Tính toán OBV được định nghĩa tính toán như sau

Một phần của tài liệu Phân tích kỹ thuật chứng khoán (Trang 26 - 29)

Gọi i là giao dịch ngày hôm nay, i – 1 là giao dịch của ngày hôm trước.

- Nếu giá đóng cửa phiên ngày hôm nay cao hơn phiên trước:

OBVi = OBVi – 1 + khối lượng giao dịch ngày i

- Nếu giá đóng cửa ngày hôm nay thấp hơn ngày hôm trước:

OBVi = OBVi – 1 – khối lượng giao dịch ngày i

- Nếu giá đóng cửa ngày hôm nay bằng với hôm trước:

OBVi = OBVi – 1

Phương pháp phân tích bằng OBV sử dụng phương hướng của OBV trên đồ thị chứ không dựa vào giá trị cụ thể của OBV, nghĩa là giá trị của OBV không quan trọng. Vì vậy có thể quy ước OBV của thời điểm i = 0 hoặc i = –1 sử dụng làm gốc đồ thị có giá trị OBV = 0

2. Ý nghĩa

OBV là giá trị tích lũy khối lượng giao dịch thành công trải các phiên cộng thêm khối lượng giao dịch nếu tăng giá và trừ đi khối lượng giao dịch nếu giảm giá. Ý nghĩa của OBV đánh giá sức tăng hoặc giảm của giá dựa trên khối lượng được giao dịch thành công.

Nếu giá tăng nhưng khối lượng giao dịch nhỏ, đồ thị OBV tăng chậm, giá giảm nhưng khối lượng giao dịch nhỏ, đồ thị OBV giảm chậm. Nếu giá tăng với khối lượng giao dịch lớn OBV tăng mạnh, nếu giá giảm với khối lượng giao dịch lớn thì OBV giảm mạnh.

Như vậy căn cứ vào sức tăng của OBV và việc hình thành phân kỳ âm hoặc dương của OBV để kết luận và khẳng định tính chắc chắn của xu thế tăng hoặc giảm giá hiện tại.

Ví dụ về OBV của Chứng chỉ quỹ VF1 (Ảnh OBV 1)

(Nguồn đồ thị: www.vietstock.com.vn )

- Tại thời điểm số (1), tuy giá cả đang lên nhưng có sự chững lại về khối lượng giao dịch, OBV tăng nhẹ không đáng kể, dự đoán thời kỳ thay đổi xu thế sắp bắt đầu.

- Tại thời điểm số (2), giá giảm, khối lượng giao dịch giảm, OBV giảm nhẹ không đáng kể. Đây là thời điểm ngày 03 và 04/05/2007 khi VF1 thay đổi giá trị phát hành và được cho là “lừa” Nhà đầu tư.

Diễn biến thị trường lúc đó số lượng đặt bán tăng rất mạnh nhưng số lượng mua vào ít, giá của VF1 giảm mạnh nhưng khối lượng giao dịch thành công không lớn.

Xét ví dụ khác về OBV của công ty Cổ phần cáp treo núi Bà Tây Ninh TCT (Ảnh OBV 2)

(Nguồn đồ thị: www.vietstock.com.vn )

- Trong giai đoạn từ cuối tháng 4 cho đến đầu tháng 6, giá cổ phiếu của TCT liên tục tăng, đồ thị RSI cho thấy giao dịch của cổ phiếu này ở trạng thái siêu mua. Tuy nhiên OBV tăng rất nhẹ thể hiện khối lượng giao dịch trên thị trường rất nhỏ. Đây là thời điểm TCT bị nghi đang làm giá: những người nắm phần lớn cổ phiếu này đặt lệnh mua rất lớn và đặt lệnh bán rất nhỏ giọt nên giá tăng nhưng khối lượng giao dịch mỗi phiên không lớn, dư mua sau mỗi phiên còn rất nhiều.

3. Sử dụng

Như đã biết sử dụng OBV cần phải dựa vào tính chất lên xuống tăng giảm của OBV chứ không phải dựa vào giá trị: cụ thể là tính chất phân kỳ âm và phân kỳ dương để xác nhận tăng phần chắc chắn của khẳng định về xu thế tăng hoặc giảm của giá.

- Nếu đồ thị OBV thể hiện một phân kỳ âm trong khi giá đang có xu thế lên, điều này cảnh báo về khả năng thay đổi xu thế của giá sang giảm. Nguyên nhân là các phiên giá giảm có khối lượng giao dịch xen lẫn các phiên giá tăng có khối lượng giao dịch nhỏ. Điều này có nghĩa là giữa các phiên tăng

giá do cầu lớn và khan hiếm hàng dẫn đến khối lượng giao dịch nhỏ, đã xuất hiện xen kẽ những phiên giảm giá do một số Nhà đầu tư bán ra vì cảm thấy được giá dẫn đến khối lượng khớp lớn. Vậy xu thế tăng giá đã bắt đầu suy yếu.

- Nếu đồ thị OBV thể hiện một phân kỳ dương trong khi giá đang có xu thế giảm, điều này cảnh báo về khả năng thay đổi xu thế của giá sang tăng. Nguyên nhân là các phiên giá tăng có khối lượng giao dịch lớn xen kẽ các phiên giảm giá có khối lượng giao dịch nhỏ. Điều này có nghĩa là giữa các phiên giảm giá do cung lớn và bán tháo hàng thừa dẫn đến khối lượng giao dịch nhỏ, đã xuất hiện xen kẽ những phiên tăng giá do một số Nhà đầu tư gom hàng vì cảm thấy giá hời dẫn khối lượng khớp lớn.

Vậy xu thế giảm giá đã bắt đầu suy yếu. Về vấn đề bán tháo và thu gom khi giá đang lên hoặc giảm, xem lại bài Phân tích kỹ thuật (7): Vấn đề khối lượng .

Xét ví dụ về giá cổ phiếu của công ty Cổ phiếu Nhựa Bình Minh - BMP (Ảnh PBV 3)

(Nguồn đồ thị: www.vietstock.com.vn)

- Trên đồ thị OBV có sự xuất hiện của phân kỳ dương trong khi trên đồ thị gia thể hiện một xu thế giá giảm. Điều này cảnh báo về sự xuất hiện trở lại của xu thế giá tăng.

Xét ví dụ về công ty Cổ phần nhựa Đã Nẵng – Doanh nghiệp (Ảnh OBV 4)

(Nguồn đồ thị: www.vietstock.com.vn )

- Trong giai đoạn giữa tháng 3, phân kỳ âm xuất hiện trên đồ thị giá và đồ thị OBV khẳng định xu thế giảm của giá.

- Trong giai đoạn cuỗi tháng 3 đầu tháng 4, thể hiện sự biến động dập dềnh của giá.

- Trong giai đoạn giữa tháng 5, phân kỳ dương xuất hiện trên đồ thị giá và đồ thị OBV khẳng định xu thế tăng của giá.

Phân tích kỹ thuật (9): A/D line - Đường tích lũy/ phân bổ

Sau khi chỉ số cân bằng khối lượng OBV ra đời , Marc Chaikin đã công bố đường tích lũy/phân bổ - Accumlation/Distribution Line A/D Line như một trong những phương pháp phân tích dựa vào tổng khối lượng tích lũy qua các phiên. Tuy nhiên khác với OBV chỉ thuần túy dựa khối lượng , A/D Line đưa thêm vào một hệ số điều chỉnh căn cứ theo giá đóng cửa qua mỗi phiên nhằm phản ánh chính xác hơn trạng thái của thị trường bằng sự kết hợp tính toán giữa giá và khối lượng.

1. Tính toán

Marc Chaikin sử dụng hệ số giá đóng tỷ lệ - Close Location Value CLV làm hệ số điều chỉnh căn cứ theo giá đóng cửa của cổ phiếu trong mỗi phiên:

CLV = ((C - L) - (H - C)) / (H - L) ) Trong đó

C là giá đóng cửa L là giá sàn 0020H là giá trần Theo công thức trên thì:

• Nếu giá đóng cửa tăng kịch trần thì CLV = +1

• Nếu giá đóng cửa giảm kịch sàn thì CLV = -1

• Nếu giá đóng cửa bằng giá tham chiếu thì CLV = 0

• Nếu giá đóng cửa trên giá tham chiếu và dưới giá trần thì CLV là số âm nằm trong khoảng 0 ..

+1

• Nếu giá đóng cửa dưới giá tham chiếu và trên giá sàn thì CLV là số âm nằm trong khoảng 0 ..

-1

Nếu như OBV đơn thuần sử dụng tổng tích lũy khối lượng thì A/D Line sử dụng tổng tích lũy khối lượng nhân với hệ số giá đóng tỷ lệ (Volume x CLV), nghĩa là:

Gọi A/D Linei là giá trị của đường tích lũy tại phiên i.

Khi đó: A/D Linei = A/D Linei – 1 + Volume x CLVCũng giống như OBV, A/D Line chỉ quan tâm đế phương hướng mà không để ý đến giá trị nên A/D Line0 hoặc A/D Line-1 được quy ước có giá trị bằng 0.

2. Ý nghĩa

OBV là giá trị tích lũy khối lượng giao dịch thành công đã có sự điều chỉnh về tỷ lệ tăng giá trải các phiên. Về ý nghĩa A/D Line cũng giống như OBV nhưng không giống OBV chỉ dựa thuần túy vào khối lượng giao dịch thành công để xét đoán tâm lý, hành vi Nhà đầu tư và trạng thái của thị trường, A/D Line còn thể hiện các yếu tố trên trong mối quan hệ với giá cả qua các phiên nhờ hệ số điều chỉnh CLV. Do có sự tham gia của giá và khối lượng, nên A/D Line có thể coi một dạng phân tích phản ánh dòng chảy tiền tệ vào và ra khỏi thị trường đối với loại cổ phiếu đang xem xét nên A/D Line cho nhiều tín hiệu và sự xác nhận hơn OBV.

Nếu OBV đánh giá sức tăng hoặc giảm của giá dựa trên khối lượng được giao dịch thành công và sự tăng giảm của giá.

Nếu giá tăng mạnh nhưng khối lượng giao dịch nhỏ hoặc giá giảm nhẹ nhưng khối lượng giao dịch lớn thì đồ thị A/D Line tăng chậm. Nếu giá giảm mạnh nhưng khối lượng giao dịch lớn hoặc giá tăng mạnh nhưng khối lượng giao dịch nhỏ thì đồ thị A/D Line giảm chậm. Chỉ khi khối lượng giao dịch lớn với giá tăng mạnh thì đồ thị A/D Line mới tăng mạnh và chỉ khi cả giá và chỉ khi khối lượng giao dịch lớn với giá giảm mạnh thì đồ thị A/D Line mới giảm mạnh.

Như vậy căn cứ vào sức tăng của A/D Line và việc hình thành phân kỳ âm hoặc dương của A/D Line để kết luận và khẳng định tính chắc chắn của xu thế tăng hoặc giảm giá hiện tại. Do có hệ số điều chỉnh CLV nên cách hiểu về ý nghĩa phân kỳ âm và phân kỳ dương của OBV sẽ có sự khác biệt cần phải điều chỉnh. Khi một phân kỳ âm xuất hiện, điều này nghĩa là đã có sự xen kẽ một số phiên bán tháo với khối lượng lớn với giá giảm mạnh, các phiên tăng tiếp theo có khối lượng nhỏ hoặc giá tăng không mạnh nên không thiết lập được đỉnh mới cao hơn đỉnh cũ.

Các hiện tượng này cảnh báo về sự suy giảm sức tăng của giá nếu giá đang ở xu thế tăng hoặc củng cố cho sức mạnh sụt giảm nếu giá đang trên xu thế giảm. Khi một phân kỳ dương xuất hiện, điều này nghĩa là đã có sự xen kẽ một số phiên thu gom với khối lượng lớn với giá tăng mạnh, các phiên tăng tiếp theo có khối lượng nhỏ hoặc giá giảm không mạnh nên không thiết lập được đáy mới thấp hơn đáy cũ.

Các hiện tượng này cảnh báo về sự suy giảm sức giảm của giá nếu giá đang ở xu thế giảm hoặc củng cố cho sức mạnh tăng nếu giá đang trên xu thế tăng.

Một phần của tài liệu Phân tích kỹ thuật chứng khoán (Trang 26 - 29)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(34 trang)
w