PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Một phần của tài liệu Doc thu sieu ky nang luyen de megabook (Trang 20 - 32)

Hai đoạn văn trên liên kết với nhau bằng phép lặp (lặp từ “Hà Nội”), cùng nói tới đối tượng là Hà Nội và bày tỏ cảm xúc của người viết với mảnh đất này.

Câu 2 (0.5 điểm)

Nội dung chính của đoạn trích: Từ ý thức sâu sắc về vị trí và vẻ đẹp của Hà Nội ba mươi sáu phố phường, đoạn trích bày tỏ lòng yêu mến, niềm tự hào của tác giả với thủ đô Hà Nội. Đó cũng là tình cảm của bao người dân Việt Nam nói chung và người Hà Nội nói riêng dành cho thủ đô yêu dấu. Đoạn trích cũng khơi gợi khuyến khích chúng ta yêu mến hơn nữa Hà Nội dù Hà Nội đổi thay với cả vẻ tốt hay xấu, gắn bó với Hà Nội dù nó có cả đẹp đẽ và lầm than.

Câu 3 (0.5 điểm)

Học sinh có thể diễn đạt theo cách khác nhau nhưng phải hợp lý, có sức thuyết phục. Sau đây là gợi ý:

- Tác giả Thạch Lam đã nói hộ bao người tình cảm yêu mến, gắn bó tự hào với thủ đô yêu dấu.

- Ý thức thủ đô Hà Nội giữ vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị văn hóa của cả nước. Đây là mảnh đất ngàn năm văn hiến, là trái tim hồng của cả nước.

- Hà Nội ngày nay đang diễn ra sự giao thoa giữa cái cũ và cái mới. Giữa những nhộn nhịp, hiện đại người ta vẫn tìm thấy những nét gia phong, xưa cũ mang đậm bản sắc văn hóa của đất kinh kì từ kiến trúc đến nếp nghĩ, nếp sống của con người. Người Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung cần có ý thức giữ gìn, phát huy những truyền thống đẹp đẽ của dân tộc, xây dựng thủ đô thân thiện, hòa bình, truyền thống mà văn minh.

Câu 4 (0.5 điểm)

Bài thơ được chia làm hai phần.

- Phần 1( 4 câu thơ đầu): Sức tàn phá của thời gian.

- Phần 2 (3 câu cuối): những điều có sức sống mãnh liệt, trường tồn với thời gian.

Câu 5 (0.25 điểm)

Từ “còn xanh” trong hai câu thơ 5 và 6 diễn tả sự tồn tại mãi mãi với thời gian Câu 6 (0.25 điểm)

Đặc sắc nghệ thuật của hai phần trong bài thơ là: 1. Sử dụng biện pháp tương phản, đối lập.

Câu 7  (0.5 điểm)

- Thời gian trôi nhanh, không dừng lại. Thời gian từ từ, lặng lẽ tàn phá dần từng phần cuộc đời con người. Kỉ niệm của đời người cũng rơi vào quên lãng, vô tăm tích như hòn sỏi rơi vào cái giếng cạn chẳng có tiếng vang gì. Thời gian xóa nhòa tất cả, thời gian tàn phá cuộc đời con người.

- Nhưng có những điều nằm ngoài quy luật băng hoại của thời gian: văn học nghệ thuật và kỉ niệm về tình yêu.

- Niềm tin tưởng và thái độ trân trọng đối với văn học nghệ thuật và tình yêu đôi lứa.

II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (3.0 điểm)

Về hình thức: 0.5 điểm Về sáng tạo:0.25 điểm

Xác định đúng vấn đề nghị luận:(0.5 điểm)

Hiện trạng học sinh không thích học môn Lịch sử và hiểu biết hạn chế về lịch sử nước nhà.

Triển khai vấn đề nghị luận:

Mở bài

+ Giới thiệu câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn:

“Dân ta phải biết sử ta

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

+ Giới thiệu hiện tượng: Kì thi THPT Quốc gia năm 2015, nhiều điểm thi trên cả nước “nghỉ sớm” vì không có thí sinh dự thi môn lịch sử. Có điểm thi, cả Hội đồng thi chỉ phục vụ một thí sinh. Đây là một biểu hiện của hiện trạng học sinh không thích học môn Lịch sử và hiểu biết hạn chế về lịch sử nước nhà như hiện nay.

Thân bài

+ Giải thích ý kiến: (0.25 điểm)

• Câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở về ý thức, trách nhiệm hiểu biết lịch sử của mỗi công dân từ đó khơi gợi vai trò ý nghĩa của lịch sử nói chung và bộ môn lịch sử nói riêng trong giáo dục. Lịch sử chính là điểm tựa của chúng ta, là nơi hội tụ, kết tinh những giá trị tinh thần vô giá của dân tộc, của các thế hệ cha ông. Lịch sử giúp cho chúng ta có quyền tự hào và tin tưởng vào truyền thống anh hùng, bất khuất, mưu trí, sáng tạo của tổ tiên và hy vọng vào tiền đồ, tương lai tươi sáng của dân tộc.

• Nhưng hiện tượng trong kì thi THPT Quốc gia đã cho thấy tình trạng học sinh quay lưng với môn lịch sử, không thích học môn lịch sử từ đó gợi ra vấn đề đang ngày càng trở nên phổ biến hiện nay đó là sự hiểu biết hạn chế về lịch sử nước nhà của thế hệ trẻ.

+ Bàn luận: (1.25 điểm)

• Nêu thực trạng: Việc học sinh không thích học môn lịch sử và ít hiểu biết về truyền thống dựng nước, giữ nước vẻ vang của dân tộc là điều có thật và là một thực tế đau lòng cho nền giáo dục đất nước: Học sinh xé đề cương ôn thi môn lịch sử và rải trắng khắp trường khi nghe tin môn này không có trong danh sách các môn thi tốt nghiệp (năm 2013); Học sinh mừng rỡ khi lịch sử không còn là môn thi bắt buộc mà là môn thi tự chọn; ít học sinh đăng ký thi môn Lịch sử theo hình thức tự chọn (năm 2014). Hằng năm, kết quả điểm thi môn lịch sử (kể cả thi tốt nghiệp và thi tuyển sinh đại học) thấp một cách bất thường.Năm 2015, kì thi THPT QG diễn ra nhiều điểm thi trên cả nước “nghỉ sớm” vì không có thí sinh dự thi môn lịch sử.

Có điểm thi, cả Hội đồng thi chỉ phục vụ một thí sinh. Ít người trả lời thông suốt những câu hỏi về lịch sử trong các kỳ thi trên truyền hình, kể cả những người được xem là học tốt, học giỏi; học sinh gần di tích lịch sử cũng không biết lịch sử di tích gần mình. Lúng túng khi được hỏi về các nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử nổi bật

được lấy tên đặt cho các đường, các phố trong nhiều đô thị, không biệt phân biệt triều đại, các vị vua. Chương trình Chuyển động 24h của VTV thực hiện phóng sự ngắn tại hai tuyến phố lịch sử Tây Sơn và Đặng Tiến Đông với câu hỏi rất đơn giản về vua Quang Trung - Nguyễn Huệ. Câu hỏi về mối quan hệ giữa hai cái tên Quang Trung - Nguyễn Huệ cho các em ở lứa tuổi học sinh. Các em đã khiến hầu hết người nghe phải bàng hoàng khi đưa ra câu trả lời Quang Trung - Nguyễn Huệ là hai bố con, hai anh em, bạn thân chiến đấu. Thậm chí, trong phóng sự, có một em học sinh còn chắc chắn như đinh đóng cột rằng “Quang Trung là nhà thơ, trường con chính làtrường của ông ấy - trường Nguyễn Du, mà Nguyễn Du chính là ông QuangTrung”.  Phóng sự ngắn trên một lần nữa gióng lên hồi chuông báo động lỗ hổng lớn về kiến thức lịch sử của học sinh Việt Nam.

• Nguyên nhân: Có nhiều nguyên nhân đơn cử như: chương trình, sách giáo khoa lịch sử khô cứng, không hấp dẫn; nhiều mốc thời gian, sự kiện khó nhớ khó thuộc gây ra sự rối loạn cho học sinh; thầy, cô dạy không có phương pháp tích cực, hiệu quả và thiếu nhiệt tình, không truyền được niềm đam mê, sự hứng thú lịch sử cho học sinh. Phía các kênh tuyên truyền: nặng về cung cấp thông tin một chiều. Phía cá nhân học sinh: bị thu hút quá mạnh vào những trò giải trí hấp dẫn quanh mình, bị chi phối của quan niệm thực dụng về việc học và việc chọn nghề sau này, quá ít người đọc các sách, các tài liệu về lịch sử. Học sinh không lựa chọn thi lịch sử vì khi thi sử thì các em không có nhiều cơ hội đa dạng về ngành nghề.

• Tuy nhiên vẫn có học sinh không chọn lịch sử làm môn thi không có nghĩa là các em không hiểu biết về lịch sử.

• Giải pháp: Đó là phải thay đổi nhận thức của các cấp quản lý giáo dục, thầy cô giáo đến cha mẹ học sinh và toàn xã hội về vai trò của môn lịch sử trong giáo dục con người nói chung, giáo dục nhân cách thế hệ trẻ nói riêng. Phải có sự thay đổi mang tính cách mạng về quan niệm, nhận thức đối với môn lịch sử ở cấp học phổ thông. Hiện nay các thầy cô giáo đã tích cực đổi mới phương pháp dạy học môn lịch sử để gây nên hứng thú, niềm tự hào dân tộc trong học sinh. Đề thi lịch sử cũng đã bắt đầu có sự đổi mới…Phải tích lũy kiến thức lịch sử một cách nghiêm túc hơn, tìm thấy hứng thú ở những câu chuyện nói về truyền thống hào hùng của cha ông. Phải nuôi dưỡng không ngừng lòng tự hào dân tộc.

+ Rút ra bài học nhận thức và hành động: (0.25 điểm)

• Cần nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng của môn lịch sử để từ đó ra sức tìm tòi, học tập, nghiên cứu về nhưng chiến công hiển hách của cha ông trong lịch sử. Lịch sử là điểm tựa của hiện tại và tương lai. Tất cả chúng ta cần phải hăng hái, tự giác học lịch sử nước nhà để có thể đón nhận được những thông tin, tiếp thu được những kinh nghiệm quí báu từ xa xưa.

• Phê phán những các nhân đi ngược lại lịch sử đất nước, đi ngược lại truyền thống tốt đẹp từ ngàn đời nay của dân tộc:

Kết bài

Hơn lúc nào hết trong bối cảnh hội nhập để giữ vững nền độc lập, chủ quyền của dân tộc, hiểu về lịch sử dân tộc là cần thiết       

“Dân ta phải biết sử ta

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.

Câu 2 (4.0 điểm)

Về hình thức: (0.5 điểm) Về sáng tạo:(0.5 điểm) Về nội dung:

Xác định đúng vấn đề nghị luận:(0.5 điểm)

Hình tượng nhân dân anh hùng trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành.

Cụ thể như sau: (2,5 điểm)

Mở bài

+ Giới thiệu tác giả (phong cách sáng tác của tác giả): Nguyễn Trung Thành là kiểu nghệ sĩ, chiến sĩ, ông nhập ngũ từ năm mười tám tuổi. Bao năm khoác áo lính đã giúp ông có một vốn kiến thức sâu sắc về chiến tranh và Tây Nguyên.

Ngòi bút của Nguyễn Trung Thành chỉ thực sự thăng hoa khi viết về chiến tranh, về Tây Nguyên với cảm hứng sử thi, anh hùng ca.

+ Giới thiệu tác phẩm, vấn đề nghị luận: “Rừng xà nu” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách sáng tác của nhà văn. Ở đó, người đọc bắt gặp một hình tượng đẹp đẽ - hình tượng nhân dân anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.

Thân bài

+ Tiền đề phân tích:

• Giới thiệu xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác:

“Rừng xà nu” được hình thành năm 1965. Đây là thời điểm đế quốc Mĩ mở cuộc chiến tranh ào ạt tấn công đổ bộ vào Quảng Nam - Đà Nẵng. Nguyễn Trung Thành tham gia vào cuộc chiến đấu của nhân dân chống quân xâm lược và bè lũ tay sai. Xúc động bởi hình ảnh của những con người dũng cảm bảo vệ quê hương, khi trở về, ông dự định viết một truyện ngắn về cuộc kháng chiến của nhân dân ở nơi đây. Nhưng hình ảnh những cánh rừng xà nu bạt ngàn xanh bất tận của Tây Nguyên đã để lại ám ảnh sâu sắc trong ông. Và “Rừng xà nu” ra đời từ cảm hứng đó. Sau, tác phẩm được đưa vào tập truyện kí “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc” (1969).

• Nêu nội dung chính và nghệ thuật tiêu biểu của đoạn trích:

Rừng xà nu là một thiên truyện mang ý nghĩa và vẻ đẹp của một khúc sử thi trong văn xuôi hiện đại. Với lời văn trau chuốt, giàu hình ảnh, tác phẩm đã tái hiện được vẻ đẹp tráng lệ, hào hùng của núi rừng, của con người và của truyền thống văn hóa Tây Nguyên.

Thông qua câu chuyện về những con người ở một bản làng hẻo lánh, bên những cánh rừng xà nu bạt ngàn, xanh bất tận, tác giả đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa lớn lao của dân tộc và thời đại: Để cho sự sống của đất nước và nhân dân mãi mãi trường tồn, không có cách nào khác hơn là phải cùng nhau đứng lên, cầm vũ khí, chống lại kẻ thù tàn ác.

+ Trọng tâm phân tích: Hình tượng nhân dân anh hùng trong tác phẩm:

• Khái quát:

Nhân dân anh hùng là cụ Mết, Tnú, Mai, Dít, bé Heng, anh Xút, bà Nhan,…

Họ mang trong mình nét đẹp của những người anh hùng trong sử thi nhưng cũng rất hiện đại: Yêu đất nước; gắn bó với quê hương; căm thù giặc; trung thành với lí tưởng cách mạng; tinh thần, khí phách dũng cảm, hiên ngang, bất khuất. Họ là những chiến sĩ tiêu biểu trong cuộc chiến tranh nhân dân thời đại đánh Mĩ. Trong họ sáng ngời chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc ta.

• Chứng minh qua từng nhân vật:

Cụ Mết: đại diện cho thế hiện đi trước.

Cụ tiêu biểu cho sức mạnh tinh thần và vật chất có tính chất truyền thống và cội nguồn của Tây Nguyên. Trong một bài hồi ức chính Nguyễn Trung Thành đã viết “Ông là cội nguồn, là Tây Nguyên của thời đất nước đứng lên còn trường tồn đến hôm nay ông như lịch sử bao trùm, như không che lấp đi sự đi tới nối tiếp và mãnh liệt, ngày càng mãnh liệt lớn, sành sỏi và tự giác lớn của các thế hệ sau”.

Với vai trò là già làng, trưởng bản, cụ là người giữ ngọn lửa truyền thống anh hùng từ thế hệ trước đến các thế hệ sau. Cụ là người chỉ huy trực tiếp cuộc kháng chiến ở làng Xô-Man, một người chỉ huy sáng suốt giàu uy lực. Mỗi lời cụ Mết nói đều mang âm vang của sự từng trải, không phải là sự âm vang cua một cuộc đời người mà còn của cả một dân tộc. Chúng mạnh mẽ và dứt khoát như “dao chém xuống đá, rạ chém xuống đất”: “Đảng còn núi nước này còn”,

“nhớ lấy ghi lấy. Sau này tao chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu, chúng nó đã cầm súng mình phải cầm giáo” cụ rất có ý thức về giáo dục cho lũ con cháu. Bên bếp lửa nhà ưng, Cụ kể lại câu chuyện về cuộc đời Tnú là để răn dạy bài học cách mạng và ý thức làm cách mạng cho thế hệ cháu con, thổi vào họ lòng yêu nước, lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng.

Những lời khen tặng của cụ tuy rất tiết kiệm nhưng có ý nghĩ động viên rất lớn. Những khi vừa ý cụ chỉ nói “được” mà không bao giờ khen tốt, giỏi, xong cũng chính cụ không giấu che niềm kiêu hãnh chính đáng về miền đất quê hương: “không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta. Cây mẹ ngã cây con mọc lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này”.

Hình ảnh cụ Mết cầm giáo chỉ huy đám thiếu niên diệt ngọn bọn lính ngụy để cứu Tnú và bắt đầu cuộc khởi nghĩa, đẹp một cách lẫm liệt cụ xứng đáng là trụ cột của cả làng Xô-Man trong những thử thách ghê gớm nhất. Do hiểu sâu sắc điều đó khi cụ tả cụ Mết, tác giả thường mượn những đặc tính của cây xà nu biểu tượng của Tây Nguyên bất khuất làm đối tượng so sánh: “ngực cụ căng như một cây xà nu lớn” còn bàn tay nặng như sắt của cụ thì sần sùi như vỏ cây xà nu. Tiếng nói của cụ cũng thật đặc biệt; nặng trịch, ồ ồ, dội vang trong lòng ngực tưởng như âm vọng của cả núi rừng.

Hình ảnh cụ Mết thực tế đã tạo thành một cơ sở quan trọng cho giọng văn trầm hùng vang vọng mang đậm chất sử thi của tác phẩm.

Mai, Dít: thế hệ trẻ là hình ảnh hiện thân của những người phụ nữ anh hùng thời đại mới ở Tây Nguyên.

Tham gia cách mạng từ bé (làm liên lạc, góp phần che giấu cán bộ).

Khi có giặc “người con gái ở nhà nuôi cái cùng con” (thể hiện ở nhân vật Mai).

“Ngày giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” (thể hiện ở nhân vật Dít).

Dít trưởng thành, vững vàng hơn trong đấu tranh cách mạng.

Bé Heng: thế hệ mầm non, tương lai của cách mạng.

Trong tác phẩm,hình ảnh nhanh nhẹ hoạt bát và ngây thơ cuả chú bé Heng dù xuất hiện thoáng qua cũng đã để lại những ấn tượng tốt đẹp cho người đọc tin tưởng vào cuộc đấu tranh của dân tộc mình khi có những người như thế.

Được sinh ra trong chiếc nôi giàu truyền thống cách mạng, cậu bé là hình ảnh của lớp thiếu niên đã trưởng thành tiếp bước con đường của cha anh. Chưa ai hình dung nổi chú bé Heng  kia lớn  lên sẽ lập được những chiến công gì nhưng ta biết chắc chắn những người như chú sẽ không làm hổ mặt làng Xô-Man giàu truyền thông, chú sẽ như cây xà nu lớn lên vượt qua bom đạn của kẻ thù, góp phần làm nên màu xanh trường cửu của những rừng xà nu tít tắp chạy đến chân trời.

Tnú: nhân vật trung tâm của tác phẩm, đại diện cho lực lượng nòng cốt tiến công của thời đại cách mạng; cho số phận và phẩm chất anh hùng của cả cộng đồng.

Tnú gan góc, táo bạo, dũng cảm, trung thực:

Ngay từ bé anh đã sống tuổi thơ phi thường. Tnú làm liên lạc - công việc của những con người dũng cảm. Giữa lúc địch khủng bố gắt gao thì Tnú và Mai là những đứa trẻ nhanh nhẹn nhất đi làm cách mạng. Được anh Quyết - cán bộ cách mạng dạy chữ, Tnú học chữ thua Mai đã lấy đá đập vào đầu mình đến chảy máu. Phải chăng đó là hành động của lòng tự trọng? Nhưng Tnú đã dẹp sự kiêu hãnh đó của mình lại để nhờ Mai chỉ cho việc học chữ với mong muốn làm cán bộ cách mạng. Làm liên lạc thì đầu óc Tnú sáng lắm “Không bao giờ nó đi đường mòn… nó leo lên một cây cao nhìn quanh một lượt rồi xé rừng mà đi”,

Một phần của tài liệu Doc thu sieu ky nang luyen de megabook (Trang 20 - 32)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(32 trang)