CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG PHẦN MỀM QUẢN LÝ NHÂN SỰ
3.1 Công cụ phần mềm
3.1.1 Phần mềm Visual Studio
Microsoft Viual Studio là một IDE được Microsoft phát triển để hỗ trợ các lập trình viên trong quá trình viết mã. Ngoài chức năng cơ bản là viết mã, build và debug, Visual Studio còn cung cấp cho người dùng những chức năng như:
- Làm việc nhóm thông qua Team Foundation Server của Microsoft.
- Advanced Breakpoints.
- Các phím tắt và plugins hỗ trợ người dùng thao tác nhanh trong việc viết mã.
- Wizard Classes.
- Tùy chỉnh liên kết các project, thư viện và tập tin liên quan.
Visual Studio là một môi trường phát triển tích hợp từ Microsoft. Nó được sử dụng để phát triển chương trình máy tính cho Microsoft Windows, cũng như các trang web, các ứng dụng web và các dịch vụ web. Visual Studio sử dụng nền tảng phát triển phần mềm của Microsoft như Windows API, Windows Forms, Windows Presentation Foundation, Windows Store và Microsoft Silverlight. Nó có thể sản xuất cả hai ngôn ngữ máy và mã số quản lý.
Visual Studio bao gồm một trình soạn thảo mã hỗ trợ IntelliSense cũng như cải tiến mã nguồn. Trình gỡ lỗi tích hợp hoạt động cả về trình gỡ lỗi mức độ mã nguồn và gỡ lỗi mức độ máy. Công cụ tích hợp khác bao gồm một mẫu thiết kế các hình thức xây dựng giao diện ứng dụng, thiết kế web, thiết kế lớp và thiết kế giản đồ cơ sở dữ liệu. Nó chấp nhận các plug-in nâng cao các chức năng ở hầu hết các cấp bao gồm thêm hỗ trợ cho các hệ thống quản lý phiên bản (như Subversion) và bổ sung thêm bộ công cụ mới như biên tập và thiết kế trực quan cho các miền ngôn ngữ cụ thể hoặc bộ công cụ dành cho các khía cạnh khác trong quy trình phát triển phần mềm.
Công cụ tích hợp khác nhau bao gồm mỗi mẫu thiết kế xây dựng giao diện ứng dụng, thiết kế web, thiết kế lớp và thiết kế giản đồ cơ sở dữ liệu.
Visual Studio hỗ trợ nhiều ngôn ngữ lập trình khác nhau và cho phép trình biên tập mã và gỡ lỗi để hỗ trợ hầu như mọi ngôn ngữ lập trình.
Tính năng:
- Trang khởi động hiệu quả hơn: phát triển ứng dụng nhanh hơn với các tùy chọn khởi động hữu ích, dễ sử dụng hơn.
- Tập trung vào những câu lệnh phổ biến nhất bằng cách tùy chọn ẩn một số menu và thanh công cụ nâng cao.
- IDE dựa trên WPF mới:trình soạn thảo mã code mới giúp bạn dễ dàng phóng to/thu nhỏ code, đánh dấu phương pháp tham khảo cùng những tính năng mạnh mẽ khác.
- Hỗ trợ nền tảng phát triển: cho dù bạn có phải là nhà phát triển phần mềm có kinh nghiệm hay không, bạn cũng có thể sử dụng Visual C# 2010 để thực hiện những ý tưởng sáng tạo trên hệ điều hành Windows.
NGÔN NGỮ C#
C# là một trong rất nhiều ngôn ngữ lập trình được hỗ trợ bởi .NET Framework (như C++, Java,VB…). Có thể hiểu đơn giản đây là một trung tâm biên dịch trong đó tất cả các ngôn ngữ được hỗ trợ bởi .NET Framework sẽ được chuyển đổi ra MSIL (một dạng mã trung gian) rồi từ đấy mới được biên dịch tức thời (Just in time Compiler – JIT Compiler) thành các file thực thi như exe. Một thành tố quan trong nữa trong kiến trúc .NET Framework chính là CLR (.NET Common Language Runtime), khối chức năng cung cấp tất cả các dịch vụ mà chương trình cần giao tiếp với phần cứng, với hệ điều hành.
C# có các đặc trưng sau:
- C# là ngôn ngữ đơn giản.
- C# là ngôn ngữ hiện đại.
- C# là ngôn ngữ hướng đối tượng.
- C# là ngôn ngữ mạnh mẽ.
- C# sẽ trở nên phổ biến.
Visual C# là một ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng được phát triển bởi Microsoft, là phần khởi đầu cho kế hoạch .NET của họ. Tên của ngôn ngữ bao gồm ký tự thăng theo Microsoft nhưng theo ECMA là C#, chỉ bao gồm dấu số thường.
Microsoft phát triển C# dựa trên C++ và Java. C# được miêu tả là ngôn ngữ có được sự cân bằng giữa C++, Visual Basic, Delphi và Java.
C# được thiết kế chủ yếu bởi Anders Hejlsberg kiến trúc sư phần mềm nổi tiếng với các sản phẩm Turbo Pascal, Delphi, J++, WFC, C#, theo một hướng nào đó là ngôn ngữ lập trình phản ánh trực tiếp nhất đến .NET Framework mà tất cả các chương trình .NET chạy và nó phụ thuộc mạnh mẽ vào Framework này. Mọi dữ liệu cơ sở đều là đối tượng, được cấp phát và hủy bỏ bởi trình dọn rác Garbage- Collector (GC), và nhiều kiểu trừu tượng khác chẳng hạn như class, delegate, interface, exception..., phản ánh rõ ràng những đặc trưng của .NET runtime.
So sánh với C và C++, ngôn ngữ này bị giới hạn và được nâng cao ở một vài đặc điểm nào đó, nhưng không bao gồm các giới hạn sau đây:
-Các con trỏ chỉ có thể được sử dụng trong chế độ không an toàn. Hầu hết các đối tượng được tham chiếu an toàn và các phép tính đều được kiểm tra tràn bộ đệm.
Các con trỏ chỉ được sử dụng để gọi các loại kiểu giá trị, còn những đối tượng thuộc bộ thu rác (garbage-collector) thì chỉ được gọi bằng cách tham chiếu.
-Các đối tượng không thể được giải phóng tường minh.
-Chỉ có đơn kế thừa, nhưng có thể cài đặt nhiều interface trừu tượng (abstract interfaces). Chức năng này làm đơn giản hóa sự thực thi của thời gian thực thi.
-Cú pháp khai báo mảng khác nhau("int[] a = new int[5]" thay vì "int a[5]").
-Kiểu thứ tự được thay thế bằng tên miền không gian (namespace).
-C# không có tiêu bản.
-Có thêm Properties, các phương pháp có thể gọi các Properties để truy cập dữ liệu.
3.1.2 Phần mềm SQL Server
Microsoft SQL Server 2008 là trái tim của một nền tảng dữ liệu toàn diện, cho phép bạn có thể truy cập và gia công dữ liệu cho doanh nghiệp từ các thiết bị khác nhau, các nền tảng và dịch vụ dữ liệu trong doanh nghiệp.
Tính năng:
Mã hóa dữ liệu: cho phép toàn bộ cơ sở dữ liệu, các bảng và dữ liệu có thể được mã hóa mà không cần phải lập trình ứng dụng. Trong SQL Server 2008, toàn bộ cơ sở dữ liệu đều có thể được mã hóa bằng SQL Engine. Phương pháp này mã hóa tất cả dữ liệu và các file bản ghi cho cơ sở dữ liệu. Bằng sử dụng phương pháp này, tất cả các chỉ mục và bảng cũng được mã hóa.
Backup có thể được mã hóa để ngăn chặn việc lộ và thay đổi dữ liệu. Sự thay đổi và truy cập dữ liệu có thể được thẩm định thêm vào việc thẩm định chuẩn cho logon/logoff và các thay đổi được phép, SQL Server 2008 cho phép kiểm tra sự thay đổi hay truy cập dữ liệu.
Fact Tables có thể được nén với hiệu suất cao. SQL Server Data Compression đã thực sự thực hiện được mục tiêu chính là giảm kích thước của Fact Table. Vì vậy liên quan với việc lưu trữ trên các ổ đĩa cứng, với các file vật lý nhỏ hơn, số lần backup được giảm.
Lưu bất kỳ kiểu dữ liệu nào: tập trung và tối ưu hóa kho lưu trữ dữ liệu cho các ứng dụng bằng một loạt các kiểu dữ liệu trong SQL Server 2008 có hỗ trợ cho:
- Dữ liệu quan hệ.
- Các tài liệu XML.
- Filestream.
Dữ liệu không gian và dựa trên vị trí địa lý.
Lợi dụng những điểm tối ưu trong lưu trữ dữ liệu của SQL Server 2008 như kiểu dữ liệu VARDECIMAL, đây là kiểu dữ liệu cho phép tối thiểu hóa được khoảng trống cần thiết cho việc lưu dữ liệu số, những hỗ trợ mới cho Sparse Columns đã giảm được việc lưu trữ các overhead của dữ liệu “null”.
Tài nguyên chủ có thể được bảo đảm an toàn. Quản lý tài nguyên - Resource Governor - trong SQL Server 2008 cũng là một điểm mới. Governor được sử dụng để hạn chế người dùng hoặc nhóm người dùng chi phối các lớp tài nguyên mức cao.
Điểm mới trong SQL Server 2008 phải kể đến nữa là Performance Studio. Studio là một trong các công cụ hiệu suất. Cùng với đó chúng có thể được sử dụng cho việc kiểm tra, xử lý sự cố, điều chỉnh và báo cáo. Thành phần Data Collector của Studio
có thể cấu hình. Nó hỗ trợ một số phương pháp chọn gồm có các truy vấn TSQL, SQL Trace, và Perfmon Counters. Dữ liệu cũng có thể được chọn bằng lập trình.
Khi dữ liệu được chọn, có các tùy chọn báo cáo chung.
SQL 2008 hỗ trợ Hot Plug CPU trong SQL Server 2008, các CPU cắm thêm có thể được bổ sung vào nếu phần cứng của hệ thống hỗ trợ nó.
Bộ đếm hiệu suất được mở rộng. Số bộ đếm hiệu suất trong SQL Server 2008 đã được mở rộng hơn so với phiên bản trước đó. IO và các bộ đếm hiệu suất bộ nhớ là một cặp có thể được chọn để kiểm tra hiệu suất. Dữ liệu đã được chọn bằng bộ đếm sẽ được lưu trong trung tâm lưu dữ liệu tập trung. Microsoft phát biểu rằng việc chạy thiết lập hiệu suất mặc định liên quan đến các kiểm tra sẽ tốn ít hơn 5%
tài nguyên bộ nhớ và CPU.Có một công cụ Performance Dashboard có thể đọc dữ liệu hiệu suất đã được lưu.
Việc cài đặt đã được đơn giản hóa. Bộ đặt SQL Server 2008 cũng có nhiều nâng cao. Dữ liệu cấu hình và các bit “engine” được tách biệt vì vậy nó có thể tạo một đĩa hệ thống không cấu hình cơ bản phân phối đến một số máy chủ dễ dàng hơn. Cài đặt có thể cập nhật được các nâng cấp mới nhất từ website Microsoft. Tính năng khác là khả năng cài đặt SQL Server, gói dịch vụ và các bản vá. Đi cùng với tính năng này là khả năng gỡ bỏ cài đặt các gói dịch vụ một cách dễ dàng.
3.1.3 Phần mềm Rational Rose
Rational Rose là một công cụ lập mô hình trực quan mạnh trợ giúp bạn phân tích và thiết kế các hệ thống phần mềm hướng đối tượng. Nó được dùng để lập mô hình hệ thống trước khi bạn viết mã (code). Dùng mô hình, có thể bắt kịp những thiếu sót về thiết kế, trong khi việc chỉnh sửa chúng vẫn chưa tốn kém.
Mô hình Rose là bức tranh về một hệ thống từ nhiều góc nhìn khác nhau. Nó bao gồm tất cả các sơ đồ UML, các actor, các use case, các đối tượng, các lớp, các thành phần. Nó mô tả chi tiết nội dung mà hệ thống sẽ gộp và cách nó sẽ làm việc.
Có thể xem một mô hình Rose tương tự như bản thiết kế mẫu. Giống như một căn nhà có nhiều bản thiết kế mẫu cho phép các thành viên trong đội xây dựng xem xét nó từ nhiều góc nhìn khác nhau như: hệ thống ống nước,hệ thống điện, hệ thống nền.
Một mô hình Rose chứa đựng các sơ đồ khác nhau cho phép các thành viên trong nhóm đề án xem hệ thống từ các góc nhìn khác nhau như: khách hàng, nhà thiết kế, quản trị đề án.
Khi đã có được bản thiết kế thì sẽ giảm bớt một số vấn đề phiền phức như:
lập trình theo truyền thống thì khi hoàn tất đề án, sau một thời gian sử dụng khách hàng yêu cầu thêm một vài chức năng nào đó vì có cập nhật mới thì người lập trình phải xem lại toàn bộ hệ thống rồi sau đó mới cập nhật. Điều này tốn rất nhiều thời gian. Nay nhờ có bản thiết kế thì chỉ cần xem cập nhậtđó nằm ở phần nào, chỉnh sửa và nâng cấp hệ thống. Điều đó sẽ linh hoạt vàgiảm rất nhiều thời gian.