Một số loại nấm độc

Một phần của tài liệu Tình hình ngộ độc thực phẩm do hóa chất hiện nay ở việt nam (Trang 38 - 43)

IV. CÁC CHẤT ĐỘC TỰ NHIÊN

3.2 Một số loại nấm độc

3.2.1 Amanita pantherina Đặc điểm:

Màu sắc hơi nâu với những đốm trắng không thể rữa sạch.

Mũ: rộng từ 5-10 cm.

Thân : to, dày, màu trắng.

Khía : trắng.

Thịt : trắng.

Thường mọc ở rừng rận, rất độc.

3.2.2 Amanita muscaria

Màu sắc: mũ màu đỏ có những đốm trắng, những đốm này không bị rữa trôi dưới các cơn mưa.

Mũ : rộng từ 7- 25 cm.

Vành: màu trắng, rũ xuống.

Thân màu trắng, có những mtuj màu vàng ở dưới gốc Khái : màu trắng

Nấm đôi khi có màu vàng khi mọc ở dưới gốc cây thông.

3.2.3 amanita virosa

Màu sắc: toàn bộ trắng tinh

Mũ: dạng hình nón, rọng từ 5- 20cm Khía : trắng

Loa chén: lớn.

Mùi: hăng dịu

3.2.4 Russula sardonia Màu sắc: đỏ hồng

Mũ: hơi lms, rộng 4-10cm

Khía: trắng, nghiêng xuôi xuống chân.

Thân: dầy, trawgs, phía dưới hơi hồng

Thịt: trắng, hơi hồng dưới lớp da ngoài.

Hương vị: rất cay Mọc ở khu rừng ẩm

Có khoảng 8 nhóm chất độc ở nấm:

1/ Nhóm Amanitoxin: Thường gặp ở các loài thuộc

chi Amanita như: Amanita phalloides, A. verna, A. virosa…

với các triệu chứng khi trúng độc như: Đau bụng, nôn mửa dữ dội, tiêu chảy sau 12 giờ ăn phải. Suy thận và gan, hôn mê và thường tử vong.

2/ Nhóm Gyromitin: Gặp ở các loài nấm Gyromitra esculenta, Gyrometra infula…

sau 6 - 8 giờ ăn nấm có cảm giác sưng phù, buồn nôn, tiêu chảy, chuột rút, uể oải, thiếu kiểm soát cơ, bồn chồn và trong một số trường hợp có thể chết.

3/ Nhóm Orellaine: Gặp ở một số loài nấm thuộc chi Cortinarius như: Cortinarius orellanus, C.speciosissimus. Có triệu chứng: Rất khát nước, kèm nóng và khô môi, nhức đầu, ớn lạnh. Đau lưng hoặc đau bụng, nôn mửa. Tổn thương thận sau 3 đến 5 ngày.

4/ Nhóm Muscarine: Thường gặp ở các loài nấm thuộc chi Clitocybe và Inocybe, là những loài nấm nhỏ, trắng hoặc nâu, thường gặp trên những bãi cỏ, gây ra triệu chứng 3 chảy: Chảy mồ hôi, chảy nước mắt, chảy nước bọt. Co thắt đồng tử, bị ảo giác, co bắp thịt, tiêu chảy, tim đập chậm và tụt huyết áp.

5/ Nhóm Muscimol: gặp ở các loài thuộc chi Amanita như Amanita muscaria, A.

cokeri, A.gemmata, gây triệu chứng co bắp thịt, hoa mắt, nôn mửa, hôn mê với những ảo giác chỉ sau 2 giờ ăn phải.

A. Muscaria

6/ Nhóm Coprine: Chỉ gặp ở Coprinus atramentarius với triệu chứng mặt và cổ nóng sốt, tay chân có cảm giác như kiến bò. Tay tê cóng, tim đập mạnh, hồi hộp, nôn mửa nhưng không gây chết. Triệu chứng xảy ra chỉ sau 30 - 60 phút ăn nấm có kèm uống rượu. Nồng độ cồn trong máu càng cao càng làm nặng thêm.

7/ Nhóm Psilocybin và Psilocin: Gặp ở một số loài nấm thuộc 4 chi: Psilocybe, Panaeolus, Conocybe và Gymnopilus. Có triệu chứng: Ảnh hưởng đến ý thức. Gây ảo giác, cười vô ý thức, cảm thấy khoan khoái và đôi khi cảm thấy như xuất hồn ra khỏi xác.

Ảo giác như LSD của cần sa.

A. phalloides

8/ Nhóm Gây kích thích bao tử và đường ruột: Một số loài nấm thuộc các chi Agaricus, Amanita, Chlorophyllum, Tricholoma… gây tiêu hóa khó chịu chỉ sau 30 đến 90 phút ăn nấm. Phổ biến nhất là nôn mửa và tiêu chảy, bụng bị co thắt. Bình phục trong ngày hoặc sau vài ngày. Khó điều trị do không thể xác định chất độc nào gây ra triệu chứng trên và chỉ bình phục khi bao tử đã được súc rửa sạch.

Hầu hết các nấm độc đều mọc hoang ở bãi cỏ, ven đường, trong rừng. Có loại có màu trắng muốt, xám, nâu hay sặc sỡ. Đối với những loài thuộc chi Amanita đều có vòng bao cuống và bao gốc. Đây là những loài nấm cộng sinh, chỉ mọc chung quanh một số cây nhất định, rộ lên vào mùa mưa hoặc trong rừng thường xanh. Những vụ ngộ độc nấm hoang là do lầm lẫn giữa nấm ăn được và nấm độc cũng như ăn nhiều vào một lúc. Thí dụ như: Amanita phalloides có màu trắng, mềm, mùi rất dịu như mật ong. Khi nấu thơm mùi hạt dẻ, 90% trường hợp gây chết ở châu Âu, châu Mỹ là do loài nấm này. Amanita verna:

mọc ở vùng nhiệt đới, gây chết người nhiều ở Việt Nam, vì dễ đánh lừa do có màu trắng muốt, đẹp.

M. procera - C. molybdites - Mặt có bào tử của nấm độc C. molybdites

Nấm trồng không có độc tính, nhưng nếu quá già thì khi ăn chỉ hơi khó tiêu, hoặc đầy bụng. Những vụ ngộ độc nấm ăn ở các bếp ăn tập thể (nếu có), chỉ là do vệ sinh an toàn thực phẩm kém, bị nhiễm vi sinh có hại trong quá trình chế biến và bảo quản thức ăn chứ không phải do bản thân nấm.

Do đó, không nên ăn nấm mọc hoang, nếu không biết chắc chắn là nấm gì (điều này rất khó, ngay các nhà nấm học giàu kinh nghiệm cũng phải rất thận trọng, vì vẫn có thể bị lầm lẫn!). Thí dụ: nấm Macrolepiota procera là một loại nấm ăn rất ngon, được trồng khá nhiều và một loài nấm độc là Chlorophyllum molybdites rất giống nhau về hình thái, chỉ

khác nhau ở bào tử M. procera có màu trắng còn bào tử C. molybdites màu xanh rêu sậm, nếu không chờ đến khi có bào tử, mà ăn nấm còn non có thể nhầm lẫn và bị ngộ độc.

Cách sơ cứu khi ăn phải nấm độc:

* Gây nôn

Lấy ngón tay sạch hoặc lông gà rửa sạch để ngoáy họng cho buồn nôn, nôn cho đến khi ra nước trong mới thôi. Nếu không nôn được thì phải rửa dạ dày,

* Hút chất độc trong đường tiêu hóa

Uống 20 g than hoạt tính (trộn với ít đường trắng cho dễ uống), sau đó chiêu một chén nước sôi để nguội. Than hoạt sẽ hấp phụ chất độc, chuyển vào phân để tống ra ngoài. Nếu không có than hoạt thì mua viên Carbogast hoặc Carbophos 400 mg/viên để uống. Nếu nạn nhân mê man bất tỉnh, cần đưa đi cấp cứu ngay.

* Giải độc

Tuy phần lớn chất độc đã được đưa ra khỏi cơ thể do gây nôn (hoặc rửa dạ dày) và uống chất hút độc, song phần còn dính trong đường tiêu hóa vẫn nguy hiểm cho sức khỏe. Vì vậy nạn nhân cần nhanh chóng áp dụng các phương pháp giải độc. Tùy điều kiện, hoàn cảnh và thể trạng bệnh nhân, có thể dùng một trong những bài thuốc sau:

Bài 1: Nước ép tỏi, giá đỗ

Tỏi ta đã bóc vỏ 30 g, giá đậu xanh rửa sạch 300 g, 2 thứ giã hoặc xay nát rồi vắt lấy nước cốt uống ngay (nửa số nước vắt). Cho thêm 100 ml nước sôi để nguội và 2-3 g muối ăn vào bã, bóp kỹ rồi vắt kiệt nước, trộn chung với chỗ nước còn lại, 2 giờ sau uống tiếp. Ngày thứ 2 chưa khỏi thì uống tiếp bài 2 hoặc 3,4.

Bài 2: Nước sắc đậu xanh, cam thảo.

Đậu xanh (cả vỏ, xay nát) 30 g, cam thảo bắc (để sống, đập giập, cắt nhỏ) 30 g, cho 500 ml nước, sắc nhỏ lửa trong 25 phút, gạn ra uống ngay một nửa số nước thuốc; sau đó tiếp tục sắc lần 2, lần 3 để uống trong ngày.

Uống liên tục cho đến khi khỏi (nhẹ thì 3 ngày, nặng thì 10 ngày).

Bài này còn được dùng để chữa viêm gan do ngộ độc các loại thuốc (uống từ 12 ngày đến vài tháng tùy mức độ bệnh).

Bài 3: Tỏi ta bóc vỏ, diếp cá, mã đề tươi mỗi thứ 30 g (nếu mã đề khô thì 10 g), đậu xanh cả vỏ, xay nát 50 g. Đổ 500 ml nước, đun sôi nhẹ 20 phút, gạn ra uống ngay một nửa, tiếp tục sắc lần 2 và 3 để uống trong ngày.

Uống từ 3 đến 10 ngày tùy mức ngộ độc.

Bài 4: Đậu xanh (cả vỏ, xay nát) 30 g, khương trúc nhự (cật tre đã cạo sạch vỏ xanh, phơi khô, bào mỏng, tẩm nước gừng tươi, sao khô) 12 g, cam thảo bắc (sống, đập giập, cắt nhỏ) 9 g, khương bán hạ 9 g, trần bì, hoắc

hương mỗi thứ 6 g. Cách sắc uống như các bài trên, uống liên tục trong 7- 10 ngày là khỏi.

4.Các độc tô có nguồn gốc thực vật.

4.1 các glucosid sinh ra axit cyanhydric.:

Các gucosid trong sắn, măng,.. dưới tác dụng của enzyme tiêu hóa bị thủy phân tạo ra axid cyanhydric (HCN) là chất độc đối với cơ thể.

Một số bắp cải, su hào có chứa thioglucosid khi thủy phân cũng tạ ra thiocyanat cũng là chất độc. có thể dẫn đến chết người. Liều gây tử vong qua đường tiêu hóa là 1 mg/kg trọng lượng cơ thể. Cụ thể, một người nặng 50 kg, chỉ cần ăn phải 50 mg HCN là có thể tử vong.

Tùy hàm lượng HCN có trong măng tươi mà người ăn có biểu hiện ngộ độc ở mức độ nặng, nhẹ khác nhau. Các triệu chứng thường xuất hiện sau khi ăn măng khoảng từ 5-30 phút. Trường hợp nhẹ, biểu hiện chóng mặt, đau đầu, buồn nôn, nôn, kích thích niêm mạc đường hô hấp, rối loạn ý thức... Nếu nặng, biểu hiện: co giật, cứng hàm, giãn đồng tử, suy hô hấp, tím tái, hôn mê. Nặng hơn nữa sẽ ngừng thở, tim đập nhanh, rối loạn dẫn truyền nhĩ thất - là nguyên nhân chính gây tử vong sau vài phút nếu không được cấp cứu kịp thời.

Cách chế biến tránh ngộ độc.

Một số cách chế biến măng tươi để không gây ngộ độc như sau: măng tươi mới cắt về bóc vỏ, đem luộc qua vài lần, và mỗi lần luộc phải xả lại bằng nước sạch. Khi thử thấy măng mềm, bớt đắng thì dùng chế biến món ăn.

Hoặc măng tươi để cả vỏ xếp gọn trong nồi, rồi cho vài trái ớt đã lấy hết hạt, đổ nước vo gạo vào xâm xấp, đem nấu với lửa nhỏ, khi thử thấy măng mềm thì tắt lửa, chờ măng nguội vớt ra lột vỏ, xả lại vài lần bằng nước sạch. Lúc này măng không còn vị đắng nữa mới đem chế biến món ăn.

Hoặc măng cắt về bóc vỏ, bào măng cho vào nồi cùng một nắm lá rau bồ ngót, đổ nước luộc qua một lần. Khi thử thấy măng chín, nhấc xuống chắt hết nước rồi đổ nước lạnh vào, lúc này mới vớt bỏ lá bồ ngót và xả lại với nước lạnh một lần nữa rồi đem chế biến món ăn.

Một phần của tài liệu Tình hình ngộ độc thực phẩm do hóa chất hiện nay ở việt nam (Trang 38 - 43)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(46 trang)
w