Kết quả bảng 3.5 cho thấy estrogen trung bỡnh của nhúm nghiờn cứu
là 188,04 ± 61,68 (pmol/L). Trong ủú, cú 2 trường hợp cú estrogen cao nhất là 313,1 pmol/L và 3 trường hợp cú estrogen thấp nhất là 83,1 pmol/L. Cú 57/150 (38%) trường hợp giảm nồng ủộ estrogen vỡ ủối tượng là những phụ nữ ở giai ủoạn quanh món kinh. Trong thời kỳ này, do chức năng của buồng trứng suy giảm nờn nồng ủộ cỏc hormon do nang trứng và hoàng thể
bài tiết sẽ giảm, trong ủú cú hormon estrogen.
Trong một nghiờn cứu tiến cứu, Burger và cộng sự ủó tiến hành ủịnh lượng estradiol ở phụ nữ món kinh và thấy rằng nồng ủộ estrogen trung bỡnh giảm khoảng hai năm trước khi món kinh, giảm rất nhanh vào thời ủiểm món kinh và cú trạng thỏi cao nguyờn ảo sau khi món kinh hai năm [43].
Việc giảm sỳt cỏc hormon sinh dục núi chung và estrogen núi riờng thường ủưa ủến kết quả là biến ủổi vật lý, sinh lý và tỡnh dục của phụ nữ
phụ nữ [40]. Tuy nhiờn, trong nghiờn cứu của chỳng tụi nhận thấy trong số
57 trường hợp cú giảm nồng ủộ estrogen thỡ cú 39 trường hợp khụng cú
ủầy ủủ cỏc triệu chứng của tiền món kinh.
Cú 4 trường hợp cú ủủ cỏc triệu chứng của tiền món kinh nhưng nồng ủộ estrogen bỡnh thường. Điều này cú thể lý giải do estron cú thể ủược sản xuất bằng cỏch chuyển ủảo ngoại vi androstenedion từ tuyến thượng thận [40].
4.1.7. Một số rối loạn cơ năng ở phụ nữ quanh món kinh
* Thay ủổi về tinh thần, thần kinh
Kết quả tại bảng 3.6 của chỳng tụi cho thấy ở phụ nữ thời kỳ quanh món kinh cú rất nhiều những biến ủổi về tinh thần và thần kinh như: hay quờn (39%); cỏu gắt (35,3%); buồn chỏn, bi quan (30,7%); mất ngủ ban
ủờm (16,7%) và buồn ngủ ban ngày (5,3%).... Kết quả này khỏ phự hợp với nghiờn cứu của Ho S.C và cộng sự [55]. Theo Ho S.C, tỷ lệ rối loạn tõm lý như ủau ủầu, hay quờn, căng thẳng thần kinh của phụ nữ món kinh Trung Quốc là 12,27%, trong khi ủú tỷ lệ này ở Mỹ là 25%. Trong cỏc thay ủổi về
tõm lý, dấu hiệu hay quờn chiếm tỷ lệ cao nhất là 39%. Hay quờn là một dấu hiệu ảnh hưởng rất nhiều ủến cụng việc của phụ nữ quanh món kinh và món kinh, từ ủú ảnh hưởng rất nhiều ủến chất lượng cuộc sống của họ, làm họ trở nờn lo lắng, mệt mỏi, cỏu gắt, dễ rơi vào trạng thỏi buồn chỏn, bi quan, căng thẳng tõm lý mà mất ngủ [55].
Tỷ lệ phụ nữ bị rối loạn giấc ngủ trong nghiờn cứu của tụi là 22%. Kết quả này thấp hơn so với nghiờn cứu của Kravitz tại Mỹ cú khoảng 38% phụ nữ món kinh ở Mỹ bị mất ngủ, tỷ lệ này ở Nhật Bản là 28% (dẫn theo [50]). Điều này là do ủối tượng nhiờn cứu của tụi là những phụ nữ quanh
ủộ tuổi món kinh nờn thay ủổi về tinh thần và thần kinh thấp hơn nhúm phụ nữ món kinh. * Rối loạn vận mạch Bảng 3.6 cho thấy cỏc rối loạn về vận mạch của phụ nữ quanh món kinh khỏ ủồng ủều: cơn bừng núng (23,3%); hồi hộp, ủỏnh trống ngực (25,3%); lạnh bàn chõn, tay (21,3%).
Cơn bốc hỏa là một dấu hiệu ủặc trưng cho thời kỳ món kinh do liờn quan ủến rối loạn ủiều nhiệt của cơ thể. Theo kết quả bảng 3.15, cú 23,3% trường hợp trong nhúm nghiờn cứu cú cơn bốc hỏạ Kết quả của nghiờn cứu cú sự khỏc biệt so với nghiờn cứu của Nguyễn Thị Ngọc Phượng và Phạm Gia Đức [27][10]. Theo 2 tỏc giả này, tỷ lệ cú cỏc cơn bốc hỏa là 60,5% và 41,4% tại thành phố Hồ Chớ Minh. Sự khỏc biệt này là do ủối tượng nghiờn cứu, thời ủiểm nghiờn cứu của cỏc tỏc giả khỏc nhau và khỏc với nghiờn cứu của chỳng tụị Tuy nhiờn, cỏc nghiờn cứu ủều chỉ ra cơn bốc hỏa là rối loạn vận mạch hay gặp nhất ở phụ nữ giai ủoạn nàỵ
* Rối loạn về cơ, xương, khớp
Kết quả bảng 3.6 cho thấy triệu chứng chớnh về rối loạn cơ, xương, khớp là ủau khớp (chiếm 42%). Ngoài ra, phụ nữ quanh món kinh cú một số rối loạn về cơ, xương, khớp khỏc như mỏi dọc gỏy (16%); chuột rỳt (6%). Đau khớp là triệu chứng gặp tỷ lệ cao nhất trong nhúm nghiờn cứu, cao hơn cỏc triệu chứng rối loạn ở cỏc hệ khỏc
Kết quả này khỏ phự hợp với cỏc nghiờn cứu của Ho S.C tại Trung Quốc, Nguyễn Thị Ngọc Phượng và Trần Thị Tụ Chõu [55],[27],[4]. Cỏc nghiờn cứu cho thấy triệu chứng về cơ, xương, khớp chiếm tỷ lệ cao nhất trong cỏc rối loạn của phụ nữ món kinh. Theo Nguyễn Thị Ngọc Phượng, triệu chứng cơ xương khớp chiếm tỷ lệ là 67%, theo Trần Thị Tụ Chõu,
triệu chứng này là 73,9%- 82,3%. Kết quả của tụi thấp hơn do nghiờn cứu tại nhúm ủối tượng là những phụ nữ quanh món kinh, khụng phải là những phụ nữủó món kinh thực sự.
* Rối loạn về tiết niệu
Rối loạn về tiết niệu là biểu hiện thường thấy ở phụ nữ cú tuổi, ủặc biệt thường hay xảy ra ở giai ủoạn quanh món kinh. Cỏc triệu chứng này bao gồm: bớ ủỏi, ủỏi khú, tiểu khụng tự chủ thường gặp ở khoảng 20- 25% số phụ nữ món kinh [40]. Kết quả nghiờn cứu này tại bảng 3.11 khỏ phự hợp với kết quả trờn. Theo nghiờn cứu cú 28,7% phụ nữ quanh món kinh cú biểu hiện sún ủỏi; 8,7% cú biểu hiện ủỏi rắt và 7,3% cú biểu hiện ủỏi buốt. Kết quả này thấp hơn so với nghiờn cứu của Nguyễn Thị Tõn Sinh (37,5%) [30] và Nguyễn Thị Ngọc Phượng (32,2%) [27] do sự khỏc nhau về ủối tượng và ủịa ủiểm nghiờn cứụ
Do thiếu estrogen nờn biểu mụ vựng tam giỏc của bàng quang bị teo, dễ bị kớch thớch nờn cú thể gõy triệu chứng ủỏi rắt, ủỏi buốt. Cỏc cơ vũng niệu ủạo - cổ bàng quang bị teo nhỏ, yếu nờn dễ bị hở gõy sún ủỏi hoặc ủỏi khụng tự chủ. Cơ bàng quang bị yếu nờn dễ gõy bớ ủỏị Tiểu tiện khụng tự
chủ cú liờn quan với tiền sử sản khoa do gõy ra sự lỏng lẻo của cấu trỳc cơ
vựng ủỏy chậụ