tương tự, Điều 3 Chương 2 Bộ luật hình sự Thụy Điển quy định rằng các tội phạm không thuộc Điều 2 nhưng xảy ra ngoài lãnh thổ Thụy Điển vẫn có thể bị xét xử tại tòa án Thụy Điển nếu liên quan đến tội phạm chống Nhà nước, chính quyền địa phương hoặc các cơ quan của Thụy Điển.

Nguyên tắc bảo vệ quốc gia trong khoa học luật hình sự quốc tế hiện đang được thảo luận rộng rãi Tuy nhiên, nguyên tắc này thường được gọi bằng nhiều tên khác nhau, như “nguyên tắc thực tế”, gây khó khăn trong việc nhận diện và hiểu đúng nội dung của nó.

Nguyên tắc an ninh quốc gia trong Bộ luật hình sự Việt Nam quy định rằng quốc gia có quyền xét xử các hành vi tội phạm nhằm chống lại an ninh, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ Điều này đảm bảo khả năng truy tố tội phạm xâm hại quyền và lợi ích cơ bản của quốc gia Thẩm quyền tài phán của quốc gia được xác định dựa trên lợi ích quốc gia, dẫn đến việc áp dụng nguyên tắc bị xâm hại hay nguyên tắc lãnh thổ bị động trong việc xử lý các hành vi phạm tội.

Trong luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ “bảo vệ quốc gia” để chỉ nguyên tắc xác định thẩm quyền tài phán hình sự của quốc gia đối với các hành vi phạm tội diễn ra ngoài lãnh thổ, xâm phạm lợi ích cơ bản của quốc gia Tuy nhiên, về mặt ngữ nghĩa, các thuật ngữ “nguyên tắc thực tế” và “nguyên tắc an ninh quốc gia” không phản ánh đầy đủ nội dung và mục đích của nguyên tắc này.

“Thực tế” và “an ninh quốc gia” có nội hàm hẹp hơn so với “bảo vệ quốc gia”, trong đó an ninh quốc gia chỉ bao gồm an ninh quốc phòng và an ninh chính trị Ngược lại, “bảo vệ quốc gia” bao hàm việc bảo vệ tất cả các yếu tố liên quan đến quốc gia, bao gồm quốc thể, trật tự công cộng, chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, uy tín, vị thế và các quyền lợi sống còn khác Do đó, luận văn chọn tên gọi “nguyên tắc bảo vệ quốc gia” để chỉ nguyên tắc xác định thẩm quyền tài phán hình sự của quốc gia đối với các hành vi phạm tội xảy ra ngoài lãnh thổ nhưng xâm hại đến lợi ích quan trọng của quốc gia.

16 Xem: Lê Văn Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.221

17 Xem: Nguyễn Thị Thuận (2007), Luật hình sự quốc tế, NXB Công an nhân dân, năm 2007, tr.87

Quy định của pháp luật một số nước về hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự

Thực trạng quy định của Bộ luật hình sự về hiệu lực theo không gian đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Khái niệm lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phạm vi hiệu lực theo không gian của Bộ luật hình sự và một số bất cập

Lãnh thổ quốc gia là phần đất, nước, và không gian trên đó, bao gồm cả lòng đất dưới bề mặt Đây là các yếu tố cấu thành chủ quyền lãnh thổ của quốc gia Đối với Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, lãnh thổ được xác định qua các văn bản pháp luật và tuyên bố quốc tế Theo Điều 1 Hiến pháp năm 1992, Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời Lãnh thổ được giới hạn bởi biên giới quốc gia, bao gồm biên giới trên biển, dưới lòng đất và trên không.

Theo Điều 1 của Hiến pháp năm 1992, lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được chia thành ba phần chính: vùng đất liền và hải đảo, vùng biển, và vùng trời.

Đất liền và hải đảo là phần lãnh thổ không thể thiếu của Việt Nam, bao gồm cả lục địa và các đảo thuộc chủ quyền quốc gia Theo luật quốc tế, vùng này bao gồm các vùng nước như ao, hồ, sông ngòi và biển nội địa Quốc gia có quyền chủ quyền tuyệt đối đối với lãnh thổ của mình Vùng đất liền và hải đảo thuộc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác định qua các hiệp định biên giới với các nước láng giềng.

Biên giới đất liền giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào được xác định theo Hiệp định hoạch định biên giới quốc gia ký ngày 18 tháng 7 năm 1977 và Hiệp ước bổ sung ký ngày 24 tháng 01 năm 1986 Các văn bản, phụ lục, tài liệu, bản đồ và sơ đồ liên quan đến phân giới trên thực địa và cắm mốc cũng được kèm theo các hiệp ước này.

Biên giới đất liền giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia được xác định theo Hiệp định hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 cùng với Hiệp ƣớc bổ sung ký kết vào ngày 10 tháng 10 năm đó.

Biên giới đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc được xác định theo Hiệp ƣớc biên giới năm 1999, cùng với Nghị định thư phân giới cắm mốc, Hiệp định quy chế pháp lý biên giới và Hiệp định về cửa khẩu và quản lý cửa khẩu.

Việt Nam sở hữu khoảng 3.000 hải đảo ở biển Đông, với sự phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung tại vịnh Bắc bộ và Nam bộ Nhiều đảo và quần đảo ven biển có dân cư sinh sống, tạo nên sự đa dạng về văn hóa và kinh tế trong khu vực.

Cô Tô, Cái Bầu, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Hòn Lớn, Hòn Tre, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Sơn, Phú Quốc, Thổ Chu, Nam Du và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nằm ngoài khơi các tỉnh miền Trung và Nam bộ, là những điểm đến nổi bật của Việt Nam Những hải đảo này bao gồm nhiều đảo nhỏ, bãi cát ngầm, bãi đá và bãi san hô Quốc hội Việt Nam đã khẳng định chủ quyền đối với các hải đảo, đặc biệt là Hoàng Sa và Trường Sa, thông qua Hiến pháp năm 1992 và Nghị quyết năm 1994 về việc phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982.

Vùng biển của Việt Nam bao gồm toàn bộ vùng nước nằm trong biên giới quốc gia trên biển, bao gồm nội thủy và lãnh hải Nội thủy được xác định giữa đường bờ biển và đường cơ sở theo Điều 47 của Công ước Luật biển năm 1982 Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối đối với vùng nội thủy này.

Vùng biển nội địa của Việt Nam bao gồm các khu vực như cảng biển, vũng tàu, cửa sông, và các vịnh, nằm giữa lãnh thổ đất liền và đường cơ sở Những vùng nước này được xác định để tính chiều rộng lãnh hải của quốc gia.

Vùng biển nằm trong đường cơ sở xác định chiều rộng lãnh hải của các đảo và quần đảo thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Theo tuyên bố của Chính phủ ngày 12 tháng 11 năm 1982, vùng nước lịch sử của Việt Nam bao gồm phần vịnh thuộc phía Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ và các vùng nước chung với Campuchia Lãnh hải của Việt Nam nằm trong đường biên giới biển, có chiều rộng tối đa là mười hai hải lý từ đường cơ sở, trong đó Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định chủ quyền vùng nước thuộc lãnh thổ của mình phù hợp với các Công ước của Liên Hiệp Quốc và thông qua các văn bản pháp lý của Nhà nước.

- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992

- Luật biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003

- Công ƣớc về lãnh hải và vùng tiếp giáp ngày 10 tháng 9 năm 1964

- Công ƣớc về Luật biển ngày 10 tháng 12 năm 1982

Nghị định 30/CP ngày 29 tháng 01 năm 1980 của Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về quy chế hoạt động của tàu thuyền nước ngoài trên các vùng biển của Việt Nam Nghị định này nhằm quản lý và kiểm soát các hoạt động hàng hải, đảm bảo an ninh, an toàn và bảo vệ môi trường biển Đồng thời, nó cũng tạo điều kiện cho sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hàng hải và phát triển kinh tế biển.

Vào ngày 12 tháng 5 năm 1977, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành tuyên bố quan trọng về lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam Tuyên bố này khẳng định quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển và tài nguyên thiên nhiên, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ và phát triển bền vững các nguồn lợi biển Chính phủ Việt Nam cam kết tuân thủ các quy định quốc tế liên quan đến biển, đồng thời thúc đẩy hợp tác với các quốc gia khác trong việc quản lý và bảo vệ môi trường biển.

Vào ngày 12 tháng 11 năm 1982, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam Tuyên bố này xác định rõ ràng các đường cơ sở nhằm bảo vệ và khẳng định chủ quyền lãnh thổ biển của quốc gia Việc xác định đường cơ sở là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc quản lý và bảo vệ tài nguyên biển, đồng thời thể hiện cam kết của Việt Nam trong việc tuân thủ các quy định quốc tế về lãnh hải.

Cũng thuộc lãnh thổ của Việt Nam là vùng trời, đó là khoảng không gian bao trùm trên vùng đất, vùng nước của Việt Nam, được xác định bởi

26 Xem: “Tìm hiểu về chủ quyền biển đảo: Vùng nước nội thủy”, báo Quân đội nhân dân, website:

Phương hướng hoàn thiện các quy định về hiệu lực theo không gian của Bộ luật hình sự Việt Nam

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1984), Tuyên bố ngày 05/6/1984 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về vùng trời Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1984)
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1984
4. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1994), Quy chế quản lý hoạt động hàng hải tại cảng biển và các khu vực hàng hải Việt Nam, ban hành theo Nghị định số 13-CP ngày 25/02/1994 của Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1994)
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1994
5. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1996), Nghị định số 55-CP ngày 01/10/1996 của Chính phủ về hoạt động của tàu quân sự nước ngoài vào thăm nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1996)
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1996
12. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1985), Bộ luật hình sự năm 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1985)
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1985
13. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999), Bộ luật hình sự năm 1999( sửa đổi bổ sung năm 2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999)
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1999
14. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001)
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2001
15. Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1990), Pháp lệnh lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1990)
Tác giả: Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1990
17. Đào Trí Úc (2000), Luật hình sự Việt Nam (quyển I), NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hình sự Việt Nam (quyển I)
Tác giả: Đào Trí Úc
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2000
18. Đinh Văn Quế (2000), “Một số vấn đề về hiệu lực của Bộ luật hình sự 1999”, tạp chí Tòa án nhân dân, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về hiệu lực của Bộ luật hình sự 1999”, tạp chí" Tòa án nhân dân
Tác giả: Đinh Văn Quế
Năm: 2000
19. Lê Cảm (2000), “Đạo luật hình sự: Một số vấn đề lý luận cơ bản”, tạp chí Tòa án nhân dân, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo luật hình sự: Một số vấn đề lý luận cơ bản”, tạp chí" Tòa án nhân dân
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2000
20. Lê Cảm (2000), “Những vấn đề cơ bản của pháp luật hình sự Mỹ”, tạp chí Luật học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của pháp luật hình sự Mỹ”, tạp chí" Luật học
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2000
21. Lê Cảm (2000), Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung luật hình sự (tập III), NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung luật hình sự (tập III)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2000
22. Lê Cảm (2003), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
23. Lê Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
24. Nguyễn Huy Chiểu (1972), Hình luật, Viện Đại học Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình luật
Tác giả: Nguyễn Huy Chiểu
Năm: 1972
25. Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn (2011), “Về phần chung Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức”, tạp chí Luật học, đặc san tháng 9 năm 2011:“Tìm hiểu hệ thống pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phần chung Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức”, tạp chí" Luật học, đặc san tháng 9 năm 2011: "“Tìm hiểu hệ thống pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn
Năm: 2011
26. Nguyễn Nhƣ Ý (2008), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Nhƣ Ý
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
27. Nguyễn Thị Thuận (2006), Luật hình sự quốc tế, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hình sự quốc tế
Tác giả: Nguyễn Thị Thuận
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2006
28. Nguyễn Văn Thành, Vũ Trinh, Trần Hựu, Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long), NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long)
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
29. Phạm Văn Beo (2010), Luật hình sự Việt Nam – Quyển 1 – Phần chung, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hình sự Việt Nam – Quyển 1 – Phần chung
Tác giả: Phạm Văn Beo
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

CỦA ĐẠO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM - Hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự việt nam
CỦA ĐẠO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (Trang 1)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w