TỊCH THU SUNG QUỸ NHÀ NƯỚC VẬT CHỨNG, TÀI SẢN TẠM GIỮ, TIÊU HUỶ TÀI SẢN
Tịch thu sung quỹ nhà nước vật chứng, tài sản tạm giữ
Thi hành xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ trong thi hành án dân sự là một hình thức quan trọng mà cơ quan thi hành án thực hiện So với các biện pháp thi hành án khác như kê biên và đấu giá, việc xử lý này chủ yếu liên quan đến các bản án và quyết định hình sự Theo Điều 89 BLTTHS, vật chứng bao gồm những vật dụng được sử dụng làm công cụ hoặc phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, và những tài sản có giá trị chứng minh tội phạm cũng như người phạm tội, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án.
Theo Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử có quyền quyết định xử lý vật chứng trong vụ án đã đưa ra xét xử Cụ thể, vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội hoặc vật cấm tàng trữ sẽ bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy Đối với vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản thu được từ hành vi phạm tội, chúng cũng sẽ bị tịch thu và nộp vào ngân sách nhà nước Ngoài ra, những vật chứng không có giá trị hoặc không thể sử dụng sẽ bị tịch thu và tiêu hủy.
Trong quá trình xét xử, cơ quan có thẩm quyền có thể trả lại tài sản đã thu giữ cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, trừ vật chứng Nếu vật chứng không ảnh hưởng đến vụ án, có thể trả lại ngay Đối với vật chứng dễ hỏng hoặc khó bảo quản, có thể bán hoặc tiêu hủy theo quy định pháp luật Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai sẽ được giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành xử lý sau khi có kết luận giám định Trong trường hợp tranh chấp quyền sở hữu vật chứng, sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Theo Khoản 2 Điều 120 BLTTHS, khi người bị tạm giữ hoặc tạm giam có nhà ở hoặc tài sản không có người bảo quản, cơ quan ra quyết định tạm giữ phải thực hiện các biện pháp bảo quản Điều 198 của Bộ luật quy định rằng trong quá trình khám xét, Điều tra viên có quyền tạm giữ đồ vật là vật chứng và tài liệu liên quan đến vụ án Đối với những đồ vật cấm tàng trữ, cần thu giữ và chuyển ngay cho cơ quan quản lý có thẩm quyền Nếu cần niêm phong, việc này phải được thực hiện trước mặt chủ sở hữu, người quản lý, người chứng kiến, và đại diện chính quyền địa phương.
Theo Luật THADS, vật chứng và tài sản tạm giữ trong các bản án hình sự phải được chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự khi Tòa án chuyển giao bản án Việc giao nhận diễn ra tại kho của cơ quan thi hành án, với bên giao có trách nhiệm vận chuyển tài sản Nếu vật chứng không thể di dời, địa điểm giao nhận sẽ là nơi đang lưu giữ tài sản Quá trình tiếp nhận tài sản yêu cầu sự tham gia của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hoặc người được ủy quyền, cùng với thủ kho và kế toán.
Thủ kho của cơ quan thi hành án có trách nhiệm tiếp nhận và kiểm tra hiện trạng vật chứng, tài sản tạm giữ trước khi nhập kho Việc giao nhận vật chứng và tài sản tạm giữ cần được lập thành văn bản Nếu có sự thay đổi về vật chứng hoặc tài sản tạm giữ so với biên bản thu giữ ban đầu, Thủ trưởng cơ quan giao và nhận phải kiểm tra và kết luận rõ ràng Cơ quan thi hành án dân sự chỉ được phép nhận khi đã có sự làm rõ từ các cơ quan có thẩm quyền về những thay đổi đó.
Trong trường hợp bàn giao vật chứng và tài sản tạm giữ dưới dạng gói niêm phong, cơ quan thi hành án dân sự chỉ tiếp nhận khi có kết quả giám định rõ ràng về số lượng, chủng loại và chất lượng của từng loại vật chứng trong gói đó từ cơ quan có thẩm quyền Đối với các chất ma túy, việc tiếp nhận cũng chỉ được thực hiện dưới hình thức gói niêm phong kèm theo kết luận giám định từ cơ quan có thẩm quyền.
1 Điều 122 Luật Thi hành án dân sự 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014
2 Điều 123 Luật Thi hành án dân sự 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014
Việc chuyển giao vật chứng và tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu để sung quỹ nhà nước được thực hiện tại kho của cơ quan thi hành án dân sự hoặc tại địa điểm đang giữ vật chứng Quy trình này diễn ra sau khi thi hành án hoàn tất tại thời điểm tiếp nhận vật chứng và tài sản.
Khi cơ quan tài chính có thẩm quyền ủy quyền xử lý tài sản bị tuyên tịch thu, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp sẽ tiến hành xử lý và thực hiện thủ tục sung quỹ nhà nước, sau khi đã trừ các chi phí xử lý theo quy định pháp luật Điều này nhằm xác lập quyền sở hữu của Nhà nước đối với tài sản và quản lý, xử lý tài sản đã được xác lập quyền sở hữu.
Theo quy định hiện hành, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm tiếp nhận và chuyển giao vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước từ cơ quan điều tra Sau khi tiếp nhận, cơ quan này sẽ chuyển giao tài sản cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp vật chứng và tài sản tạm giữ bị mất, hư hỏng hoặc không còn giá trị, cần xác định rõ trách nhiệm và phối hợp với các cơ quan liên quan để điều tra Tùy thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm, sẽ xem xét xử lý kỷ luật hoặc đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân vi phạm Đối với tài sản bị hư hỏng, không còn giá trị sử dụng, cần thực hiện tiêu hủy Nếu tài sản bị biến chất nguy hiểm, cần phối hợp với các cơ quan chuyên môn để thống nhất phương án xử lý, đảm bảo an toàn cho con người và môi trường.
Thực tiễn thi hành việc tịch thu và sung quỹ nhà nước đối với vật chứng và tài sản tạm giữ đã chỉ ra những hạn chế rõ rệt, cả về mặt pháp luật lẫn trong quá trình thực hiện.
Bảo quản và bán tài sản bị tịch thu, sung quỹ nhà nước hiện đang gặp khó khăn do thiếu kho bãi từ cơ quan tài chính Việc này dẫn đến tình trạng cơ quan tài chính phải thuê kho từ cơ quan thi hành án hoặc các đơn vị khác để lưu giữ vật chứng và tài sản tạm giữ, gây tăng chi phí và khó khăn trong quản lý.
3 Điều 32 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự
Theo Điều 14 Thông tư 01/2017/TT-BTP ngày 23 tháng 01 năm 2017, việc quản lý kho vật chứng và tài sản tạm giữ trong thi hành án dân sự phải đảm bảo chi phí bảo quản và vận chuyển không vượt quá số tiền thu được từ việc xử lý, hóa giá và bán tài sản Tuy nhiên, thực tế cho thấy chi phí xử lý có thể cao hơn khoản thu từ việc bán tài sản, điều này đặt ra thách thức cho công tác quản lý tài sản tạm giữ.
Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2013/HSST ngày 23/8/2013 của Tòa án nhân dân huyện CL, bị cáo Nguyễn Văn Thiệu bị kết án về tội trộm cắp tài sản, với tang vật là một chiếc xe máy Honda, được tuyên tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước Ngày 01/10/2013, Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL ra Quyết định thi hành án số 30/QĐ-THADS, và vào ngày 10/10/2013, thông báo cho Phòng Tài chính huyện CL nhận tang vật để hóa giá Tuy nhiên, do Phòng Tài chính không có kho vật chứng, nên tang vật được gửi lại tại kho của cơ quan thi hành án Đến ngày 15/11/2013, khi Phòng Tài chính xin nhận lại tài sản để bán hóa giá, chiếc xe máy đã bị cháy, chỉ còn lại gần như một đống sắt, và chỉ bán được 300.000 đồng Sau khi trừ chi phí vận chuyển và chi phí cho hội đồng tham gia hóa giá, không còn đủ tiền để chi trả cho việc bảo quản vật chứng trong thời gian từ 30/10/2013 đến 15/11/2013.
HOÀN TRẢ TIỀN, TÀI SẢN KÊ BIÊN, TẠM GIỮ CHO ĐƯƠNG SỰ
Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho đương sự
Theo Điều 126 Luật THADS, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền ra quyết định trả lại tiền cho đương sự khi bản án hoặc quyết định yêu cầu điều này Trong trường hợp người nhận tiền cũng là người phải thi hành nghĩa vụ nhưng không tự nguyện thực hiện, Chấp hành viên sẽ xử lý số tiền để thi hành án Sau khi có quyết định trả lại tiền, Chấp hành viên sẽ thông báo cho đương sự về thời gian và địa điểm nhận tiền Nếu sau 15 ngày kể từ ngày thông báo, đương sự không đến nhận tiền, Chấp hành viên sẽ gửi số tiền đó vào tài khoản tiết kiệm không kỳ hạn và thông báo cho đương sự biết.
Sau thời hạn 03 tháng kể từ ngày thông báo, nếu đương sự không đến nhận tài sản mà không có lý do chính đáng, Chấp hành viên sẽ xử lý tài sản theo quy định tại các điều 98, 99 và 101 của Luật THADS Số tiền thu được sẽ được gửi theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn và Chấp hành viên cũng sẽ thông báo cho đương sự về việc này.
Sau 5 năm kể từ khi bản án có hiệu lực, nếu đương sự không đến nhận số tiền gửi tiết kiệm mà không có lý do chính đáng, cơ quan thi hành án dân sự sẽ tiến hành thủ tục sung quỹ nhà nước Thời hạn liên quan đến giấy tờ tài sản và nhân thân của đương sự cũng sẽ hết hiệu lực.
Sau 01 năm kể từ ngày thông báo, nếu đương sự không đến nhận, Chấp hành viên sẽ chuyển giao tài liệu cho cơ quan ban hành để xử lý theo quy định Đối với tiền Việt Nam và ngoại tệ bị hư hỏng do lỗi của cơ quan tố tụng hoặc thi hành án mà đương sự từ chối nhận, cơ quan thi hành án dân sự sẽ đề nghị Ngân hàng Nhà nước đổi tiền mới tương đương Trong trường hợp tài sản hư hỏng không do lỗi của cơ quan, cơ quan thi hành án sẽ giao cho Ngân hàng Nhà nước xử lý theo quy định pháp luật Việc trả lại tiền tạm ứng án phí sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 126 Luật THADS.
Trong thực tiễn thi hành pháp luật, việc hoàn trả tiền và tài sản tạm giữ cho đương sự đang gặp một số bất cập cần được bổ sung và hoàn thiện để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.
Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Điều 218 Bộ Luật TTDS 2015, đương sự không phải chịu án phí hoặc được hoàn lại tạm ứng án phí khi khởi kiện có quyền nhận lại số tiền đã nộp Cơ quan thi hành án và Chấp hành viên có trách nhiệm hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho đương sự trong trường hợp này.
Mặc dù mức tiền tạm ứng án phí thấp nhất chỉ là 75.000 đồng, nhiều đương sự không đến cơ quan thi hành án để nhận Nguyên nhân có thể do số tiền không đáng kể hoặc chi phí nhận tiền cao hơn số tiền được nhận Thêm vào đó, việc thay đổi địa chỉ cư trú của đương sự khiến cơ quan thi hành án và chấp hành viên gặp khó khăn trong việc liên lạc, dẫn đến việc nhiều lần tống đạt văn bản nhưng không thành công Hệ quả là án tồn đọng kéo dài nhiều năm do không thể thi hành.
Theo quy định tại khoản 2, 5 Điều 49 Nghị định 62/2015/NĐ-CP, việc xử lý tiền tạm ứng án phí được thực hiện như sau: cơ quan thi hành án dân sự sẽ thông báo bằng văn bản yêu cầu cá nhân được nhận đến nhận khoản tiền chi trả.
Sau 15 ngày kể từ ngày thông báo, nếu người nhận tiền không đến nhận và họ ở xa trụ sở cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan này sẽ lập phiếu chi và gửi tiền qua bưu điện nếu đã xác định được địa chỉ rõ ràng và số tiền nhỏ hơn 01 tháng lương cơ sở Nếu bưu điện trả lại tiền do không có người nhận, cơ quan thi hành án dân sự sẽ xử lý theo quy định tại Khoản 5 Điều 49 Nghị định 62/2015/NĐ-CP.
Cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc gửi tiền vào ngân hàng hoặc bảo quản tài sản thông qua hình thức thuê bảo quản, theo quy định tại Khoản 2 Điều 126 Luật Thi hành án dân sự Điều này áp dụng trong trường hợp chưa xác định được địa chỉ của người nhận hoặc khi khoản tiền đã hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày thông báo, trừ những trường hợp đặc biệt khác.
Trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, các bên đương sự có thể thỏa thuận ly hôn và giải quyết vụ án thông qua hòa giải trước khi phiên tòa diễn ra Theo Công văn số 72/TANDTC-PC ngày 11 tháng 04 năm 2017 của Tòa án nhân dân tối cao, mỗi bên sẽ chịu 50% mức án phí, tức là 25% cho mỗi bên, trong trường hợp người được thi hành án không đến nhận.
Sau khi hoàn tất việc gửi tiền hoặc tài sản, nếu người nhận đến nhận, cơ quan thi hành án dân sự sẽ tiến hành chi trả số tiền hoặc tài sản đó cho họ Lãi suất từ tiền gửi sẽ được cộng vào số tiền gửi ban đầu và sẽ được trả cho người nhận cùng với số tiền gốc.
Sau thời hạn 05 năm kể từ ngày bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật, hoặc 01 năm kể từ ngày thông báo nếu có tiền thu được sau thời điểm này mà người được thi hành án không đến nhận, cơ quan thi hành án dân sự sẽ tiến hành chuyển nộp số tiền, tài sản đó vào Ngân sách Nhà nước.
Khoản tiền và tài sản đã thu sẽ bị hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành án để xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Cước phí chuyển tiền qua bưu điện, chuyển khoản và thuê bảo quản tài sản sẽ do người nhận tiền, tài sản chịu trách nhiệm theo quy định tại Điều 49 Nghị định 62/2015/NĐ-CP.
Sau khi quyết định trả lại tiền được ban hành, Chấp hành viên sẽ thông báo cho đương sự về thời gian và địa điểm nhận tiền Nếu đương sự không đến nhận trong vòng 15 ngày, số tiền sẽ được gửi vào tài khoản tiết kiệm không kỳ hạn và đương sự sẽ được thông báo Nếu sau 3 tháng mà đương sự vẫn không nhận tài sản mà không có lý do chính đáng, Chấp hành viên sẽ xử lý tài sản theo quy định tại các Điều 98, 99 và 101 của Luật Thi hành án dân sự và gửi số tiền thu được vào tài khoản tiết kiệm không kỳ hạn Sau 5 năm kể từ khi bản án có hiệu lực mà đương sự vẫn không nhận tiền, cơ quan thi hành án dân sự sẽ tiến hành thủ tục sung quỹ nhà nước Quy định này bao gồm nhiều thủ tục mà Chấp hành viên phải thực hiện, trong khi đương sự không đến nhận, dẫn đến việc hoàn tất vụ án chỉ sau 5 năm.