1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các vấn đề pháp lí về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài

73 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Vấn Đề Pháp Lí Về Hiệu Lực Của Thỏa Thuận Trọng Tài
Tác giả Trần Thị Giang
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trường học Trường Đại Học Luật TP HCM
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP HỒ CHÍ MINH
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,43 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HIỆU LỰC CỦA THỎA THUẬN TRỌNG TÀI (10)
    • 1.1. Khái niệm và đặc điểm của thỏa thuận trọng tài (10)
      • 1.1.1. Khái niệm thỏa thuận trọng tài (10)
      • 1.1.2. Đặc điểm của thỏa thuận trọng tài (12)
        • 1.1.2.1. Tính tự nguyện của thoả thuận trọng tài (12)
        • 1.1.2.2. Tính độc lập của thoả thuận trong tài (14)
    • 1.2. Phân loại và hình thức của thoả thuận trọng tài (14)
      • 1.2.1. Phân loại thỏa thuận trọng tài (14)
      • 1.2.2. Hình thức của thoả thuận trọng tài (17)
      • 1.2.3. Giá trị pháp lí của thỏa thuận trọng tài (17)
    • 1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực của thoả thuận trọng tài và hậu quả pháp lí của thỏa thuận trọng tài (22)
  • CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ “HIỆU LỰC CỦA THỎA THUẬN TRỌNG TÀI” VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN (28)
    • 2.1. Tính độc lập của thoả thuận trọng tài trong mối quan hệ với hợp đồng (28)
    • 2.2. Điều kiện về chủ thể kí kết thoả thuận trọng tài (38)
      • 2.2.1. Loại chủ thể kí kết thoả thuận trọng tài (39)
      • 2.2.2. Năng lực hành vi của chủ thể kí kết thỏa thuận trọng tài (44)
      • 2.2.3. Thẩm quyền của chủ thể kí kết thỏa thuận trọng tài (47)
    • 2.3. Điều kiện về hình thức của thỏa thuận trọng tài (49)
    • 2.4. Điều kiện về nội dung của thỏa thuận trọng tài (51)
      • 2.4.1. Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại (55)
      • 2.4.2. Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại (58)
      • 2.4.3. Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật qui định được giải quyết bằng Trọng tài (60)
    • 2.5. Yếu tố lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập thỏa thuận trọng tài và yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu (0)
    • 2.6. Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật (68)
  • KẾT LUẬN (71)

Nội dung

CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HIỆU LỰC CỦA THỎA THUẬN TRỌNG TÀI

Khái niệm và đặc điểm của thỏa thuận trọng tài

1.1.1 Khái niệm thỏa thuận trọng tài

Thỏa thuận trọng tài đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng Trọng tài như một phương thức giải quyết tranh chấp giữa các bên trong các lĩnh vực luật định Nếu không có thỏa thuận trọng tài, việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài sẽ không thể diễn ra.

Khoản 2 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010 (LTTTM) qui định: “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh”

Khái niệm “thỏa thuận trọng tài” cũng được Pháp lệnh Trọng tài Thương mại

Theo Khoản 2 Điều 2 của PLTTTM năm 2003, thỏa thuận trọng tài được định nghĩa là sự đồng thuận giữa các bên nhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh hoặc có thể phát sinh trong hoạt động thương mại thông qua hình thức trọng tài.

Quy định của Luật Trọng tài Thương mại (LTTTM) và Pháp luật Trọng tài Thương mại (PLTTTM) đều nhấn mạnh khái niệm "thoả thuận trọng tài" như một sự thống nhất ý chí giữa các bên để giải quyết tranh chấp thông qua phương thức trọng tài, một cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài Toà án Tuy nhiên, không phải tất cả các chủ thể đều có quyền ký kết thoả thuận trọng tài, và không phải mọi tranh chấp giữa các chủ thể được pháp luật công nhận đều có thể được giải quyết bằng thủ tục trọng tài Điều này đòi hỏi các bên liên quan cần lưu ý kỹ lưỡng trước khi quyết định ký kết thoả thuận trọng tài.

Có sự khác biệt giữa hai quy định trong PLTTTM và LTTTM Trong khi PLTTTM coi Thỏa thuận trọng tài là sự "cam kết" của các bên, LTTTM không xem đó là cam kết nữa Sự thay đổi này là cần thiết và phù hợp với thực tiễn pháp luật quốc tế, vì khi các bên đã chọn Trọng tài, họ phải tự chịu trách nhiệm với quyết định của mình Khái niệm "thỏa thuận trọng tài" đã trở nên ràng buộc và việc giải quyết tranh chấp qua Trọng tài không còn là quyền mà là trách nhiệm của các bên Thuật ngữ "cam kết" trở nên không cần thiết và gây rắc rối về mặt ngữ nghĩa Thêm vào đó, sự mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài giữa LTTTM và PLTTTM đã dẫn đến việc cụm từ "trong hoạt động thương mại" không còn được giữ lại trong quy định tại Khoản 2 Điều 2 PLTTTM.

Khoản 2 Điều 3 LTTTM Và theo tác giả thì đây cũng là sự thay đổi hợp lí của Luật hiện hành

Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài định nghĩa thỏa thuận trọng tài tại Điều II(1), quy định rằng mỗi quốc gia thành viên phải công nhận thỏa thuận bằng văn bản, trong đó các bên cam kết đưa tranh chấp phát sinh từ một quan hệ pháp lý xác định ra trọng tài, bất kể đó là quan hệ hợp đồng hay không, miễn là đối tượng tranh chấp có khả năng giải quyết bằng trọng tài.

Công ước Châu Âu 1961, được ký dưới sự bảo trợ của Ủy ban Liên hợp quốc về Kinh tế Châu Âu, nhằm giải quyết tranh chấp thương mại giữa Đông và Tây Âu thông qua trọng tài Đây được xem là công ước bổ sung cho Công ước New York 1958, tập trung vào trọng tài trong các giao dịch thương mại Đông-Tây Âu Theo Điều I(2)(a), "thoả thuận trọng tài" được định nghĩa là điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc thỏa thuận trọng tài do các bên ký kết, hoặc được ghi nhận qua thư tín, điện tín, hoặc văn bản telex Đặc biệt, trong các quốc gia không yêu cầu thoả thuận trọng tài phải bằng văn bản, bất kỳ thoả thuận nào được ký kết theo hình thức hợp pháp đều được công nhận.

Luật mẫu UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế năm 1985 định nghĩa thỏa thuận trọng tài tại Điều 7 khoản 1 như sau: "Thỏa thuận trọng tài là sự đồng ý của các bên để giải quyết mọi hoặc các tranh chấp cụ thể phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa họ liên quan đến một quan hệ pháp lý xác định, bất kể đó là quan hệ hợp đồng hay không Thỏa thuận này có thể được thể hiện dưới dạng điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc thông qua một thỏa thuận riêng biệt."

Pháp luật về trọng tài của Thụy Điển không cung cấp khái niệm cụ thể nào về trọng tài, nhưng khái niệm “thoả thuận trọng tài” có thể được hiểu thông qua quy định tại Section 1 Đạo luật trọng tài Theo đó, các bên có thể thông qua thỏa thuận để chuyển những tranh chấp liên quan đến vấn đề mà họ muốn giải quyết cho một hoặc một vài trọng tài quyết định.

2 Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam(VIAC)

Công ước New York 1958 là một văn bản quan trọng trong lĩnh vực pháp luật quốc tế, nhằm mục đích tạo ra sự thống nhất trong việc giải thích và áp dụng các quy định của Toà án Năm 2009, tài liệu này đã được dịch từ nguyên bản tiếng Anh và xuất bản bởi NXB Pháp luật và Thuế Kluwer tại Deventer, Hà Lan, cùng với các chi nhánh ở Antwerp, Boston, London và Frankfurt.

Sự thỏa thuận như thế có thể liên quan đến những tranh chấp trong tương lai mà nó có với quan hệ pháp lí gắn liền với hợp đồng” 3

Mặc dù các quốc gia và văn bản pháp luật quốc tế có cách tiếp cận khác nhau về khái niệm "thoả thuận trọng tài", với một số văn bản đưa ra định nghĩa cụ thể như Việt Nam, Luật Mẫu UNCITRAL, và Công ước New York, trong khi những văn bản khác chỉ có thể hiểu ngầm như ở Thụy Điển, nhưng nội hàm của các khái niệm này vẫn tương đồng Sự khác biệt chủ yếu nằm ở loại hình tranh chấp mà trọng tài có thẩm quyền giải quyết.

Thoả thuận trọng tài là sự thống nhất ý chí giữa các bên, thể hiện sự đồng ý đưa tranh chấp ra giải quyết tại Trọng tài Nó đóng vai trò cốt yếu trong toàn bộ quá trình tố tụng Trọng tài, từ khởi đầu đến công nhận và thi hành Phán quyết trọng tài Để được coi là hợp pháp, thoả thuận trọng tài phải tuân thủ các quy định pháp luật về điều kiện hiệu lực Hiệu lực của thoả thuận này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, sẽ được phân tích chi tiết trong Chương 2 của khoá luận.

1.1.2 Đặc điểm của thỏa thuận trọng tài

1.1.2.1 Tính tự nguyện của thoả thuận trọng tài

Thoả thuận trọng tài là yếu tố then chốt trong tố tụng Trọng tài thương mại, với đặc điểm tự nguyện và tự do ý chí là không thể thiếu trong mọi quá trình giải quyết tranh chấp ngoài Toà án quốc gia Sự thành công của quá trình trọng tài phụ thuộc vào thoả thuận giữa các bên, điều này được các luật gia châu Âu lục địa đặc biệt coi trọng Họ cho rằng, một thoả thuận cùng với bộ qui tắc phù hợp có thể biến Trọng tài thành một quá trình tố tụng độc lập, không phụ thuộc vào luật quốc gia Theo Điều 388 Bộ luật Dân sự 2005, hợp đồng dân sự được định nghĩa là sự thoả thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.

Thoả thuận trọng tài, mặc dù chưa phải là hợp đồng, nhưng có thể được xem như một hợp đồng do nó chứa đựng đầy đủ các thuộc tính cơ bản của một hợp đồng Đây là văn bản mà các bên thống nhất về phương thức giải quyết tranh chấp, trung tâm giải quyết, quy tắc tố tụng, địa điểm, ngôn ngữ, và các bên cũng phải chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình.

Phan Hoài Nam (2009) trong luận văn Thạc sĩ Luật học tại Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài theo pháp luật Việt Nam và Thụy Điển Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự tương đồng và khác biệt trong quy định pháp lý của hai quốc gia, góp phần nâng cao hiểu biết về trọng tài thương mại trong bối cảnh quốc tế.

Phân loại và hình thức của thoả thuận trọng tài

1.2.1 Phân loại thỏa thuận trọng tài

Cả Khoản 2 Điều 3 LTTTM và Khoản 2 Điều 2 PLTTTM phân loại thoả thuận trọng tài dựa vào thời điểm xác lập và dạng tồn tại của nó Theo đó, thoả thuận trọng tài được chia thành hai loại: điều khoản trọng tài trong hợp đồng và thỏa thuận riêng Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS 2004) cũng quy định tương tự tại Khoản 1, Điều 365, nêu rõ rằng “thỏa thuận trọng tài có thể là điều khoản về Trọng tài đã được ghi trong hợp đồng hoặc thoả thuận riêng về Trọng tài được các bên ký kết sau khi phát sinh tranh chấp.”

Luật Mẫu UNCITRAL (sửa đổi ngày 04/12/2006) và Công ước New York 1958 quy định rằng một thoả thuận trọng tài có thể tồn tại dưới hai hình thức: một điều khoản trong hợp đồng hoặc một thoả thuận riêng biệt, được nêu tại Khoản 2 Điều 7 và Điều II.

Thoả thuận trọng tài là một điều khoản trong hợp đồng, thường được thiết lập để giải quyết tranh chấp có thể phát sinh trong tương lai Tuy nhiên, việc ký kết thoả thuận này diễn ra khi tranh chấp chưa xảy ra, khiến các bên không thể dự đoán được loại tranh chấp cụ thể nào sẽ phát sinh và cách giải quyết tốt nhất Điều này có thể dẫn đến việc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được khi tranh chấp xảy ra Ví dụ, nếu các bên đã chỉ định một trọng tài viên nhưng trọng tài viên đó không thể tham gia do sự kiện bất khả kháng, và không có thoả thuận thay thế, vụ việc sẽ không được giải quyết Tương tự, nếu các bên đã chọn một Trung tâm trọng tài nhưng Trung tâm đó đã ngừng hoạt động, tranh chấp cũng sẽ không được giải quyết Mặc dù thoả thuận trọng tài thường đơn giản và dễ thực hiện, nhưng việc quy định sơ sài có thể dẫn đến sự không phù hợp với tranh chấp thực tế và gây ra tình trạng thoả thuận bị vô hiệu hoặc không thể thực hiện.

Để tránh rắc rối khi xảy ra tranh chấp, các bên nên thiết lập Điều khoản trọng tài theo khuyến nghị của các Trung tâm trọng tài Những điều khoản này, được gọi là Điều khoản mẫu, thường được đăng tải trên website hoặc trong tài liệu giới thiệu của các Trung tâm Các bên có thể thỏa thuận rằng: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết chung thẩm tại [Tên của Trung tâm trọng tài].” Điều khoản mẫu này đảm bảo hiệu lực mà không cần quá chi tiết, và có thể bao gồm các điều khoản trọng tài được khuyến khích bởi Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam.

7 Nguyễn Văn Lộc (2009), “Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Thương mại tại Việt Nam”, http://saga.vn/view.aspx?id139

11 quyết chung thẩm tại Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam”

Có thể tham khảo các Điều khoản Trọng tài mẫu cho hợp đồng quốc tế từ những tổ chức uy tín như Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ, Trung tâm Trọng tài khu vực Cairo, Uỷ ban Trọng tài Thương mại và Kinh tế Quốc tế Trung Quốc (CIETAC), Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hồng Kông, và Trung tâm giải quyết các tranh chấp Đầu tư Quốc tế.

Hà Lan, Viện Trọng tài thuộc Phòng Thương mại Stockholm,…

Thoả thuận trọng tài là một loại thoả thuận riêng biệt, có thể được ký kết tại thời điểm ký hợp đồng hoặc sau khi tranh chấp phát sinh Thoả thuận này có thể áp dụng cho tranh chấp hiện tại hoặc tương lai, nhưng thường được xác lập khi tranh chấp đã xảy ra, giúp các bên xác định rõ loại tranh chấp cụ thể Do đó, các thoả thuận trọng tài riêng biệt thường có quy định chi tiết Pháp luật trọng tài tôn trọng yếu tố tự nguyện giữa các bên, cho phép họ thỏa thuận về cách thức và trình tự gửi thông báo đơn kiện mà không nhất thiết tuân theo quy định của luật (Điều 12 LTTTM) Tuy nhiên, khi thoả thuận được xác lập sau khi tranh chấp xảy ra, các bên, đặc biệt là bên bị vi phạm, cần lưu ý đến thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài (Điều 33 LTTTM).

Khi tranh chấp phát sinh, các bên thường tìm kiếm phương thức giải quyết có lợi cho mình, đặc biệt là khi nhận thấy trọng tài có thể bất lợi và dẫn đến thua kiện Trong bối cảnh này, việc đạt được thiện chí để thảo luận và đưa ra quyết định giải quyết tranh chấp trở nên khó khăn Phương thức trọng tài chỉ thực sự hiệu quả khi các bên tham gia hoàn toàn tự nguyện Theo quy định của pháp luật Việt Nam, thời điểm thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài rất linh hoạt, do đó, các bên cần chú trọng đến nội dung của điều khoản thỏa thuận này.

8 Nguyễn Đình Thơ (2006), “Một số vấn đề về thoả thuận trọng tài”, Tạp chí Toà án nhân dân, (số 20/2006), tr.16

Việc giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài sẽ được thực hiện theo quy định hiện hành Các quy định trong PLTTTM và LTTTM của Việt Nam đã học hỏi từ các nước và thông lệ quốc tế, bao gồm Luật Mẫu UNCITRAL và Công ước New York 1958 Những văn bản này đều công nhận giá trị pháp lý của các thỏa thuận trọng tài liên quan đến cả tranh chấp hiện tại và tương lai.

1.2.2 Hình thức của thoả thuận trọng tài

Thỏa thuận trọng tài cần phải được lập thành văn bản và có hiệu lực độc lập với hợp đồng Pháp luật Trọng tài cũng quy định mở rộng các trường hợp mà thỏa thuận trọng tài có thể được xem là văn bản, nhằm phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế trong nước và quốc tế hiện nay.

Pháp luật Việt Nam, giống như nhiều quốc gia khác, có sự thống nhất trong quy định về thỏa thuận trọng tài Cụ thể, Điều 18 của Luật Trọng tài Thương mại Việt Nam năm 2010, Điều 1031 của Luật Trọng tài Cộng hòa Liên bang Đức, Điều 7 khoản 2 của Luật Trọng tài Thương mại Quốc tế Cộng hòa Liên bang Nga, và Điều 6 của Luật Trọng tài Thái Lan đều nhấn mạnh tầm quan trọng của các điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.

1.2.3 Giá trị pháp lí của thỏa thuận trọng tài

Một thỏa thuận trọng tài hợp pháp là thỏa thuận tuân thủ các quy định pháp luật về hiệu lực, được xác định dựa trên nhiều yếu tố như chủ thể ký kết, hình thức và nội dung Theo Điều 5 PLTTTM và Điều 6 LTTTM, khi có thỏa thuận trọng tài hợp pháp, Tòa án không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Nếu một bên khởi kiện tại Tòa án trong khi đã có thỏa thuận trọng tài, Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ khi thỏa thuận đó vô hiệu hoặc không thể thực hiện Điều này khẳng định giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài và tầm quan trọng của ý chí tự nguyện của các bên khi ký kết.

Thoả thuận trọng tài hợp pháp sẽ loại trừ thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Toà án Theo pháp luật về trọng tài, nếu các bên đã có thỏa thuận trọng tài và một bên khởi kiện tại Tòa án, Tòa án sẽ từ chối thụ lý vụ tranh chấp trừ khi thỏa thuận trọng tài bị tuyên là vô hiệu hoặc không thể thực hiện được Do đó, các quy định về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp theo pháp luật trọng tài thương mại trước đây và Luật Trọng tài thương mại hiện nay của Việt Nam không áp dụng khi các bên chọn phương thức trọng tài.

9 Nguyễn Văn Lộc (2009), “Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Thương mại tại Việt Nam”, http://saga.vn/view.aspx?id139

Hội Luật gia Việt Nam (2009) đã trình bày một báo cáo tóm tắt về Luật Trọng tài của một số quốc gia trên thế giới trước Quốc hội Khoá XII Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về các quy định và thực tiễn trọng tài quốc tế, nhằm hỗ trợ việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam Thông tin chi tiết có thể được tìm thấy tại trang web www.vibonline.com.vn.

Tương tự, theo Khoản 3 Điều II Công ước New York 1958: “Tòa án của một

Khi một quốc gia thành viên nhận được đơn kiện liên quan đến vấn đề đã có thỏa thuận theo Điều này, họ sẽ đưa các bên ra Trọng tài theo yêu cầu của một bên, trừ khi Tòa án xác định rằng thỏa thuận đó không có hiệu lực, không hiệu quả hoặc không thể thực hiện được.

Theo Công ước New York 1958, Toà án không từ chối thẩm quyền khi thấy thoả thuận không có hiệu lực hoặc không thể thực hiện Tuy nhiên, Điều 2 Quyết định số 453 của Chủ tịch nước Việt Nam ngày 28/07/1995 quy định rằng Công ước chỉ áp dụng cho tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật thương mại Mọi giải thích về Công ước tại Toà án Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam Do đó, để loại trừ thẩm quyền của Toà án Việt Nam theo Công ước New York, tranh chấp phải là "tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thương mại" theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực của thoả thuận trọng tài và hậu quả pháp lí của thỏa thuận trọng tài

Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp dựa trên sự đồng thuận của các bên, thực hiện theo nguyên tắc bình đẳng và thỏa thuận Nguyên tắc này yêu cầu Nhà nước thừa nhận các thỏa thuận miễn là không vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội Đồng thời, pháp luật cần tạo điều kiện tối đa cho các bên trong việc thỏa thuận về phương thức giải quyết tranh chấp.

Thoả thuận trọng tài đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp qua con đường Trọng tài, thể hiện sự tôn trọng mong muốn và ý chí của các bên ký kết Pháp luật các nước, cũng như thông lệ quốc tế và pháp luật Việt Nam, đều công nhận vị trí quan trọng của thoả thuận trọng tài trong các quy định về trọng tài Đặc biệt, Luật Trọng tài Thương mại Việt Nam đã dành Chương 2 để quy định chi tiết về các vấn đề liên quan đến thoả thuận trọng tài.

Thoả thuận trọng tài cần được xem xét kỹ lưỡng về hiệu lực, với các yếu tố chính được phân thành bốn nhóm Đầu tiên là điều kiện về chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài, tiếp theo là điều kiện về hình thức của thoả thuận Thứ ba, nội dung của thoả thuận trọng tài cũng đóng vai trò quan trọng, và cuối cùng là các điều kiện khác có liên quan Những yếu tố này đều góp phần quyết định tính hợp pháp và hiệu quả của thoả thuận trọng tài.

Một thoả thuận trọng tài sẽ bị coi là vô hiệu nếu không đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp lý quy định Sự vô hiệu của thoả thuận này sẽ dẫn đến những hậu quả pháp lý nhất định.

Hậu quả pháp lý của thỏa thuận trọng tài vô hiệu phụ thuộc vào thời điểm phát hiện, dẫn đến các phương án khắc phục và giải quyết khác nhau Cụ thể, dựa vào thời điểm phát hiện, có thể xảy ra ba trường hợp pháp lý khác nhau.

Thoả thuận trọng tài được coi là vô hiệu nếu tranh chấp chưa xảy ra hoặc đã xảy ra nhưng chưa được cơ quan tài phán nào giải quyết Trong trường hợp này, nếu các bên vẫn muốn giải quyết tranh chấp tại trọng tài, họ có thể ký kết một thoả thuận mới để khắc phục những sai sót đã dẫn đến sự vô hiệu của thoả thuận trước đó, và thoả thuận mới sẽ được xem là hợp pháp Tuy nhiên, nếu một hoặc cả hai bên không thể thương thảo hoặc nguyên nhân khiến thoả thuận vô hiệu không thể khắc phục, Tòa án sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, vì thoả thuận trọng tài không tạo ra thẩm quyền cho Trọng tài Đây là trường hợp ngoại lệ theo Điều 6 LTTTM: "trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được."

Theo Khoản 1 Điều 43 LTTTM, khi trọng tài đã thụ lý giải quyết, thoả thuận trọng tài có thể bị phát hiện là vô hiệu Trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, Hội đồng Trọng tài cần kiểm tra hiệu lực của thoả thuận trọng tài và thẩm quyền của mình Nếu phát hiện thoả thuận vô hiệu, Hội đồng Trọng tài sẽ quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp và thông báo ngay cho các bên liên quan Trong trường hợp các bên không đồng ý với quyết định này, họ có quyền phản đối theo quy định tại Điều 43 LTTTM.

Trong vòng năm ngày làm việc kể từ khi nhận Quyết định của Hội đồng Trọng tài, các bên có quyền gửi đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền xem xét lại quyết định này theo Khoản 1 Điều 44 LTTTM Quyết định của Toà án trong trường hợp này sẽ là quyết định cuối cùng, theo Khoản 5 Điều 44 LTTTM.

Trước đây, PLTTTM không quy định rõ về hệ quả của việc đình chỉ giải quyết tranh chấp, đặc biệt là trong trường hợp đình chỉ do thoả thuận trọng tài vô hiệu Tuy nhiên, LTTTM đã bổ sung quy định này, cụ thể tại Khoản 3 Điều

Theo quy định tại Điều 59 LTTTM, khi có quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp, các bên không được quyền khởi kiện yêu cầu Trọng tài giải quyết vụ tranh chấp nếu vụ kiện mới không khác biệt gì so với vụ trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp Tuy nhiên, có một số trường hợp đặc biệt được quy định tại điểm c và điểm đ khoản 1 của điều này.

Khi vụ tranh chấp đã bị đình chỉ giải quyết, các bên không có quyền khởi kiện yêu cầu Trọng tài giải quyết lại vụ tranh chấp, ngoại trừ hai trường hợp quy định tại điểm c và điểm đ Khoản 1 Điều 59 Nếu tranh chấp bị đình chỉ do thoả thuận trọng tài vô hiệu, các bên có thể thiết lập một thoả thuận trọng tài mới hợp pháp để khắc phục sai sót trước đó Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng quy định này không khả thi nếu không có thoả thuận mới hợp pháp, vì Trọng tài sẽ không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nếu thoả thuận không hợp lệ Mặc dù vậy, tác giả không hoàn toàn đồng ý với quan điểm này, vì có nhiều yếu tố có thể làm cho một thoả thuận trọng tài bị vô hiệu, và trong trường hợp thoả thuận vô hiệu do lĩnh vực tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Trọng tài, quan điểm trên hoàn toàn hợp lý.

16 Điểm đ Khoản 1 Điều 59 Luật Trọng tài thương mại 2010:

Vụ tranh chấp dược đình chỉ giải quyết khi Tòa án xác định rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được theo quy định tại Khoản 6 Điều 44 của Luật này.

17 Tiến sỹ Đỗ Văn Đại và Tiến sỹ Trần Hoàng Hải (2011), “Pháp luật Việt Nam về Trọng tài thương mại”, NXB Chính trị quốc gia, tr.260

Trong trường hợp thoả thuận trọng tài bị vô hiệu do không đảm bảo điều kiện về mặt hình thức hoặc chủ thể, vẫn có khả năng khắc phục bằng cách lập một thoả thuận trọng tài mới đáp ứng đầy đủ các điều kiện này Việc thay đổi chủ thể có thẩm quyền ký kết thoả thuận trọng tài cũng là một giải pháp hợp pháp Khi có thoả thuận mới, các bên có quyền yêu cầu Trọng tài giải quyết lại vụ tranh chấp nếu cần thiết.

Theo Điều 59 LTTTM, các bên không được quyền yêu cầu Trọng tài giải quyết lại vụ tranh chấp mà không có quy định rõ ràng về quyền khởi kiện ra Toà án nếu không thể đạt được thoả thuận trọng tài mới Việc có hay không thoả thuận lại hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí tự nguyện của các bên; do đó, nếu không đạt được thoả thuận, họ vẫn có quyền khởi kiện ra Toà án có thẩm quyền Khoản 6 Điều 44 LTTTM quy định rằng khi Toà án xác định vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài hoặc khi không có thoả thuận trọng tài, các bên có quyền khởi kiện ra Toà án, và thời hiệu khởi kiện sẽ được xác định theo quy định pháp luật Thời gian từ khi nguyên đơn khởi kiện tại Trọng tài cho đến khi Toà án quyết định thụ lý vụ tranh chấp sẽ không tính vào thời hiệu khởi kiện.

Theo quy định hiện hành, pháp luật trọng tài cho phép các bên khởi kiện vụ tranh chấp ra Tòa án, miễn là họ tuân thủ thời hiệu khởi kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ “HIỆU LỰC CỦA THỎA THUẬN TRỌNG TÀI” VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. TS. Nguyễn Minh Chí- Chủ tịch Trung tâm Trọng tài quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2009), “Kỷ yếu hội thảo về dự thảo luật trọng tài thương mại tổ chức tại Hà Nội các ngày 24 và 25/09/2009”, Nhà pháp luật Việt- Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kỷ yếu hội thảo về dự thảo luật trọng tài thương mại tổ chức tại Hà Nội các ngày 24 và 25/09/2009”
Tác giả: TS. Nguyễn Minh Chí- Chủ tịch Trung tâm Trọng tài quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Năm: 2009
13. Bà Corinne Montineri, Chủ nhiệm Ban Thư ký Ủy ban của Liên hợp quốc về pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) (2009), “Kỷ yếu về hội thảo Dự thảo Luật trọng tài Thương mại”, Nhà pháp luật Việt- Pháp, Hà Nội, ngày 24- 25/09/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kỷ yếu về hội thảo Dự thảo Luật trọng tài Thương mại”
Tác giả: Bà Corinne Montineri, Chủ nhiệm Ban Thư ký Ủy ban của Liên hợp quốc về pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL)
Năm: 2009
14. TS Đỗ Văn Đại (2007), “Giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lí, số 06/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài ở Việt" Nam”
Tác giả: TS Đỗ Văn Đại
Năm: 2007
15. TS Đỗ Văn Đại (2008), “Làm thế nào để Trọng tài Việt Nam là chỗ dựa của doanh nghiệp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (Số 2(119)/2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm thế nào để Trọng tài Việt Nam là chỗ dựa của doanh nghiệp”," Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: TS Đỗ Văn Đại
Năm: 2008
16. TS Đỗ Văn Đại và TS Trần Hoàng Hải (2011), “Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại”, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại”
Tác giả: TS Đỗ Văn Đại và TS Trần Hoàng Hải
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
17. TS Đỗ Văn Đại và TS Trần Hoàng Hải (2010), “Tuyển tập các bản án, quyết định của Toà án Việt Nam về trọng tài thương mại”, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tuyển tập các bản án, quyết định của Toà án Việt Nam về trọng tài thương mại”
Tác giả: TS Đỗ Văn Đại và TS Trần Hoàng Hải
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2010
18. TS Đỗ Văn Đại và PGS-TS Mai Hồng Quỳ (2006), “Tư pháp quốc tế Việt Nam”, NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tư pháp quốc tế Việt Nam”
Tác giả: TS Đỗ Văn Đại và PGS-TS Mai Hồng Quỳ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
19. TS Đỗ Văn Đại và TS Trần Hoàng Hải (2010), “Về thẩm quyền của Toà án Việt Nam khi có thoả thuận chọn trọng tài nước ngoài”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (Số 12(272)/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về thẩm quyền của Toà án Việt Nam khi có thoả thuận chọn trọng tài nước ngoài”," Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: TS Đỗ Văn Đại và TS Trần Hoàng Hải
Năm: 2010
20. Hội Luật gia Việt Nam (2009), “Giới thiệu tóm tắt của Hội Luật gia Việt Nam trình Quốc hội Khoá XII về Luật Trọng tài của một số nước trên thế giới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu tóm tắt của Hội Luật gia Việt Nam trình Quốc hội Khoá XII về Luật Trọng tài của một số nước trên thế giới
Tác giả: Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2009
21. Hội Luật gia Việt Nam (2009), “Thuyết minh chi tiết dự thảo luật trọng tài thương mại”, Bản trình Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 30/04/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội Luật gia Việt Nam (2009), "“Thuyết minh chi tiết dự thảo luật trọng tài thương mại”
Tác giả: Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2009
22. Dương Đăng Huệ (2003), “Một điển hình của việc xây dựng pháp luật theo hướng hội nhập”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (Số 06/2003), tr.60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một điển hình của việc xây dựng pháp luật theo hướng hội nhập”," Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Dương Đăng Huệ
Năm: 2003
23. Trần Hữu Huỳnh (2000), “Một số vấn đề cơ bản về thỏa thuận trọng tài trong thương mại quốc tế”, Tạp chí Luật học, (số 01/2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về thỏa thuận trọng tài trong thương mại quốc tế”," Tạp chí Luật học
Tác giả: Trần Hữu Huỳnh
Năm: 2000
24. Jean-Ancel, Chánh tòa danh dự Tòa án tư pháp tối cao Cộng hòa Pháp (2009), “Khuynh hướng hiện nay của Pháp luật trọng tài của Cộng hoà Pháp và Quốc tế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khuynh hướng hiện nay của Pháp luật trọng tài của Cộng hoà Pháp và Quốc tế
Tác giả: Jean-Ancel, Chánh tòa danh dự Tòa án tư pháp tối cao Cộng hòa Pháp
Năm: 2009
25. Nguyễn Ngọc Lâm (2007), “Tư pháp quốc tế- phần 2: Một số chế định cơ bản, tố tụng Toà án và Trọng tài”, NXB Phương Đông, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tư pháp quốc tế- phần 2: Một số chế định cơ bản, tố tụng Toà án và Trọng tài”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lâm
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2007
26. Nguyễn Văn Lộc (2009), “Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Thương mại tại Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Lộc (2009), “Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Thương mại tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Lộc
Năm: 2009
27. Th.S Trần Minh Ngọc- Đại học Luật Hà Nội (2009), “Luật áp dụng đối với thỏa thuận trọng tài trong trọng tài thương mại quốc tế”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (Số 1(138)/2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật áp dụng đối với thỏa thuận trọng tài trong trọng tài thương mại quốc tế”," Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Th.S Trần Minh Ngọc- Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2009
28. Đặng Hoàng Oanh- Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp (2009), “Giải quyết tranh chấp thương mại tại Nhật Bản: Nét đặc thù của pháp lí nhân loại học Á đông”, Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Hoàng Oanh- Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp (2009), “Giải quyết tranh chấp thương mại tại Nhật Bản: Nét đặc thù của pháp lí nhân loại học Á đông”
Tác giả: Đặng Hoàng Oanh- Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp
Năm: 2009
29. Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam(VIAC) (2009), “Công ước New York 1958- Hướng tới sự giải thích thống nhất của Toà án” (Dịch từ nguyên bản tiếng Anh), NXB Pháp luật và Thuế Kluwer, Deventer/ Hà Lan- Antwep- Boston- London- Frankfurt Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Công ước New York 1958- Hướng tới sự giải thích thống nhất của Toà án” (Dịch từ nguyên bản tiếng Anh)
Tác giả: Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam(VIAC)
Nhà XB: NXB Pháp luật và Thuế Kluwer
Năm: 2009
30. Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam, Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) dịch từ nguyên bản của Alan Redfern, Martin Hunter, Nicgel Blackaby & Constantine Partasides, Law and Practice of International Commercial Arbitration, “Pháp luật và thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp luật và thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế
31. Lê Thi Bích Thọ (2004), “Hợp đồng kinh tế vô hiệu”, NXB: Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thi Bích Thọ (2004), "“Hợp đồng kinh tế vô hiệu”
Tác giả: Lê Thi Bích Thọ
Nhà XB: NXB: Chính trị quốc gia
Năm: 2004

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w