Ảnh hưởng về chính trị

Một phần của tài liệu chính sách “kinh tế chỉ huy” ở nam kỳ thời pháp – nhật (1939 1945) (Trang 89 - 93)

CHƯƠNG 3. ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH “KINH TẾ CHỈ HUY” ĐỐI VỚI NAM KỲ THỜI PHÁP – NHẬT (1939 – 1945)

3.2. Ảnh hưởng về chính trị

Qua những biện pháp vơ vét, bóc lột của chính quyền thực dân Pháp nói trên, mọi giai cấp, mọi tầng lớp nhân dân ở Nam Kỳ (trừ bọn tay sai đế quốc, địa chủ lớn, tư sản mại bản) đều bị ảnh hưởng của chính sách thực dân phản động và của chiến tranh đế quốc. Do đó ít nhiều đều có thái độ chống thực dân Pháp- phát xít Nhật, có cảm tình với cách mạng, tham gia hăng hái vào cuộc đấu tranh chống chính quyền đế

quốc và tay sai, giải phóng dân tộc.

Đến khi thực dân Pháp bắt lính người Việt ra mặt trận chết thay cho chúng (tháng ll-1940), nhân dân ta, nhất là binh lính người Việt rất bất bình và sôi sục khí thế đấu tranh. Tình thế cấp bách khiến cho Đảng bộ Nam Kỳ phải quyết định khởi nghĩa, tuy chưa có sự chuẩn y của Trung ương, lệnh đình chỉ khởi nghĩa của Đảng ngoài Bắc vào chậm. Trước ngày khởi sự, một số cán bộ chỉ huy bị bắt, kế hoạch khởi nghĩa bị lộ, thực dân Pháp tìm cách đối phó. Tuy vậy, cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra theo dự kiến vào đêm 22 rạng sáng ngày 23-11-1940 ở hầu khắp các tỉnh Nam Kỳ triệt hạ nhiều đồn bốt giặc, phá tan nhiều chính quyền địch, thành lập chính quyền nhân dân và toà án cách mạng ở nhiều địa phương. Cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện.

Thực dân Pháp đã dùng nhiều thủ đoạn dã man đàn áp cuộc khởi nghĩa. Chúng cho máy bay ném bom tàn sát nhân dân ở những vùng có phong trào nổi dậy, dùng dây thép xâu tay nhiều người vào nhau, đem phơi nắng cho đến chết hoặc nhấn chìm xuống biển. Chúng bắt đi đầy hàng nghìn chiến sĩ yêu nước, xử bắn một số chiến sĩ ưu tú của Đảng. Đặc biệt “Những vùng quanh Sài Gòn như Hóc Môn, Bà Điểm bị tàn phá nặng (…).Địch cho quân đi càn bắt những người tình nghi về tra tấn xét hỏi. Số người bị bắt đông quá đến nỗi không đủ nhà để giam, chúng phải đưa vào nhà máy Ba Son, nhốt vào một chiếc tàu hỏng hay sà lan đưa ra giữa sông” [66; tr.25]

Với những chính sách khủng bố như trên, các lực lượng yêu nước và cách mạng ở Nam Kỳ rơi vào tình trạng khủng hoảng. Trước cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (23.11.1940), lực lượng Đảng ở Nam Kỳ là mạnh nhất. Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng chọn Nam Kỳ là chỗ đứng chân từ nhiều năm. Do chính sách khủng bố của chính quyền Pháp ở Nam Kỳ sau khi chiến tranh thế giới II bùng nổ, cho tới đầu năm 1940 cơ sở Đảng ở Nam Kỳ đã thiệt hại khá nghiêm trọng, đặc biệt một số cán bộ cao cấp của Đảng, kể cả Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ, các nguyên bí thư như Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập, đều bị bắt. Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra và thất bại, toàn bộ hệ thống tổ chức của Đảng ở Nam Kỳ bị phá vỡ, phần lớn đảng viên và cán bộ của Đảng bị giết hại hoặc tù đày, các tổ chức quần chúng của Đảng cũng dường như không còn tồn tại. Đây là tổn thất to lớn không chỉ của Xứ Ủy Nam Kỳ

mà là của toàn Đảng, của phong trào yêu nước và cách mạng trên phạm vi toàn quốc.

Từ năm 1941 đến tháng 3/1945 là thời kỳ rất khó khăn của Đảng bộ Nam Bộ.

Phần lớn Đảng viên bị địch bắt cầm tù, nhiều đảng viên còn lại phải thường xuyên di chuyển sang các nơi khác để tránh sự truy lùng của địch. [25; tr. 285-286]

Cụ thể ở một số tỉnh như sau:

- Tại Vĩnh Long: Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Long đã trải qua một thời kỳ khủng bố trắng. Thực dân Pháp đã câu kết với các thế lực phản động của địa phương đi càn quét từng cánh đồng đế bắt các chiến sĩ cách mạng; chúng tàn sát đẫm máu những người cách mạng trong tỉnh. Tính riêng ở đây, đến cuối năm 1940 có 611 vụ bắt bớ, hầu hết các cơ sỏ Đảng trong tỉnh bị tan vỡ. Phong trào cách mạng trong tỉnh tạm lắng xuống. [20; tr. 231]

- Ở Sóc Trăng: Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, thực dân Pháp bắt bớ hàng trăm người, hàng chục Đảng viên và quần chúng cách mạng. Chúng đàn áp dã man đồng bào tham gia khởi nghĩa.Đặc biệt nơi mà thực dân Pháp đàn áp dã man nhất là xã Hòa Tú. Nơi đây, thực dân Pháp bắt bớ hàng trăm người, hàng chục đảng viên và quần chúng trong tổ chức. Trong đó có cả đồng chí Văn Ngọc Chính (bí thư chi bộ xã) và nhiều đồng chí khác. [20; tr. 257]

- Ở tỉnh Long Xuyên: Thực dân Pháp ra lệnh lùng sục, bắt bớ; ở nhiều nơi như Long Điền, Kiến An, Tân Mỹ, Tân Phú,… Nhiều nhà cách mạng bị bắt và giết như:

Lương Văn Cửu, Nguyễn Lương Dược, Lê Minh Ngươn, Huỳnh Văn Hay… Ngoài ra, thực dân Pháp còn bắt nhiều Đảng viên trong tỉnh đi đày ở Côn Đảo, Bà Rá.

Ngoài việc khủng bố đẫm máu, thực dân Pháp còn ra sức mua chuộc các phần tử xấu để làm tay sai. [20; tr. 310]

Riêng ở Bến Tre: Thực dân Pháp đã bắt trên 400 người tra khảo nhục hình.

Trong đó có các đồng chí trong tỉnh ủy, nhiều cán bộ Đảng viên bị tù đày. Đảng bộ Bến Tre bị tổn thất. Thực dân Pháp đàn áp đẫm máu như vậy, với mục đích là trả thù một cách tàn bạo nhất, đồng thời cũng để tiêu diệt tận gốc rễ phong trào cách mạng nơi đây. [20; tr. 334]

- Tại tỉnh Bạc Liêu: Địch ra sức càn quét, đốt phá những cơ sở cách mạng.

Chúng bắt bớ, tra khảo các chiến sĩ cách mạng rất tàn bạo. Theo số liệu của địch,

chúng bắt tổng cộng 228 người tham gia khởi nghĩa. Chúng mở các phiên xử và kết tội 84 đồng chí tham gia cách mạng. Chúng xử tử 10 đồng chí lãnh đạo phong trào như Quách Văn Phẩm, Phan Ngọc Hiển, Đỗ Văn Sến,…

- Còn ở Tây Ninh: Sau khởi nghĩa thất bại, phong trào cách mạng trong tỉnh bị khủng bố. Tại chợ Rạch Tràm, thực dân Pháp cho tập trung một đội lính lê dương lùng sục, đốt nhà của những đồng bào tham gia khởi nghĩa tại quận Châu Thành.

Ngoài ra, chúng còn ra lệnh thiết quân luật, trang bị súng ống cho bọn tay sai ở xã để đàn áp phong trào cách mạng. Vì vậy, một số Đảng viên phải dời vào rừng núi để tránh sự khủng bố. [20; tr. 289]

Tính chung sau khởi nghĩa Nam Kỳ, có khoảng 903 vụ bắt người ở vùng Gia Định, 2710 vụ ở Mỹ Tho, 1729 vụ ở Cần Thơ. [66; tr.25].

Bên cạnh các vụ bắt bớ, tù đày, thực dân Pháp còn mở rộng mạng lưới mật thẩm khắp nơi. Ngày 26/7/1943, Toàn quyền Decoux còn ký Nghị định cho phép những nhà thầu khoán hay những hội thầu khoán được phép dùng những thám tử của nhà nước để đạp vỡ từ trong trứng nước các cuộc đình công của thợ thuyền.

Như vậy, do ảnh hưởng bởi chính sách “kinh tế chỉ huy”, người dân Nam Kỳ không thể chịu nổi sự thống trị của bọn thực dân Pháp nên tiến hành khởi nghĩa. Tuy nhiên các cuộc khởi nghĩa đã thất bại. Chính quyền thực dân Pháp lợi dụng nguyên cớ này, tiến hành siết chặt hơn nữa sự kiềm kẹp về chính trị với nhân dân Nam Kỳ.

Bằng công điện khẩn số 5306, Toàn quyền Đông Dương Decoux đã hạ lệnh cho cấp dưới phải: “Đuổi và bắt không thương tiếc những tên “phiến loạn” ở Nam Kỳ, đối với những người đang bị giam giữ thì phải canh phòng cẩn mật, tuyệt đối không có liên lạc với bên ngoài”.[25; tr. 287]

Chính những hành động đàn áp như trên của chính quyền thực dân Pháp đã làm cho phong trào cách mạng Nam Kỳ có những tổn thất nhất định. “Cho tới trước cuộc đảo chính Nhật – Pháp (9/3/1945), mặc dù đã rất cố gắng nhưng Đảng vẫn không thể khôi phục được tổ chức, lực lượng và ảnh hưởng tại Nam Kỳ. Một số cán bộ Đảng viên thoát được sự truy đuổi của kẻ thù cũng chủ yếu là tạm thời hoạt động, hoặc hoạt động kém hiệu quả. Sự khủng hoảng của phong trào yêu nước và cách mạng chính là một yếu tố thuận lợi cho sự bành trướng thế lực của các lực lượng “ dân tộc

chủ nghĩa” khác, trong đó có các nhóm thân Nhật ở Nam Kỳ (giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo).” [19; tr. 190]

Tuy vậy, sự kiện Khởi Nghĩa Nam Kỳ đã "gây ảnh hưởng rộng lớn trong toàn quốc", nêu cao tinh thần anh hùng bất khuất của nhân dân nơi đây, giáng đòn chí tử vào thực dân Pháp, cảnh cáo nghiêm khắc phát xít Nhật vừa mới đặt chân vào nước ta. Đó là những tiếng súng báo hiệu của cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng võ lực của các dân tộc Đông Dương. Không những vậy, khởi nghĩa Nam Kỳ còn để lại những bài học quý giá về xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang và tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền. Đồng thời, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ cũng nêu cao được tinh thần dân tộc cách mạng của những chiến sĩ cộng sản và nhân dân yêu nước sẵn sàng hy sinh để giải phóng dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc.

Xét ở khía cạnh khác, “sự kiện khởi nghĩa Nam Kỳ” đã lột trần mâu thuẫn vô cùng sâu sắc giữa nhân dân Nam Kỳ với thực dân Pháp; nó cũng phơi bày bộ mặt tàn bạo, độc ác của thực dân đế quốc cầm quyền và bọn tay sai phản động. Và thông qua những hành động của bọn thực dân Pháp cùng bọn tay sai, đã phơi bày tính chất phản động của chính sách “kinh tế chỉ huy” mà bọn chúng áp dụng ở vùng đất này.

Tóm lại, có thể thấy trong thời gian chiến tranh thế giới II diễn ra, do tác động của nhiều yếu tố nội sinh và ngoại sinh, trong đó cuộc xâm chiếm của phát xít Nhật là quan trọng nhất, các lực lượng chính trị ở Nam Kỳ đã có sự thay đổi sâu sắc. Lực lượng cách mạng ở Nam Kỳ bị khủng bố và rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Trong khi đó, các lực lượng thân Nhật ngày càng trở nên mạnh hơn. Sự thay đổi tương quan lực lượng ở Nam Kỳ trong giai đoạn này, không chỉ ảnh hưởng đến diễn trình lịch sử Nam Kỳ mà còn ảnh hưởng đến những chuyển biến chính trị – xã hội trong toàn cõi Việt Nam.

Một phần của tài liệu chính sách “kinh tế chỉ huy” ở nam kỳ thời pháp – nhật (1939 1945) (Trang 89 - 93)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(146 trang)