Khái niệm kĩ thuật dạy học
Trong những năm gần đây, khái niệm KTDH (Kỹ thuật Dạy học) đã được các nhà khoa học chú trọng bên cạnh phương pháp dạy học truyền thống Theo Từ điển Giáo dục học, KTDH được định nghĩa là tổng thể các phương pháp sư phạm mà giáo viên sử dụng để truyền đạt kiến thức và phát triển nhân cách học sinh Cuốn “Phương pháp, phương tiện, kĩ thuật và hình thức tổ chức dạy học trong nhà trường” mô tả KTDH là cách thức mà giáo viên tổ chức và xử lý các bước trong quy trình dạy học Bernd Meier cũng nhấn mạnh rằng KTDH bao gồm những biện pháp và hành động nhỏ của giáo viên và học sinh trong các tình huống dạy học nhằm điều khiển quá trình giáo dục hiệu quả.
Kinh tế dạy học (KTDH) là những hành động và thao tác cụ thể của giáo viên và học sinh trong các tình huống hoạt động nhận thức (HĐNT) để đạt được mục tiêu dạy học.
Mặt khác, mỗi PPDH luôn cấu thành từ 3 thành phần:
Quan điểm dạy học là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, bao gồm sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học, cơ sở lý thuyết của lý luận dạy học, điều kiện dạy học và tổ chức, cùng với vai trò của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học Đây là những định hướng chiến lược và cương lĩnh, tạo thành mô hình lý thuyết cho phương pháp dạy học Ví dụ, các phương pháp như dạy giải thích minh họa, dạy làm mẫu – bắt chước, và dạy định hướng học sinh đều thể hiện rõ quan điểm này.
Thứ hai: Phương pháp dạy học cụ thể là những hình thức, cách thức hành động của
GV và HS cần hướng tới việc đạt được các mục tiêu dạy học cụ thể, phù hợp với nội dung và điều kiện giảng dạy Các phương pháp như thuyết trình, đàm thoại và làm việc nhóm sẽ được áp dụng để tối ưu hóa quá trình học tập.
Thứ ba: Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của của GV và
HS trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học
Kỹ thuật dạy học (KTDH) như KT động não, KT khăn phủ bàn, và KT sơ đồ tư duy là những cấp độ quan trọng trong phương pháp dạy học (PPDH) Để nâng cao chất lượng dạy học, giáo viên cần nắm vững các PPDH cũng như các KTDH tương thích với từng phương pháp.
Vai trò của kĩ thuật dạy học trong dạy học vật lí
Kỹ thuật dạy học (KTDH) là một cấp độ quan trọng của phương pháp dạy học (PPDH), thể hiện tính tích cực và ảnh hưởng đến người học cùng quá trình học tập KTDH đóng vai trò thiết yếu trong việc tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh, bao gồm việc tăng tính hấp dẫn và kích thích sự tham gia tích cực, từ đó nâng cao hứng thú học tập Nó cũng tăng cường trách nhiệm cá nhân và hiệu quả học tập, giúp học sinh cải thiện độ chăm chỉ và nhịp độ nghiên cứu tài liệu Cuối cùng, KTDH tạo điều kiện cho học sinh tự lực chiếm lĩnh tri thức và phát triển kỹ năng, kỹ xảo cần thiết.
Việc giảm thời gian diễn giải và mô tả, đồng thời gắn bài học với thực tế đời sống là rất quan trọng trong giáo dục Sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại và thí nghiệm sẽ giúp hình thành nhân cách, thế giới quan và nhân sinh quan cho cả giáo viên và học sinh Tuy nhiên, giáo viên cần lựa chọn và vận dụng các kỹ thuật dạy học phù hợp với từng đơn vị kiến thức, loại bài dạy và năng lực tổ chức của mình Kết hợp hợp lý các kỹ thuật dạy học khác nhau sẽ nâng cao hiệu quả giảng dạy, tạo niềm tin cho học sinh trong quá trình tiếp thu kiến thức và phát triển kỹ năng học tập.
Một số các kỹ thuật dạy học
Nhóm kỹ thuật dạy bài nghiên cứu kiến thức mới
Mục đích chính của nghiên cứu kiến thức mới là xây dựng và xác định các đặc tính cũng như mối quan hệ trong đối tượng, đồng thời hiểu rõ nội dung cơ bản của kiến thức đó Để kích thích sự hứng thú và nhu cầu tìm tòi kiến thức mới cho học sinh, giáo viên cần áp dụng một số kỹ thuật dạy học như kỹ thuật động não, động não viết, động não công khai, kỹ thuật khăn phủ bàn, kỹ thuật bể cá và kỹ thuật mảnh ghép.
Kỹ thuật động não là một phương pháp sáng tạo nhằm khuyến khích các thành viên trong thảo luận đưa ra những ý tưởng mới mẻ và độc đáo về một chủ đề cụ thể Trong quá trình này, các thành viên được khuyến khích tham gia tích cực mà không bị giới hạn bởi bất kỳ ý tưởng nào Không có sự đánh giá hay phê phán trong giai đoạn thu thập ý tưởng, điều này giúp tăng cường số lượng ý tưởng và khuyến khích sự tưởng tượng cũng như liên tưởng tự do.
Người điều phối dẫn nhập vào chủ đề và xác định rõ một vấn đề; đánh giá, nhận xét Mục đích là huy động nhiều ý kiến tiếp nối nhau;
Kết thúc việc đưa ra ý kiến;
• Lựa chọn sơ bộ các suy nghĩ, chẳng hạn theo khả năng ứng dụng
- Có thể ứng dụng trực tiếp.
- Có thể ứng dụng nhưng cần nghiên cứu thêm.
- Không có khả năng ứng dụng.
• Đánh giá những ý kiến đó lựa chọn
• Rút ra kết luận hành động
Kỹ thuật này được áp dụng trong toàn bộ quá trình dạy học, từ việc nghiên cứu bài mới cho đến luyện tập, ôn tập và củng cố kiến thức.
Ví dụ minh họa: Khi tổ chức dạy học: Định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt (Vật lí 10 NC)
Giáo viên thường sử dụng phương pháp thực nghiệm để tổ chức các hoạt động nhận thức cho học sinh Trong giai đoạn xây dựng giả thuyết, giáo viên có thể áp dụng kỹ thuật động não nhằm thúc đẩy hoạt động nhận thức của học sinh.
Hoạt động của GV Hoạt động của HS
Khi áp suất p tăng, thể tích V của một lượng khí nhất định sẽ giảm, và ngược lại, khi áp suất p giảm, thể tích V sẽ tăng Điều này cho thấy mối liên hệ nghịch đảo giữa áp suất và thể tích trong một hệ khí ở nhiệt độ không đổi.
- GV tổ chức cho HS trả lời
Yêu cầu HS đưa ra những ý kiến của mình; lưu ý không trùng lặp các ý kiến đã có.
Kết thúc việc đưa ra ý kiến;
• Lựa chọn sơ bộ các suy nghĩ
Theo kết quả của giai đoạn điều kiện khởi đầu thì ý kiến nào bị loại bỏ?
• Đánh giá những ý kiến đó lựa chọn
Như vậy, V giảm thì p tăng và ngược lại nên p có thể tỉ lệ nghịch với V hoặc V i (với i=2, 3, 4, )
Để xác định mối liên hệ giữa áp suất (p) và thể tích (V) của một lượng khí ở nhiệt độ không đổi, cần tiến hành thí nghiệm kiểm chứng để rút ra kết luận chính xác về hành động này.
- Suy nghĩ đưa ra ý kiến của mình và ghi lại ý kiến của các bạn.
+ YK 1: p tỉ lệ nghịch với V + YK 2: p tỉ lệ thuận với V + YK 3: p tỉ lệ nghịch với V 2 + YK 4: p tỉ lệ thuận với V 2
Ta đã biết khi V giảm thì p tăng và ngược lại nên YK2, YK4 không phù hợp
Theo dõi và ghi chép
Kĩ thuật động não viết
Kĩ thuật động não viết là một phương pháp mà các thành viên tham gia trình bày ý kiến của mình bằng cách viết trên giấy về một chủ đề cụ thể Trong quá trình này, học sinh giao tiếp với nhau thông qua chữ viết, sử dụng những tờ giấy chung có ghi tiêu đề hoặc chủ đề ở giữa Mỗi học sinh lần lượt ghi lại suy nghĩ của mình trong im lặng, đồng thời theo dõi những gì bạn bè viết Qua đó, họ cùng nhau tạo ra một bài viết chung, giúp hình thành kiến thức một cách trọn vẹn.
Đặt trên bàn 1 tờ giấy để ghi các ý tưởng, đề xuất của các thành viên;
Động não viết: mỗi một thành viên viết những ý nghĩ của mình trên các tờ giấy đó;
Có thể tham khảo các ý kiến khác đã ghi trên giấy của các thành viên khác để tiếp tục phát triển ý nghĩ;
Sau khi thu thập xong ý tưởng thì đánh giá các ý tưởng trong nhóm và đưa ra kết luận chung của nhóm.
Kỹ thuật động não là một phương pháp hiệu quả để nghiên cứu bài mới hoặc ôn tập, củng cố kiến thức Phương pháp này thường được áp dụng trong các hoạt động nhóm, nhằm huy động tối đa tư duy của tất cả các thành viên, tạo ra nhiều ý tưởng và giải pháp sáng tạo.
Ví dụ minh họa: Tổ chức tìm hiểu khái niệm trạng thái của một lượng khí, GV có thể vận dụng KT để tổ chức thảo luận nhóm
Hoạt động của GV Hoạt động của HS
Trạng thái của một lượng khí được xác định bằng những thông số trạng thái nào?
- GV tổ chức trả lời câu hỏi trên:
Phân thư kí của nhóm
+ Gv phát cho mỗi nhóm một tờ giấy và yêu cầu:
Mỗi thành viên trong nhóm viết ra ý kiến của mình trên tờ giấy đó(có thể tham khảo các ý kiến trước);
Sau khi các thành viên viết xong thì
- HS Làm theo yêu cầu của giáo viên
Phiếu hoạt động của kỹ thuật động não do nhóm trưởng điều khiển giúp các thành viên suy nghĩ và kết hợp các ý kiến để đưa ra kết luận chung cho nhóm.
Giáo viên thu thập kết quả từ 1 đến 3 nhóm, sau đó sử dụng đèn chiếu để trình chiếu các phiếu lên màn hình Việc này nhằm tổ chức thảo luận cho cả lớp, từ đó giúp các học sinh tiếp thu kiến thức mới một cách hiệu quả.
Trạng thái của một lượng khí được xác định bởi ba thông số chính: thể tích (V), áp suất (p) và nhiệt độ tuyệt đối (T) GV đã kết luận rằng HS cần quan sát và suy nghĩ để đưa ra ý kiến về mối liên hệ giữa các thông số này.
Kĩ thuật động não không công khai
Kĩ thuật động não không công khai là một phương pháp động não viết, trong đó mỗi thành viên trong nhóm ghi lại những ý tưởng của mình về cách giải quyết vấn đề mà không công khai ngay Sau khi tất cả các ý kiến được thu thập, nhóm sẽ tiến hành thảo luận để phát triển và mở rộng những ý tưởng đó.
Phát mỗi HS 1 tờ giấy để ghi các ý tưởng, đề xuất của mình;
Mỗi một HS viết những ý nghĩ của mình trên các tờ giấy đó;
Sau khi thu thập xong ý tưởng thì đánh giá các ý tưởng trong nhóm và đưa ra kết luận chung của nhóm.
Kỹ thuật động não không công khai được áp dụng trong việc nghiên cứu và ôn tập, nhằm kích thích tư duy của từng học sinh mà không phụ thuộc vào ý kiến của bạn bè xung quanh.
Khi tổ chức dạy học về Định luật Sác-lơ trong môn Vật lí 10 NC, giáo viên thường chọn phương pháp thực nghiệm để thúc đẩy hoạt động nhận thức của học sinh Trong giai đoạn xây dựng giả thuyết, giáo viên có thể áp dụng kỹ thuật động não không công khai để hỗ trợ quá trình nhận thức cho học sinh.
Hoạt động của GV Hoạt động của HS
- GV đặt câu hỏi: Hãy dự đoán mối liên hệ giữa - HS nghe câu hỏi.
Hình 1.4 Phiếu hoạt động của kĩ thuật động không công khai áp suất p với nhiệt độ khi thể tích không đổi của một lượng khí nhất định?
- GV tổ chức cho HS trả lời
Phát cho mỗi HS một tờ giấy
Yêu cầu HS viết những ý kiến của mình; lưu ý không tham khảo các ý kiến của người khác
Thu 5 đến 6 kết quả của HS và tổ hợp ý kiến lên bảng.
Tổ chức cho cả lớp thảo luận và rút ra kết quả
- Suy nghĩ viết ý kiến của mình vào giấy.
- Suy nghĩ, tích cực đưa ra ý kiến và ghi lại kết quả: Đối với một lượng khí, khi thể tích không đổi thì p tỉ lệ thuận với T i (với i=1,2,3, )
Kĩ thuật khăn phủ bàn
Kỹ thuật khăn phủ bàn là một phương pháp dạy học nhằm khuyến khích sự tham gia và tư duy của tất cả các thành viên trong nhóm Phương pháp này được thực hiện theo ý tưởng tương tự như khăn phủ bàn, giúp tạo ra một không gian học tập tương tác và sáng tạo.
Mỗi người ngồi vào vị trí như hình vẽ minh họa
Tập trung vào câu hỏi.
Viết vào ô mang số của bạn câu trả lời hoặc ý kiến của bạn (về một chủ đề ) Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút
Khi mọi người đều đã xong, chia sẻ và thảo luận các câu trả lời
Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn
Nhóm kĩ thuật dạy bài luyện tập, củng cố kiến thức
Mục đích của bài luyện tập là giúp học sinh hiểu sâu hơn về kiến thức đã học và rèn luyện kỹ năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn Các bài học thường diễn ra dưới hình thức giải bài tập vật lý Để đạt được mục tiêu này, giáo viên không chỉ sử dụng các phương pháp tư duy như động não mà còn áp dụng nhiều kỹ thuật dạy học khác.
Kĩ thuật sơ đồ tư duy
Kỹ thuật sơ đồ tư duy là một phương pháp trực quan giúp trình bày rõ ràng các ý tưởng, kế hoạch hoặc kết quả công việc của cá nhân hoặc nhóm về một chủ đề cụ thể Sơ đồ tư duy có thể được thực hiện trên nhiều nền tảng như giấy, bảng trắng, bảng hoặc máy tính.
Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề.
Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết
Nhánh và chữ viết trong sơ đồ tư duy được thể hiện bằng chữ in hoa cùng một màu, kết nối chặt chẽ với chủ đề trung tâm Chỉ những thuật ngữ quan trọng được sử dụng để ghi chú trên các nhánh, giúp tăng tính rõ ràng và dễ hiểu cho nội dung.
Từ mỗi nhánh chính, hãy phát triển các nhánh phụ để bổ sung nội dung liên quan đến nhánh chính đó Nội dung trên các nhánh phụ nên được viết bằng chữ in thường để đảm bảo tính nhất quán và dễ đọc.
Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo.
Phạm vi vận dụng: Kĩ thuật sơ đồ tư duy thường được vận dụng khi tổ chức ôn tập hoặc củng cố bài hoặc trong dạy bài tập.
Ví dụ minh họa: Khi củng cố bài Định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt (Vật lí 10 nâng cao),
GV có thể vận dụng KT sơ đồ tư duy để tổ chức hoạt động dạy học
GV chia lớp thành các nhóm hoạt động, với mỗi bàn đại diện cho một nhóm, và người ngồi ở mép bàn bên trái sẽ là nhóm trưởng Mỗi nhóm nhận một tờ giấy ghi tên bài học ở giữa, sau đó GV yêu cầu học sinh gấp toàn bộ sách vở và các tài liệu liên quan.
+ Giới thiệu KT sơ đồ tư duy
+ Vận dụng KT sơ đồ tư duy để tóm tắt kiến thức của bài vừa học.
- HS làm theo yêu cầu của GV dưới sự chỉ đạo của nhóm trưởng.
- GV thu 2 đến 3 kết quả của các nhóm và tổ chức cho toàn lớp thảo luận
- HS tập trung thảo luận và ghi chép kết luận.
Kỹ thuật "ổ bi" là một phương pháp thảo luận nhóm hiệu quả, trong đó học sinh được chia thành hai nhóm ngồi đối diện nhau theo hai vòng tròn đồng tâm Kỹ thuật này tạo điều kiện cho mỗi học sinh có cơ hội giao tiếp và trao đổi ý kiến với từng bạn trong nhóm đối diện, từ đó nâng cao khả năng tương tác và học hỏi lẫn nhau.
Chia thành 2 nhóm hoạt động (một nhóm ngồi vòng ngoài, một nhóm ngồi vòng trong theo
Khi thảo luận, mỗi HS ở vòng trong sẽ trao đổi với HS đối diện ở vòng ngoài, đây là dạng đặc biệt của phương pháp luyện tập đối tác;
Sau một thời gian ngắn, học sinh ở vòng ngoài sẽ ngồi yên, trong khi học sinh ở vòng trong sẽ di chuyển theo chiều kim đồng hồ Cách sắp xếp này giống như vòng bi quay, giúp hình thành các nhóm đối tác mới một cách liên tục.
Kĩ thuật ổ bi được áp dụng trong quá trình dạy học nhằm tổ chức hoạt động nhóm, giúp học sinh ôn tập và củng cố kiến thức, cũng như thực hành bài tập vật lí một cách hiệu quả.
Trong tiết dạy bài tập vật lý, giáo viên áp dụng phương pháp này để hướng dẫn học sinh phân tích hiện tượng trong bài tập và trình bày phương pháp giải quyết.
Khái niệm: Kĩ thuật "3 lần 3" là một kĩ thuật lấy thông tin phản hồi nhằm huy động sự tham gia tích cực của HS.
HS được yêu cầu cho ý kiến phản hồi về một vấn đề nào đó (nội dung buổi thảo luận, phương pháp tiến hành thảo luận )
Mỗi người cần viết ra: 3 điều tốt; 3 điều chưa tốt; đề nghị cải tiến
Sau khi thu thập ý kiến thìGV phân nhóm dựa vào các điều tốt (những HS có cùng một điều tốt thành một nhóm)
Tổ chức cho lớp thảo luận về các ý kiến phản hồi:
+ Đại diện các nhóm giải thích những vấn đề chưa tốt và cần cải tiến
+ GV quan sát điều khiển quá trình thảo luận.
Kỹ thuật “3 lần 3” được áp dụng để giúp học sinh ôn tập chương học hoặc củng cố kiến thức sau mỗi tiết dạy Tuy nhiên, trong thực tế, số lượng điểm tốt, điểm chưa tốt hoặc đề xuất cải tiến có thể không chỉ giới hạn ở con số 3, mà có thể nhiều hơn hoặc ít hơn tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể.
Khi củng cố bài "Định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt" trong chương trình Vật lí 10 NC, giáo viên yêu cầu học sinh ghi lại ba loại kiến thức: những kiến thức mà em nắm vững nhất, những kiến thức còn mơ màng và những kiến thức chưa nắm được Việc này giúp học sinh tự đánh giá khả năng hiểu biết của mình và xác định những phần cần cải thiện.
Ví dụ GV thu được ý kiến phản hồi như bảng sau:
Kiến thức nắm được tốt nhất Kiến thức
Nắm còn mơ màng Kiến thức chưa nắm được
Anh - Quá trình đẳng nhiệt
- Nội dung định luật Bôi-lơ
- Biểu thức của định luật
Bôi-lơ – Ma-ri-ốt
- Đường đẳng nhiệt - Giải thích vì sao đường đẳng nhiệt trong hệ OPV càng xa O thì có nhiệt độ càng lớn?
Bông - Quá trình đẳng nhiệt
- Nội dung định luật Bôi-lơ
Vận dụng biểu thức Định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt vào
- Đường đẳng nhiệt giải bài tập
Hồng - Nội dung định luật Bôi-lơ
Nam - Quá trình đẳng nhiệt
- Nội dung định luật Bôi-lơ
- Giải thích vì sao đường đẳng nhiệt trong hệ OPV càng xa O thì có nhiệt độ càng lớn?
- GV Phân nhóm hoạt động
Nhóm 1 gồm các học sinh Anh, Bông và Nam, những người có kiến thức vững về quá trình đẳng nhiệt Trong khi đó, Nhóm 2 bao gồm Anh, Hồng và Nam, những học sinh nắm vững định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt.
+ Nhóm 3 là những HS nắm tốt kiến thức đường đẳng nhiệt: Bông và Hồng.
- GV phân công nhiệm vụ thảo luận
+ Nhóm 1: Giải thích những ý kiến của các bạn còn mơ màng hay chưa nắm về kiến thức quá trình đẳng nhiệt, cụ thể của bạn Hồng.
+ Nhóm 2: Giải thích những ý kiến của các bạn còn mơ màng hay chưa nắm về kiến thức định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt, cụ thể của bạn Bông.
+ Nhóm 3: Giải thích những ý kiến của các bạn còn mơ màng hay chưa nắm về kiến thức đường đẳng nhiệt, cụ thể của bạn Anh và bạn Nam.
- GV điều khiển thảo luận
Ngoài ra, khi tổ chức ôn tập, củng cố và luyên tập GV có thể vận dụng một số
KTDH khác như: KT tranh luận ủng hộ - phản đối, KT XYZ, KT thu thông tin phản hồi trong quá trình dạy học, KT đống vai,… ở phần phụ lục.
3.3 Nhóm kĩ thuật dạy bài thực hành thí nghiệm
Bài thực hành thí nghiệm nhằm rèn luyện kỹ năng sử dụng các thiết bị cơ bản và thực hiện các phép đo cần thiết Qua đó, người học sẽ phát triển khả năng áp dụng thí nghiệm để nghiên cứu các tính chất và mối quan hệ giữa những sự vật, hiện tượng.
Khi tổ chức dạy bài thực hành, GV cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực như kỹ thuật động não, kỹ thuật làm thí nghiệm, kỹ thuật bể cá, kỹ thuật lược đồ tư duy và kỹ thuật khăn phủ bàn để nâng cao hiệu quả giảng dạy.
1 Mỗi giáo viên thiết kế một giờ dạy có sử dụng các kỹ thuật dạy học trong tài liệu.
2 Mỗi nhóm chuyên môn triển khai một giờ dạy có sử dụng kỹ thuật dạy học phù hợp đối tượng học sinh của mình Sau đó nhóm tổ chức rút kinh nghiệm.
NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ DẠY HỌC DỰ ÁN 1 Khái niệm dự án và dạy học dự án
Phân loại dự án học tập
DHDA có thể được phân loại dựa trên nhiều phương diện khác nhau Sau đây là một số cách phân loại dạy học theo dự án:
* Phân loại theo nội dung
• Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học
• Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau
Dự án ngoài môn học là những hoạt động không liên quan trực tiếp đến các môn học, chẳng hạn như tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm thành lập trường hoặc thiết kế sân thể thao cho trường Những dự án này không chỉ mang lại giá trị giáo dục mà còn góp phần xây dựng tinh thần đoàn kết và phát triển cơ sở hạ tầng cho nhà trường.
* Phân loại theo hình thức tham gia của người học
Trong đó, dự án nhóm là hình thức dạy học dự án chủ yếu
* Phân loại theo quỹ thời gian: K.Frey đề nghị cách phân chia như sau:
• Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ học
• Dự án trung bình: tiến hành trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”), giới hạn trong một tuần hoặc 40 giờ học
• Dự án lớn: thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”)
Cách phân chia theo thời gian này thường áp dụng ở trường phổ thông Trong đào tạo đại học, có thể quy định quỹ thời gian lớn hơn
* Phân loại theo nhiệm vụ
Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án, có thể phân loại các dự án theo các dạng sau:
• Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng
• Dự án nghiên cứu: là dự án nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, quá trình
Dự án kiến tạo sản phẩm tập trung vào việc phát triển các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện các kế hoạch hành động cụ thể Mục tiêu của dự án này là thực hiện các nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn và sáng tác, nhằm mang lại giá trị thẩm mỹ và nghệ thuật cho người xem.
• Dự án hành động: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên
Các loại dự án thường có sự liên kết chặt chẽ và không hoàn toàn tách biệt Trong mỗi lĩnh vực chuyên môn, các dự án có thể được phân loại dựa trên những đặc thù riêng biệt Sự phân loại này có thể được tóm tắt một cách trực quan qua sơ đồ.
Hình 1 Các loại dự án học tập
Đặc điểm của dạy học dự án
Các tài liệu đã chỉ ra nhiều đặc điểm quan trọng của Dạy học dựa trên hoạt động (DHDA) Các nhà sư phạm Mỹ vào đầu thế kỷ 20 đã xác định ba đặc điểm cốt lõi của DHDA, bao gồm: định hướng học sinh, định hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm Theo PGS TS Đỗ Hương Trà từ ĐHSP Hà Nội, đặc điểm đầu tiên là định hướng vào người học, nhấn mạnh vai trò trung tâm của học sinh trong quá trình dạy học.
Định hướng hứng thú của người học là yếu tố quan trọng trong giáo dục, khi học sinh được tham gia trực tiếp vào việc chọn đề tài và nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích cá nhân Điều này không chỉ khuyến khích tính tích cực, tự lực, trách nhiệm và sự sáng tạo của học sinh mà còn giúp họ kiểm soát quá trình học tập của mình Mức độ tự lực và sáng tạo cần phải tương xứng với kinh nghiệm và khả năng của từng học sinh, cũng như độ khó của nhiệm vụ Việc đặt học sinh vào tình huống khám phá và chia sẻ quá trình khai thác kiến thức, giải quyết vấn đề, cùng với cơ hội hợp tác trong dạy học dựa trên hoạt động (DHDA), là một trong những biện pháp hiệu quả nhất để duy trì động lực học tập.
Học sinh có tính tự lực cao, chủ động và tích cực tham gia vào từng giai đoạn của quá trình học tập Từ việc đề xuất vấn đề, lập kế hoạch giải quyết cho đến thực hiện và trình bày sản phẩm, học sinh thể hiện sự chủ động trong việc học hỏi và phát triển kỹ năng.
Trong quá trình thực hiện dự án, học sinh kết hợp lý thuyết và thực hành, huy động mọi giác quan để củng cố và mở rộng kiến thức Điều này giúp tăng cường kỹ năng hành động thực tiễn và kinh nghiệm sống, từ đó tạo ra những cá nhân năng động, đáp ứng tốt hơn với yêu cầu ngày càng cao của xã hội.
Cộng tác làm việc trong các dự án nhóm giúp các thành viên phối hợp hiệu quả, từ đó rèn luyện kỹ năng giao tiếp, tính sẵn sàng và ý thức kỷ luật Sự tham gia của học sinh, giáo viên và các lực lượng xã hội không chỉ nâng cao hiệu quả công việc mà còn mở rộng hiểu biết về kiến thức đang học, tạo ra một môi trường học tập mang tính xã hội.
Dự án mang tính phức hợp, kết hợp tri thức từ nhiều môn học và lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các vấn đề phức tạp Nội dung của dự án được định hướng vào thực tiễn, đảm bảo tính ứng dụng cao trong cuộc sống.
- Gắn liền với thực tiễn: Chủ đề dự án xuất phát từ tình huống thực tiễn của đời sống xã hội, phù hợp với trình độ của người học.
Kết quả của dự án mang lại ý nghĩa thực tiễn xã hội quan trọng, khi kết nối việc học tập trong trường với đời sống thực tế tại địa phương và môi trường xung quanh Điều này không chỉ tạo ra những tác động xã hội tích cực mà còn định hướng vào việc phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu cộng đồng.
Các sản phẩm không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn bao gồm những sản phẩm vật chất được tạo ra từ hoạt động thực tiễn và thực hành Những sản phẩm này có thể được sử dụng, công bố và giới thiệu rộng rãi.
Kết quả cuối cùng của dự án cần phải liên kết chặt chẽ với tiến trình thực hiện và thể hiện rõ tính tập thể Điều này nhằm chứng minh một cách thuyết phục việc làm chủ kiến thức đã thu thập được, đồng thời phù hợp với mục tiêu đã đề ra.
Các giai đoạn của dạy học dự án
Dựa trên cấu trúc chung của các dự án trong lĩnh vực sản xuất và kinh tế, DHDA được chia thành 4 giai đoạn chính: Quyết định, lập kế hoạch, thực hiện và kết thúc dự án Ngoài ra, dựa vào tiến trình phương pháp, cấu trúc của DHDA còn có thể được phân chia thành nhiều giai đoạn nhỏ hơn, giúp quản lý và thực hiện dự án hiệu quả hơn.
Giáo viên (GV) và học sinh (HS) cùng thảo luận để xác định đề tài và mục đích của dự án Trong giai đoạn này, GV cần tạo ra tình huống xuất phát với một vấn đề hoặc nhiệm vụ cần giải quyết, đồng thời chú ý đến thực tiễn, sự hứng thú của HS và ý nghĩa xã hội của đề tài GV có thể gợi ý một số hướng đề tài để HS lựa chọn và cụ thể hóa, trong khi nội dung dự án cũng có thể do HS đề xuất.
Xây dựng kế hoạch thực hiện
Trong giai đoạn này, giáo viên hướng dẫn học sinh lập đề cương và kế hoạch thực hiện dự án Việc xây dựng kế hoạch cần xác định các công việc cần thực hiện, thời gian dự kiến, phương tiện, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm.
Các thành viên trong nhóm thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra, kết hợp giữa hoạt động trí tuệ và thực tiễn Học sinh áp dụng kiến thức lý thuyết và thử nghiệm các phương án giải quyết vấn đề qua thực hành Qua quá trình này, sản phẩm của dự án và thông tin mới được hình thành.
Kết quả thực hiện dự án được công bố qua nhiều hình thức như viết thu hoạch, báo cáo và luận văn Sản phẩm của dự án có thể bao gồm các sản phẩm vật chất hoặc hành động phi vật chất, như biểu diễn kịch hay tổ chức tuyên truyền về các vấn đề thời sự Việc trình bày sản phẩm có thể diễn ra trong phạm vi lớp học, trường học, hoặc mở rộng ra ngoài xã hội.
GV và HS cùng nhau đánh giá quá trình thực hiện, kết quả và những kinh nghiệm đã tích lũy, từ đó rút ra bài học cho các dự án trong tương lai Ngoài ra, kết quả của dự án cũng có thể được đánh giá từ góc nhìn bên ngoài.
Việc phân chia các giai đoạn trong dự án chỉ mang tính tương đối và có thể xen kẽ, thâm nhập lẫn nhau Giáo viên cần nhắc nhở học sinh tự kiểm tra nội dung và phương thức hoạt động để kịp thời điều chỉnh cho chính xác Mỗi dạng dự án có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ cụ thể Các giai đoạn của dự án học tập có thể được mô tả bằng sơ đồ để giúp học sinh dễ dàng hình dung và thực hiện.
Hình 2 Các giai đoạn của dạy học dự án
Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học dự án
Khi GV và HS cùng nhau thực hiện dự án và kết hợp công nghệ vào dự án, vai trò của họ sẽ thay đổi.
5.1 Vai trò của giáo viên
Trong các hoạt động dự án trong lớp học, vai trò của giáo viên cần được chuyển đổi từ người thuyết giảng sang người hướng dẫn và tham vấn cho học sinh Giáo viên không chỉ là chuyên gia mà còn cùng học sinh tìm kiếm và xử lý thông tin Điều quan trọng nhất là giáo viên phải thúc đẩy sự tự chủ của học sinh, giúp họ chủ động trong việc giải quyết nội dung bài học.
Các nhiệm vụ cụ thể của người GV như sau:
Xác định chủ đề dự án là giai đoạn quan trọng, trong đó giáo viên cần phân tích nội dung bài học để xác định kiến thức và kỹ năng mà học sinh cần đạt được Giáo viên cũng phải có kế hoạch tổ chức bài học thành dự án và phát triển ý tưởng cho dự án đó.
- GV luôn phải nhìn thấy, tìm thấy những vấn đề thực tiễn đang diễn biến trong cuộc sống xung quanh có liên quan đến bài học;
GV cần nhận thức rõ những thách thức lớn mà thế giới đang đối mặt, bao gồm sự gia tăng nhiệt độ Trái đất, ô nhiễm môi trường và khủng hoảng năng lượng.
- GV biết từ bỏ những nội dung mà chương trình buộc phải dạy theo các phương pháp truyền thống.
Xác định mục tiêu dự án (bao gồm mục tiêu nhận thức và mục tiêu nhân văn)
Xây dựng bộ câu hỏi khung chương trình (bộ câu hỏi định hướng)
Chuẩn bị các tài liệu hỗ trợ HS và GV, chuẩn bị cơ sở vật chất cần thiết
GV cần lập kế hoạch cho quá trình thực hiện của HS, từ đó chuẩn bị các hỗ trợ cần thiết để HS hoàn thành bài tập dự án một cách hiệu quả.
Cung cấp cho học sinh các nguồn tài liệu hữu ích như sách giáo khoa, sách tham khảo và các trang web thông tin Giới thiệu cho học sinh các bài mẫu, sổ theo dõi dự án, mẫu phiếu phân công công việc trong nhóm, cùng với bảng tiêu chí đánh giá sản phẩm để hỗ trợ quá trình học tập và làm việc nhóm hiệu quả.
- Chuẩn bị phương tiện vật chất cần thiết như máy chiếu, projector để hỗ trợ HS.
Xây dựng các tiêu chí đánh giá, các phiếu đánh giá sản phẩm
Đánh giá trong giáo dục bao gồm việc xem xét cả kết quả và quá trình học tập của học sinh Các tiêu chí đánh giá được thiết lập dựa trên mục tiêu dạy học và được thông báo trước cho học sinh để đảm bảo tính minh bạch.
GV cũng cần chuẩn bị trước các phiếu tự đánh giá, đánh giá nhóm bạn cho HS cùng tham gia vào công việc này.
Tổ chức cho các nhóm HS thực hiện các bài tập được giao và trình bày sản phẩm học tập
Trong quá trình thực hiện dự án, giáo viên cần theo dõi và hỗ trợ học sinh thường xuyên để kịp thời phát hiện và giải quyết các khó khăn, vướng mắc Việc này không chỉ đảm bảo tiến độ thực hiện mà còn giúp động viên, khích lệ học sinh hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng tốt nhất.
Khi học sinh trình bày sản phẩm, giáo viên tổ chức cho các học sinh khác lắng nghe và tham gia vào việc chất vấn, thảo luận Điều này giúp tất cả học sinh trong lớp đều có cơ hội tham gia vào hoạt động nhận thức, nâng cao khả năng tương tác và hiểu biết.
Tổ chức cho HS tự đánh giá và tham gia đánh giá quá trình học tập của HS
Trong DHDA, đánh giá liên tục và định kỳ là yếu tố quan trọng giúp thúc đẩy việc học và cải tiến phương pháp dạy Điều này không chỉ hỗ trợ học sinh thể hiện kiến thức đã học mà còn tạo điều kiện cho việc phát triển kỹ năng qua nhiều hình thức khác nhau.
GV biết nhiều hơn về nhu cầu của HS và từ đó điều chỉnh kịp thời việc giảng dạy.
GV tổ chức đánh giá quá trình học tập theo nhóm cho từng học sinh, giúp họ nhận diện khó khăn và hạn chế trong quá trình học Qua đó, học sinh có cơ hội tự nêu ra những vấn đề gặp phải và tìm ra cách khắc phục hiệu quả.
Dựa trên đánh giá sản phẩm học tập, giáo viên cần khuyến khích học sinh mở rộng chủ đề và tiếp tục công việc mang lại lợi ích cho việc học Đánh giá phải công bằng và hợp lý để động viên thái độ học tập tích cực Để học sinh thành công trong quá trình đánh giá và tự đánh giá, giáo viên cần cung cấp hỗ trợ cần thiết.
- Các tiêu chuẩn rõ ràng;
- Những cơ hội để HS theo dõi sự tiến bộ của bản thân và của nhóm;
- Thời gian đủ để hoàn thành công việc;
Để nâng cao hiệu quả công việc, giáo viên nên áp dụng những phương pháp thu thập phản hồi chính xác từ học sinh Việc kết hợp phản hồi này không chỉ giúp cải thiện quá trình học tập mà còn khuyến khích học sinh tự trao đổi thông tin và đánh giá lẫn nhau Một cách hiệu quả là tổ chức các trang web để học sinh có thể chia sẻ ý kiến và trải nghiệm của mình.
5.2 Vai trò của học sinh
Hoạt động dự án thay đổi vai trò của học sinh, khuyến khích họ thể hiện sự năng động trong lớp học Trong quá trình thực hiện dự án, học sinh có cơ hội đưa ra quyết định, hợp tác làm việc, sáng tạo ý tưởng và trình bày trước đám đông, từ đó xây dựng kiến thức cá nhân Dù ban đầu có thể gặp khó khăn, nhưng hầu hết học sinh nhận thấy công việc dự án có ý nghĩa và liên quan thực tế đến cuộc sống, khiến họ cảm thấy hứng thú Nhờ đó, học sinh tích cực tham gia và ghi nhớ kiến thức mới hiệu quả hơn.
Tham gia tích cực trong việc thảo luận và lập dự án Trên cơ sở định hướng của
GV, họ từng bước trả lời được các câu hỏi khung chương trình;
Trong một dự án nhóm, việc phân công công việc rõ ràng và hợp lý là rất quan trọng Mỗi thành viên cần thực hiện các vai trò được chỉ định, và nhóm trưởng sẽ chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của từng thành viên để đảm bảo tiến độ và hiệu quả công việc.
Tự lực triển khai dự án (quyết định cách tiếp cận vấn đề, tự hoạch định và tổ chức các hoạt động nhómđể giải quyết vấn đề);
Thu thập và xử lý thông tin từ nhiều nguồn giúp các em tích lũy kiến thức và giá trị quý báu từ quá trình làm việc của mình.
Ưu điểm và hạn chế của dạy học dự án
Các tài liệu tập huấn của Intel và Microsoft về DHDA đã nêu ra những ưu điểm và hạn chế của hình thức dạy học này, đó là:
- Gắn lí thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội;
- Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học;
- Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm;
- Phát triển khả năng sáng tạo;
- Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp;
- Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn;
- Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc thông qua quá trình làm việc nhóm;
- Phát triển năng lực đánh giá
Mặc dù DHDA có rất nhiều ưu điểm nhưng nó cũng tồn tại những hạn chế như sau:
Phương pháp này không hiệu quả trong việc truyền đạt tri thức lý thuyết trừu tượng và hệ thống, đồng thời không khuyến khích việc áp dụng vào những kiến thức then chốt cần được truyền tải một cách chính xác và đầy đủ cho người học.
Dự án DHDA thường yêu cầu nhiều thời gian, có thể kéo dài từ vài ngày đến vài tuần Do đó, DHDA không thể thay thế cho các phương pháp thuyết trình và luyện tập truyền thống, mà chỉ đóng vai trò là một hình thức dạy học bổ sung cần thiết cho các phương pháp dạy học truyền thống.
- Hoạt động học tập gắn liền thực hành, thực tiễn, do đó khi thực hiện DHDA đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp;
- Dự án cần sự tích hợp công nghệ thông tin đòi hỏi người học và người dạy phải có những kiến thức cơ bản về tin học.
Để đạt hiệu quả trong dạy học dự án (DHDA), giáo viên cần lựa chọn những kiến thức có tính thực tiễn cao Trong môn Vật lý, nhiều kiến thức ứng dụng kỹ thuật phù hợp cho việc triển khai dự án Việc áp dụng dự án trong dạy học không chỉ giúp học sinh (HS) chủ động và hứng thú hơn trong quá trình học tập, mà còn giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách vững chắc và hiểu rõ ý nghĩa của chúng trong thực tiễn.
Tiến trình tổ chức dạy học dự án
hành ôn tập những kiến thức Vật lý liên quan HS phân chia nhóm, thảo luận, lựa chọn chủ đề dự án.
Giáo viên hướng dẫn học sinh lập đề cương và kế hoạch thực hiện dự án, trong đó cần xác định các công việc cần thực hiện, thời gian dự kiến, phương tiện, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm.
Bước 3: Các thành viên trong nhóm cần thực hiện công việc theo kế hoạch và nhiệm vụ đã được phân công Trong quá trình này, giáo viên cần tổ chức các buổi thảo luận và trình bày đề cương sản phẩm, tạo cơ hội cho học sinh trao đổi và góp ý lẫn nhau.
GV có trách nhiệm đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra và giải đáp thắc mắc của học sinh, nhưng không tham gia trực tiếp vào việc thực hiện.
Bước 4: HS công bố sản phẩm dự án Ở đây sản phẩm của dự án bao gồm:
- 1 bài trình diễn Powerpoint giải thích cấu tạo, nguyên tắc hoạt động của thiết bị dựa trên các nguyên lí, định luật Vật lý.
- 1 trang web công bố những thành quả của dự án, chia sẻ thông tin cho bạn bè và nhữngngười quan tâm trong cả nước tham khảo
Việc tổ chức giới thiệu sản phẩm cho dự án có thể diễn ra qua nhiều buổi, tùy thuộc vào từng sản phẩm hoặc kết hợp các sản phẩm dựa trên thời gian và quy mô dự án Để hoàn thiện sản phẩm, giáo viên khuyến khích các nhóm thảo luận và chất vấn lẫn nhau.
Bước 5: Kết thúc dự án, GV củng cố kiến thức về nội dungvừa học
Bước 6: GV tổ chức HS đánh giá và tự đánh giá quá trình thực hiện cũng như sản phẩm dự án mà các nhóm đã thu được.
Xây dựng bộ câu hỏi khung chương trình
Bộ câu hỏi khung chương trình cung cấp cấu trúc cho việc đặt câu hỏi trong các dự án, nhằm phát triển tư duy ở nhiều cấp độ Bộ câu hỏi này không chỉ giúp dự án phù hợp với việc học của học sinh mà còn đảm bảo sự thống nhất giữa việc hiểu sâu nội dung bài học và khám phá những ý tưởng thú vị.
Bộ câu hỏi khung chương trình định hướng cho bài học bao gồm ba loại câu hỏi: câu hỏi khái quát (CHKQ), câu hỏi bài học (CHBH) và câu hỏi nội dung (CHND) Do đó, bộ câu hỏi này còn được gọi là bộ câu hỏi định hướng, giúp người dạy và học tập trung vào các nội dung quan trọng của bài học.
CHKQ là những câu hỏi có phạm vi rất rộng, là những câu hỏi mở CHKQ có những đặc điểm:
Khái quát các ý tưởng chính trong từng môn học là rất quan trọng, vì nó tạo ra sự liên kết giữa các bài học, giữa các môn học, và thậm chí giữa các khóa học trong năm Câu hỏi khái quát không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về nội dung mà còn làm nổi bật mối liên hệ giữa các kiến thức khác nhau, từ đó nâng cao hiệu quả học tập.
Các câu hỏi thực tế thường có nhiều câu trả lời đúng và không chỉ giới hạn ở một đáp án duy nhất Khi thời gian trôi qua và trình độ của người học nâng cao, các câu trả lời trở nên đa dạng, phức tạp và mang nhiều sắc thái hơn.
Để thu hút sự quan tâm và khơi dậy hứng thú nhận thức của người học, cần yêu cầu tư duy bậc cao Để trả lời câu hỏi chất lượng, học sinh cần dành thời gian nghiên cứu vấn đề một cách nghiêm túc và khoa học.
CHKQ khuyến khích việc mở rộng các câu hỏi liên quan, nhằm làm phong phú thêm sự hiểu biết về chủ đề Điều này giúp làm sáng tỏ tính phức tạp của vấn đề và mở ra các hướng nghiên cứu mới CHKQ không chấp nhận những câu trả lời mơ hồ hay những kết luận vội vàng, mà thay vào đó, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân tích sâu sắc và toàn diện.
Ví dụ: Sự phát triển của khoa học công nghệ làm thay đổi môi trường sống của chúng ta như thế nào?
Các CHKQ hỗ trợ giáo viên tập trung vào những khía cạnh quan trọng của chương trình học trong suốt năm học, đồng thời có ý nghĩa liên kết giữa các lĩnh vực trong môn học Đối với học sinh, CHKQ đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và phát triển kỹ năng học tập.
HS được khuyến khích so sánh và đối chiếu để phát hiện những điểm tương đồng, từ đó phát triển trí tưởng tượng và kết nối kiến thức giữa các môn học Việc thử thách HS tìm ra nhiều giải pháp cho cùng một vấn đề không chỉ thúc đẩy sự thảo luận mà còn khuyến khích nghiên cứu chuyên sâu, tạo nền tảng cho các câu hỏi trong tương lai.
CHBH là những câu hỏi mở, nhưng được giới hạn trong một chủ đề hoặc bài học cụ thể, nhằm hỗ trợ và phát triển CHKQ Các đặc điểm nổi bật của CHBH bao gồm tính linh hoạt trong việc khám phá ý tưởng và khả năng kích thích tư duy sáng tạo.
Có đáp án mở hấp dẫn giúp học sinh khám phá những ý tưởng cụ thể cho từng chủ đề, môn học hoặc bài học Một câu hỏi hay có thể áp dụng cho nhiều vấn đề chung thuộc các lĩnh vực khác nhau.
Đưa ra những vấn đề hoặc kích thích thảo luận hướng đến chủ đề hoặc bài học cụ thể nhằm bổ trợ cho CHKQ;
Khuyến khích học sinh khám phá và duy trì hứng thú bằng cách cho phép họ trả lời theo cách sáng tạo và độc đáo Những câu hỏi này không chỉ kích thích sự tò mò mà còn thúc đẩy học sinh tự lực tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề.
CHBH hỗ trợ CHKQ bằng cách khám phá các khía cạnh khác nhau trong mỗi khóa học Chúng phù hợp với nhiều độ tuổi học sinh, giúp tổng hợp sự phát triển qua các cấp học Giáo viên các môn học có thể áp dụng các CHBH khác nhau để giúp học sinh tiếp cận các vấn đề đa dạng trong cùng một CHKQ Mối tương tác giữa CHBH và CHKQ có thể được biểu diễn rõ ràng.
Hình 3 Mối tương tác giữa CHBH và CHKQ
CHKQ và CHBH đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích học sinh tìm hiểu và nghiên cứu, từ đó phát triển khả năng nhận thức về các chủ đề Khi được thiết kế hợp lý, các chương trình này không chỉ rèn luyện tư duy phê phán mà còn kích thích trí tò mò và thúc đẩy phương pháp học tập thông qua việc đặt câu hỏi.
CHND khác với CHKQ và CHBH Nó là các câu hỏi “đóng”, trực tiếp liên quan đến nội dung bài học cần nghiên cứu Đặc điểm của CHND là:
Trực tiếp hỗ trợ những chuẩn kiến thức và mục tiêu học tập;
Có những câu trả lời “đúng” cụ thể, rõ ràng;
Sắp xếp theo những tiêu chuẩn về nội dung, mục tiêu dạy học, hỗ trợ cho các câu hỏi khái quát cũng như câu hỏi nội dung
CHND hỗ trợ CHKQ và CHBH bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ các chi tiết trong bài Những câu hỏi này giúp học sinh tập trung vào thông tin xác thực cần thiết để đáp ứng các tiêu chí nội dung và đạt được các mục tiêu học tập.
Bộ câu hỏi khung chương trình đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ học sinh (HS) thực hiện dự án học tập, khuyến khích động cơ học tập tích cực và giúp HS trở thành những người học tự định hướng Qua việc khám phá câu trả lời, HS phát hiện ra mối liên hệ giữa kiến thức học được và thế giới xung quanh, từ đó thay đổi quan điểm về giáo dục Do đó, giáo viên (GV) cần dành thời gian và công sức để thiết kế bộ câu hỏi khung chương trình nhằm đạt hiệu quả giáo dục tối ưu.
Chuẩn bị của giáo viên
* Những chuẩn bị của GV trước khi tiến hành bài dạy
- Nghiên cứu kĩ tài liệu về DHDA, tham khảo các bài dạy được giới thiệu trong đĩa
“Chương trình dạy học cho tương lai của Intel” và trong tài liệu tập huấn của Microsoft hoặc trên mạng Internet.
Liên hệ với nhà trường, giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn Vật Lý và Tin học để thống nhất thời gian học tập cũng như các phần mềm cần thiết mà học sinh cần nắm vững nhằm chuẩn bị cho việc thực hiện dự án.
- Lập kế hoạch thực hiện:
+ Xác định chuẩn nội dung kiến thức HS cần đạt được trong chương trình;
+ Dự trù khoảng thời gian cần thiết cho dự án;
+ Chuẩn bị tư liệu giới thiệu về DHDA cho HS tham khảo;
+ Xây dựng bộ câu hỏi khung chương trình;
+ Chuẩn bị nguồn tài liệu hỗ trợ cho HS.
* Định hướng cụ thể hoạt động dạy học
- Định hướng hình thức học tập: hoạt động theo nhóm từ 5 - 10 HS;
Định hướng thực tiễn trong giáo dục là rất quan trọng, khi các nội dung học tập cần phải có ý nghĩa cao và liên kết chặt chẽ với những vấn đề thiết thực trong cuộc sống hàng ngày Điều này bao gồm việc bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng và an toàn lao động, giúp học sinh nhận thức rõ hơn về những thách thức hiện tại và phát triển kỹ năng cần thiết để giải quyết chúng.
- Định hướng nội dung: Các nội dung kiến thức nằm trong chương trình được thiết kế dự án
10 Thiết kế một số dự án ví dụ về ứng dụng kỹ thuật trong chương Cơ sở của nhiệt động lực học a Mục tiêu của dạy học dự án
Thông qua thực hiện dự án, HS cần:
- Nêu được định nghĩa khái niệm động cơ nhiệt và máy lạnh;
Động cơ nhiệt và máy lạnh hoạt động dựa trên nguyên tắc chuyển đổi năng lượng, với cấu tạo bao gồm các bộ phận chính như buồng đốt, piston, và hệ thống làm lạnh Tuy nhiên, việc sử dụng các thiết bị này cũng gây ra ô nhiễm môi trường, chủ yếu do khí thải và chất làm lạnh Để giảm thiểu tác động tiêu cực này, cần áp dụng một số biện pháp như cải tiến công nghệ, sử dụng nhiên liệu sạch và bảo trì định kỳ các thiết bị.
- Vận dụng được nguyên lí I NĐLH trong giải thích hoạt động của động cơ nhiệt và máy lạnh;
- Viết được công thức tính hiệu suất của động cơ nhiệt và hiệu năng của máy lạnh;
Định lý Carnot là một nguyên lý quan trọng trong nhiệt động lực học, khẳng định rằng không có máy nhiệt nào có hiệu suất cao hơn máy Carnot, hoạt động giữa hai nguồn nhiệt Ý nghĩa của định lý này là nó thiết lập một giới hạn lý thuyết cho hiệu suất của các máy nhiệt, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về khả năng chuyển đổi năng lượng nhiệt thành công việc Ứng dụng của định lý Carnot trong việc đánh giá hiệu suất của một loại máy nhiệt cụ thể cho phép chúng ta so sánh hiệu suất thực tế với giới hạn lý thuyết, từ đó tối ưu hóa thiết kế và cải thiện hiệu quả năng lượng trong các hệ thống nhiệt.
Mục tiêu của DHDA giúp rèn luyện và phát triển cho HS các kĩ năng sau:
- Kĩ năng đọc SGK, lập đề cương khoa học;
- Kĩ năng sơ đồ hóa kiến thức;
- Kĩ năng tìm hiểu nguyên tắc các thiết bị kĩ thuật, nhận diện các tác nhân trong động cơ nhiệt và máy lạnh;
Kỹ năng thu thập và xử lý thông tin là rất quan trọng, bao gồm khả năng phân tích, đánh giá và tổng hợp dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau Những kỹ năng này giúp giải quyết hiệu quả các nhiệm vụ được đặt ra, từ đó nâng cao khả năng ra quyết định và cải thiện kết quả công việc.
- Phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức tạp;
Phát triển kỹ năng trình bày trước đám đông và kỹ năng làm việc nhóm là rất quan trọng Bên cạnh đó, việc thiết kế bài thuyết trình bằng PowerPoint, cũng như tạo ra tờ rơi và website, cần phải đảm bảo tính khoa học và thẩm mỹ Những kỹ năng này không chỉ giúp nâng cao khả năng giao tiếp mà còn tạo ấn tượng tốt với người nghe.
- Tích cực trong quá trình thực hiện cũng như trình bày sản phẩm dự án;
- Say mê tìm tòi, nghiên cứu khoa học;
- Tích cực trong hoạt động nhóm, trong quá trình thảo luận đóng góp ý kiến;
- Có ý thức tập thể, trách nhiệm cao;
- Công bằng, khách quan trong đánh giá và tự đánh giá b Xác định bộ câu hỏi khung chương trình
* Câu hỏi khái quát:Sự phát triển của khoa học công nghệ đã làm thay đổi cuộc sống của chúng ta như thế nào?
* Câu hỏi bài học: Các máy nhiệt (động cơ nhiệt và máy lạnh) có ảnh hưởng như thế nào trong việc bảo vệ môi trường?
- Nội dung nguyên lí I NĐLH được phát biểu như thế nào?
+ Thế nào là động cơ nhiệt?
+ Động cơ nhiệt hoạt động theo nguyên tắc nào? Chỉ rõ nguyên lí I được áp dụng trong hoạt động của động cơ nhiệt như thế nào?
+ Cấu tạo của động cơ nhiệt như thế nào?
+ Nguyên nhân nào gây ô nhiễm môi trường trong động cơ nhiệt?
+ Công thức tính hiệu suất của động cơ nhiệt?
+ Thế nào là máy lạnh?
+ Máy lạnh hoạt động theo nguyên tắc nào? Chỉ rõ nguyên lí I NĐLH được áp dụng trong hoạt động của máy lạnh như thế nào?
+ Cấu tạo của máy lạnh?
+ Nguyên nhân nào trong máy lạnh tác động xấu đến môi trường? Làm thế nào để hạn chế tác động đó?
+ Công thức tính hiệu năng của máy lạnh?
- Nguyên lí II NĐLH và định lí Các - nô:
+ Trình bày nguyên tắc cấu tạo chung của các máy nhiệt như thế nào?
+ Nguyên lí II NĐLH được phát biểu như thế nào?
+ Nguyên lí II NĐLH liên quan đến hiện tượng gì trong tự nhiên? Mối quan hệ giữa nó với nguyên lí I NĐLH như thế nào?
+ Định lí Các-nô được diễn tả bởi công thức nào? Định lí đó có ý nghĩa gì trong thực tế? c Chi tiết dự án
Mỗi nhóm học sinh gồm 8 thành viên, bao gồm nhóm trưởng, thư ký, chuyên viên phụ trách thông tin, tuyên truyền, trình diễn báo cáo bằng PowerPoint và thiết kế website Các thành viên cần tích cực, chủ động, hợp tác và đoàn kết để hoàn thiện dự án Việc chọn nhóm cần đảm bảo có thành viên thành thạo trong việc sử dụng máy tính.
Dự án này chủ yếu tập trung vào học sinh, với giáo viên đóng vai trò hỗ trợ trong việc hướng dẫn các em nghiên cứu và rút ra kết luận Giáo viên khuyến khích học sinh làm việc độc lập, nhưng cũng cần thường xuyên kiểm tra và động viên để đảm bảo tiến bộ của các em.
Dự án sẽ được thực hiện trong vòng 7 ngày, yêu cầu học sinh cần có kỹ năng tin học cơ bản Cụ thể, học sinh cần thành thạo việc khai thác và sử dụng Internet, bao gồm khả năng tìm kiếm thông tin trên website, thu thập dữ liệu, thiết kế website hoặc tạo blog Ngoài ra, học sinh cũng cần biết sử dụng các phần mềm như Microsoft Word, Microsoft PowerPoint và Microsoft Publisher để sắp xếp thông tin và soạn thảo báo cáo Cuối cùng, học sinh cần có khả năng lưu trữ, bảo vệ và sử dụng dữ liệu một cách hiệu quả.
Thực hiện dự án đòi hỏi cơ sở vật chất của nhà trường phải được trang bị:
Máy vi tính có kết nối Internet
Máy vi tính cài sẵn phần mềm Microsoft Word, Microsoft Powerpoint và Microsoft Publisher
Projector, màn chiếu g Phương thức đánh giá Để đánh giá dự án, cần tiến hành:
- Xây dựng tiêu chí đánh giá bài trình diễn Powerpoint, ấn phẩm và website (hoặc blog) của HS;
- Các nhóm đánh giá lẫn nhau dựa trên tiêu chí đánh giá đã thông qua;
- GV tổng kết đánh giá, cho điểm các nhóm Điểm tổng của nhóm được tính bởi công thức:
- Mỗi nhóm tự đánh giá điểm cho từng thành viên dựa vào điểm tổng của nhóm mà
GV đã thông qua. h Kế hoạch hỗ trợ
Học theo hình thức DHDA mặc dù không mới mẻ trên thế giới, nhưng vẫn còn xa lạ với học sinh Việt Nam Việc chuyển từ tư duy thụ động sang tư duy chủ động đòi hỏi nhiều công sức và thời gian Do đó, giáo viên cần có kế hoạch hỗ trợ học sinh, kịp thời điều chỉnh sai sót và động viên các em hoàn thành nhiệm vụ Các phương pháp hỗ trợ này rất quan trọng trong quá trình học tập.
- in một phần nội dung các website có liên quan đến dự án để hỗ trợ cho HS;
- chủ động phân vai cho HS nếu cần thiết;
- in các bảng tiêu chí đánh giá cho các nhóm;
GV và HS thường xuyên giao tiếp thông qua các cuộc trao đổi trực tiếp và email trong suốt quá trình thực hiện dự án Nguồn tài liệu hỗ trợ dự án cũng được chia sẻ để nâng cao hiệu quả công việc.
* Nguồn tài liệu hỗ trợ về kiến thức:
- Sách giáo khoa Vật lí 10 nâng cao – Bộ giáo dục và Đào tạo
- Các website (trình bày trong các dự án cụ thể): http://thuvienvatly.com ; http://www.vatlysupham.com http://www.vatlyvietnam.org ;http://vi.wikipedia.org
* Tài liệu hỗ trợ tiến trình thực hiện dự án:
- Kế hoạch thực hiện dự án
- Mẫu phiếu phân công nhiệm vụ trong nhóm
- Mẫu phiếu tổng hợp dữ liệu
- Biên bản thảo luận nhóm.
- Mẫu phiếu trình bày kết quả thu được của nhóm.
- Mẫu tiêu chí đánh giá sản phẩm dự án. i Bảng tiêu chí đánh giá dự án
* Đánh giá quá trình thực hiện dự án (20đ)
Tiêu chí Yêu cầu Điểm tối đa
Phân công nhiệm vụ trong nhóm
Phân công công việc đồng đều, hợp lí và hiệu quả
Tích cực trong thảo luận Tham gia thảo luận tích cực, sôi nổi, đặt nhiều câu hỏi chất vấn
Tích cực trong thu thập thông tin
Thông tin đa dạng, phong phú, trích lọc từ nhiều nguồn
Tích cực trong chuẩn bị đề cương Đề cương chi tiết, đầy đủ, hoàn thành đúng thời gian quy định
* Đánh giá bài trình diễn đa phương diện (50đ)
Tiêu chí Yêu cầu Điểm tối đa
Về kiến thức Kiến thức chính xác, đầy đủ, lôgic và khoa học 20
Về hình thức - Các slide trình bày hợp lí, phù hợp với nội dung và có tính sáng tạo, tính thẩm mỹ cao
- Slide đầu thể hiện sinh động chủ đề dự án, ngày
5 tháng báo cáo Slide cuối có lời cảm ơn, có các slide về nguồn tài liệu tham khảo
Về trình bày - Đảm bảo thời gian quy định
- Trình bày lôgic, mạch lạc, tự tin, có sức thuyết phục cao
- Trả lời tốt các câu hỏi chất vấn
* Đánh giá ấn phẩm dự án và trang web (15 đ)
Tiêu chí Yêu cầu Điểm tối đa
Về nội dung - Các thông tin chính xác, đa dạng, có chọn lọc từ nhiều nguồn
- Thể hiện rõ nét ý tưởng của nhóm
- Nội dung bài viết có ý nghĩa sâu sắc trong học tập và trong thực tiễn
Về hình thức - Trình bày sáng tạo, rõ ràng, có tính thẩm mỹ và tính khoa học cao
- Hình ảnh minh họa sinh động, hợp lí
1 Mỗi giáo viên thiết kế một dự án dạy học.
2 Mỗi nhóm chuyên môn triển khai một dự án dạy học phù hợp đối tượng học sinh của mình Sau đó nhóm tổ chức rút kinh nghiệm.