Chương 3: ĐẶC TRƯNG VÀ VAI TRÒ CỦA NHO GIÁO ĐẠI VIỆT TỪ THẾ KỶ XI ĐẾN THẾ KỶ XV
3.2.2. Vai trò đối với sự phát triển giáo dục Nho học
Cùng với khả năng đáp ứng yều cầu về tổ chức quản lý xã hội và tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, sự phát triển của Nho giáo còn gắn với nhu cầu phát triển văn hoá, giáo dục. Khi chế độ phong kiến tập quyền đã bắt đầu ổn định và triển khai theo quy mô lớn thì yêu cầu về việc xây dựng và phát triển một nền văn hoá và giáo dục độc lập, tự chủ được đặt ra. Để nắm quyền quản lý đất nước, các triều đại Lý - Trần đã quan tâm đến việc nâng cao tri thức. Đồng thời, do yêu cầu củng cố và phát triển của nhà nước phong kiến, nên việc bổ nhiệm quan lại bằng con đường cũ - con đường “nhiệm tử”
và “thủ sĩ” không đáp ứng được, mà cần phải có một phương thức đào tạo và tuyển lựa quan lại mới để bổ sung vào đó. Điều này chỉ thực hiện được bằng việc phát triển một nền giáo dục mới, với chế độ thi cử để tuyển lựa nhân tài.
Với yêu cầu như vậy, hệ thống giáo lý Phật giáo không thể đáp ứng được yêu cầu này, mà chỉ có Nho giáo, với hệ thống lý thuyết đầy đủ về giáo dục và khoa cử, mới có thể đảm đương được nhiệm vụ lịch sử đó. Thực tế lịch sử đã khẳng định điều này. Thời kỳ đầu nhà Lý đến đầu nhà Trần còn tổ chức các kỳ thi Tam giáo, nhưng cuối thời Trần, giáo dục Nho học dần dần chiếm ưu thế. Từ đây, Nho giáo có cơ hội bám rễ sâu vào đời sống chính trị - xã hội của nước ta. Bởi lẽ, theo con đường phát triển của giáo dục khoa cử, Nho giáo không những tác động trực tiếp vào sự hình thành đội ngũ trí thức của dân tộc và sự tuyển lựa nhân tài cho bộ máy nhà nước, mà nó còn tác động đến thế giới quan, đến những quy phạm chính trị và những chuẩn mực đạo đức của con người.
Nhu cầu thống trị đòi hỏi nhà Lý - Trần ngày càng quan tâm hơn đến giáo dục, khoa cử. Theo PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc thì “Thời Lý - Trần, Nho học phát triển từ trên xuống dưới” [12, tr.99]. Năm 1070, Lý Thánh Tông
cho xây dựng miếu thờ Chu Công, Khổng Tử và các vị tiên hiền. Đây cũng là nơi dành riêng để dạy học cho các vị Hoàng Thái tử. Năm 1076, nhà Lý cho lập Quốc Tử Giám ngay giữa kinh thành. Từ đây, nền đại học nước ta được khai sinh. Tuy nhiên chỉ có quý tộc, quan liêu và con em họ mới được theo học. Nhìn chung, việc giáo dục Nho học ở thời Lý còn khá hạn chế. Trường học mới chỉ có ở Thăng Long, chưa mở đến các phủ, huyện. Nền giáo dục Nho học lúc này chỉ dành cho con quan, quý tộc. Số lượng nho sĩ so với thời Bắc thuộc tăng nhưng vẫn chưa có nho sĩ xuất thân từ bình dân. Sang đến thời Trần, Quốc tử viện được lập cũng không phải dành cho tất cả các đối tượng mà chỉ dành cho con em các văn quan và tụng quan vào học mà thôi. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mùa đông, tháng 10, cho Phạm Ứng Thần làm Thượng thư chi Quốc tử viện, trông nom cho con em các văn quan và tụng quan vào học” [7, tr.448]. Việc cho con em các văn quan và tụng quan vào học Nho giáo lúc này là cốt đào tạo người kế tục sự nghiệp của các thế hệ đi trước. Song cùng với sự phát triển của dân tộc, nhu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước đòi hỏi phải từng bước kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương, cho nên giáo dục Nho học không chỉ dừng lại ở đối tượng con em các văn quan và tụng quan trong triều nữa mà đến năm 1253, cùng với việc thành lập Quốc học viện, thì đối tượng vào học đã là tất cả mọi người trong nước. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tháng 6, lập Quốc học viện, tô tượng Khổng Tử, Chu Công và Á Thánh, vẽ tượng 72 người hiền để thờ… Tháng 9, xuống chiếu cho các nho sĩ trong nước đến Quốc học viện giảng học tứ thư lục kinh” [7, tr.463]. Về trường học, ngoài Quốc học viện ở kinh đô và nhà học phủ Thiên Trường (lập năm 1281) do nhà nước quản lý, còn có các trường dân lập khá nổi tiếng như trường của Chiêu quốc vương Trần Ích Tắc, trường Cung Hoàng của nho sĩ Chu Văn An (trước đó đã từng giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám) cũng thu hút được nhiều học sinh từ các
nơi đến học. Ở những trường này cũng có nhiều người có đạo đức, có thực lực Nho học, đỗ đạt cao, được bổ nhiệm làm quan. Sử chép: “An (người huyện Thanh Đàm), tính người cương trực, ít giao du, sửa mình trong sạch, gìn giữ tiết tháo, không cầu danh lợi, hiển danh, ở nhà đọc sách, học vấn tinh thuần, tiếng đồn gần xa, học trò đầy cửa; thỉnh thoảng học trò đỗ đại khoa, vào chính phủ như Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát đã làm hành khiển mà điều giữ lễ học trò” [7, tr.660].
Trường của Chiêu Quốc vương từng được mở ở bên hữu phủ đệ, thu hút các văn sĩ bốn phương đến học tập: “Ích Tắc là con thứ của Thượng hoàng, thông minh, chăm học, thông hiểu kinh sử và lục nghệ, văn chương nhất đời…Từng mở cửa trường học ở bên hữu phủ đệ, họp các văn sĩ bốn phương cho học tập, cấp cho ăn mặc, dạy bảo nên tài như bọn Mạc Đĩnh Chi ở Bàng Hà, Bùi Phóng ở Châu Hồng 20 người, đều được dùng cho đời. [7, tr.482-483].
Đến năm 1397, vua Trần Thuận Tông chính thức sai đặt nhà học và chức học quan (được nhà nước trợ cấp ruộng công thu hoa lợi) ở các lộ phủ Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Đông với chức năng là giáo hoá dân chúng, gìn giữ phong tục, dạy bảo học trò thành tài nghệ, chọn người ưu tú tiến cử lên triều đình. Nhà vua này đã ra chiếu viết: “Đời xưa, nước có nhà học, đảng có nhà tự, toại có nhà tường, là để tỏ rõ giáo hoá, giữ gìn phong tục, làm thế nào mở rộng giáo hoá cho dân được? Nên hạ lệnh cho các lộ phủ Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Đông, đều đặt một học quan, cho ruộng công theo thứ bậc khác nhau, phủ châu lớn thì 15 mẫu, phủ công vừa thì 11 mẫu, phủ châu nhỏ thì 10 mẫu, để cung chi phí cho nhà học. (Một phần để cúng ngày mồng một, một phần về nhà học, một phần về đèn sách). Quan lộ và quan đốc dạy bảo học trò cho nên tài nghệ, cứ đến cuối năm chọn người tài nghệ tiến cử lên triều đình, trẫm sẽ thân hành thi để lấy dùng [7, tr.717].
Qua đó chúng ta thấy, việc giáo dục ở địa phương vào cuối thời Trần đã được đề ra một cách quy củ và được triều đình quan tâm không chỉ đối với các quan lại phụ trách việc dạy học mà còn rất chú trọng việc tuyển người tài vào cho triều đình. Như vậy, việc mở rộng trường học phản ánh sự phát triển về quy mô đào tạo của nền giáo dục Nho học thời Trần. Thời kỳ này, Nhà nước phong kiến chỉ nắm giữ một bộ phận công việc tổ chức trường học, còn phần lớn trường học lại nằm luôn trong dân chúng.
Cùng với giáo dục, khoa cử ở Đại Việt đã có từ thời Lý. Khoa thi đầu tiên được nhà Lý tổ chức vào năm 1075 gọi là “Minh kinh bác sĩ và Nho học tam trường” đã chính thức khai sinh cho lịch sử Nho giáo lâu dài ở nước ta.
Khoa thi ấy, Lê Văn Thịnh (người Bắc Ninh) đỗ đầu Thái học sinh (Tiến Sĩ sau này), được cho vào hầu vua học, sau này được thăng đến chức Thái Sư.
Năm 1086, triều đình lập Hàn lâm viện, nho sĩ Mạc Hiển Tích trúng tuyển, được bổ làm Hàn lâm học sĩ. Năm 1152, nhà Lý tổ chức thi điện. Năm 1106, Lý Anh Tông lại cho lập miếu riêng để thờ Khổng Tử. Điều đó thể hiện khuynh hướng muốn dựng Nho giáo thành một giáo lý độc tôn, đem Khổng Tử từ bậc tử (thầy) như các Chư Tử lên bậc Thánh Khổng vậy. Các kỳ thi tiếp theo được tổ chức vào các năm 1165, 1185, 1193 và 1195. Cả triều đình Lý đã tổ chức được 6 khoa thi, lấy đỗ 27 người. Với việc tổ chức khoa cử, nhà Lý đã mở đầu cho lịch sử khoa cử nước Việt ta kéo dài hơn 800 năm, qua đây tuyển chọn những người tài cho bộ máy nhà nước, nêu cao vị trí của Nho học, thúc đẩy việc truyền bá và phát triển Nho giáo. Tuy vậy, ở thời Lý, việc học tập và tổ chức thi cử chưa được tổ chức thường xuyên, chưa có quy chế rõ ràng và do đó số lượng nho sĩ đào tạo ra hãy còn ít. Sang đời Trần, do yêu cầu của công cuộc và bảo vệ tổ quốc, yêu cầu tuyển lựa nhân tài để bổ dụng cho bộ máy quan liêu, giáo dục Nho học được đẩy mạnh, số người tiến thân bằng con đường cử nghiệp ngày càng nhiều hơn, giới nho sĩ đông đảo hơn trước.
Chỉ một năm sau khi nắm chính quyền, tức năm 1227, nhà Trần mở khoa thi Tam giáo. Từ đó các khoa thi được tổ chức đều đặn và thường xuyên hơn thời Lý. Năm 1232, nhà Trần mở khoa thi Thái học sinh, lần đầu tiên chia thành ba hạng (tam giáp). Đỗ đệ nhất giáp là Lưu Diễm, Trương Hanh, đệ nhị giáp là Đặng Diễn, Trịnh Phẫu, đệ tam giáp là Trần Chu Phổ. Khoa thi thái học sinh năm 1239, Lưu Miễn và Vương Giát đỗ đệ nhất giáp, đệ nhị giáp là Ngô Khắc, đệ tam giáp là Vương Thế Lộc. Đến năm 1246 định lệ thi tiến sĩ cứ 7 năm thi một khoá. Song trên thực tế, nhà Trần gần như không thực hiện được định kỳ 7 năm kể từ khi quy định đó được ban hành. Năm 1247, nhà Trần mở khoa thi tiến sĩ lần đầu tiên được chia thành tam khôi (người đỗ đầu là trạng nguyên, người đỗ thứ hai là bảng nhãn, người đỗ thứ ba là thám hoa lang, sau này có đặt thêm một vị học cấp cao nữa là hoàng giáp). Khoa ấy Nguyễn Hiền đỗ trạng nguyên, Lê Văn Hưu đỗ bảng nhãn (sau này là người soạn Đại Việt sử ký và là sử gia đầu tiên của Việt Nam), Đặng Ma La đỗ thám hoa lang; 48 người đỗ thái học sinh, xuất thân theo thứ bậc khác nhau. Cùng năm ấy, triều đình lại mở khoa thi Tam giáo. Các khoa thi sau được tổ chức liên tục vào các năm 1256, 1266, 1275, 1304, 1314, 1345, 1374, 1381, 1384 và 1393. Đặc biệt, phải kể đến khoa thi năm 1304, lần đầu tiên, triều đình đã tôn vinh cả về mặt học vần lẫn danh dự cho những thí sinh trúng tuyển bằng việc cho “dẫn ba người đỗ đầu ra cửa Long Môn của Phượng Thành đi du ngoạn đường phố ba ngày”. Năm 1374, vua Trần Duệ Tông thêm khoa thi Cử nhân theo lệ cứ năm trước thi Hương, năm sau thi Hội rồi đến thi Đình để chọn Tam khôi. Cả thời Trần có tất cả 14 khoa thi (10 khoa chính thức và 4 khoa phụ), số người đỗ đạt khá nhiều và thường được đạt học vị Thái học sinh. Khoa thi năm 1247 lấy đỗ 48 người; khoa thi năm 1256 lấy đỗ 43 người;
khoa thi năm 1266: 47 người; khoa thi năm 1275: 27 người; khoa thi năm 1304: 44 người… Nhiều danh nho nổi tiếng và tài giỏi được triều đình trọng
dụng. Lê Văn Hưu đỗ bảng nhãn năm 1247. Ông là người chấp bút viết bộ sử đầu tiên ở nước ta là bộ Đại Việt sử ký. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mùa xuân, tháng giêng, Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc tử viện giám tu là Lê Văn Hưu vâng chỉ soạn xong bộ Đại Việt sử ký từ Triệu Vũ đến Lý Chiêu Hoàng, cộng 30 quyển, dâng lên, vua xuống chiếu khen ngợi” [7, tr.485]. Mạc Đĩnh Chi đỗ trạng nguyên trong khoa thi tháng ba năm 1304.
Mạc Đĩnh Chi và Nguyễn Trung Ngạn đỗ hoàng giáp. Nguyễn Trung Ngạn và Trương Hán Siêu được nhà vua giao cho biên soạn bộ Hoàng triều đại điển và bộ Hình thư năm 1341. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mùa thu, tháng tám năm…sai Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn biên định bộ Hoàng triều đại điển và khảo soạn bộ Hình thư để ban hành [7, tr.625].
Nguyễn Trung Ngạn đã từng giữ nhiều chức quan trọng, trong đó đã từng có thời kỳ ông là người đứng đầu quản lý kinh đô Thăng Long với chức Đại Doãn Kinh Sư (năm 1341). Có một số người đỗ đại khoa khi tuổi đời còn rất trẻ như: trạng nguyên Nguyễn Hiền (13 tuổi), bảng nhãn Lê Văn Hưu (năm 18 tuổi), thám hoa Đặng La Ma (14 tuổi), hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn (16 tuổi). Quan trường không chỉ dành cho khoa bảng mà còn mở rộng cho nho sinh Phan Huy Chú nhận xét rằng: “Triều Trần dùng người thật công bằng.
Tuy đã đặt khoa mục mà việc kén dung chỉ cốt tài là được, cho nên các nho sĩ có chí hướng thì thường được trổ tài của mình, không bị bó buộc hạn chế vì tư cách, như khoảng đời Hưng Long (1293), Đại Khánh (1314) nhân tài có rất nhiều, mặc áo triều, ở ngôi trọng, học sinh với khoa giáp ngang nhau, lịch duyệt trên đường làm quan chưa hề khác nhau (làm quan trong triều bấy giờ duy chỉ có Đĩnh Chi, Trung Ngạn là người khoa giáp, còn bọn Hán Siêu, Lê Quát, Phạm Mại đều do học sinh xuất thân), chỉ cần người dùng được chứ không câu nệ ở đường xuất thân”. Toàn thư cũng chép: “Mùa thu, tháng 8 (1236), chọn những nho sinh, ai thi đỗ cho vào chầu hậu, sau làm định lệ [7, tr.448].
Và tháng 12 năm 1274 “Chọn người Nho học trong nước, người nào có đức hạnh sung vào Đông cung” [7, tr.487]. Giáo dục khoa cử của nhà nước đã tạo cơ hội cho nho sĩ không chỉ có điều kiện thi thố tài năng, tiến thân trên con đường quan chức mà quan trọng là qua đó nhà nước tuyển chọn được những người tài giỏi phục vụ đất nước.
Về nội dung giáo dục và thi cử Nho học từ thời Lý đến thời Trần đã đạt được một bước tiến đáng kể. Dưới thời Lý và đầu thời Trần Nho giáo chưa phải là một nội dung duy nhất trong học tập và thi cử. Bởi vì sự ảnh hưởng của Phật giáo và sự hiện diện của Đạo giáo trong thời Lý, cũng như ảnh hưởng của vai trò tăng lữ trong thời gian này cũng đã chi phối mọi sinh hoạt của xã hội trong đó có giáo dục và thi cử. Vào năm 1299, sử cũ cho biết, nhà nước còn cho in sách Phật giáo pháp sự ban bố cho thiên hạ. Các kỳ thi Tam giáo được tổ chức không chỉ ở thời Lý mà còn ở đầu thời Trần. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú nhận xét: “Đời Lý - Trần đều chuộng Phật giáo và Đạo giáo, cho nên chọn người muốn được thông cả hai giáo ấy, dù là chính đạo hay dị đạo, đều tôn chuộng không phân biệt, mà học trò đi thi khoa ấy (khoa Tam giáo) nếu không học rộng biết nhiều thì cũng không đỗ được” [2, tr.152]. Tuy nhiên cho đến tận lúc này, nội dung học tập và thi cử vẫn chưa được quy định cụ thể, chặt chẽ. Tình hình có sự thay đổi khi nhà Trần cho lập Quốc học viện, tô tượng Khổng Tử, Chu Công và Á Thánh, vẽ tượng 72 người hiền để thờ và xuống chiếu cho các nho sĩ trong nước đến Quốc tử viện để giảng học tứ thư, ngũ kinh vào năm 1253. Học Tứ thư gồm Luận ngữ, Mạnh Tử, Trung Dung; Ngũ kinh gồm Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Xuân Thu. Theo tư liệu này thì nội dung học tập của các nho sĩ đã bắt đầu được quy định khá quy củ. Đến năm 1304, triều đình mới ban hành quy định về nội dung thi Thái học sinh và quy định này được áp dụng trong cả nước. Các nho sinh trong nước phải trải qua bốn kỳ
thi: kỳ thứ nhất thi ám tả; kỳ thứ hai thi kinh nghi; kinh nghĩa, đề thơ, phú; kỳ thứ ba thi chiếu, chế, biểu; kỳ thứ tư thi đối sách. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Về phép thi thì trước khi thi ám tả thiên Y Quốc và truyện Mục thiên tử để loại bớt. Thứ đến kinh nghi kinh nghĩa; đề thơ (tức thể cổ thi ngũ ngôn trường thiên) thì hỏi về “vương độ khoan mãnh”, theo luật “ tài nan xạ trĩ”; đề phú thì dùng tám vấn đề “đế đức hiếu sinh, diệp vu dân tâm”. Kỳ thừ ba thì thi chế, chiếu, biểu. Kỳ thứ tư thi đối sách [7, tr.565].
Về sau, trong các kỳ khoa cử về cơ bản đều được tiến hành theo định lệ này. Đến khoa thi Thái học sinh năm 1345 thì không thi chế, chiếu, biểu và văn sách. Đặc biệt, từ kỳ thi đó về sau không quy định thi kinh nghi nữa (điều đó thể hiện sự tôn sùng tuyệt đối với Nho giáo), phép thi dùng: ám tả cổ văn, kinh nghĩa, thi phú: “Mùa xuân, tháng 3 (1345), thi thái học sinh, phép thi dùng ám tả cổ văn, kinh nghĩa, thi phú” [7, tr.628]. Cuối thời Trần (1396), khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền bính đã chú trọng đẩy mạnh phát triển giáo dục Nho học. Ông đã có những sửa đổi về thi cử cho phù hợp với yêu cầu của thực tế. Nho sinh cũng phải trải qua bốn kỳ thi, nhưng kỳ thi ám tả cổ văn không áp dụng nữa, các kỳ thi tiếp theo cũng được quy định nội dung thi với chủ đề cụ thể. Và cứ năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội. Đây là lần đầu tiên nhà nước quy định cụ thể về nội dung thi và cách thức thi. Ông còn khuyến khích việc dùng chữ Nôm, soạn sách Minh Đạo (1392), dịch thiên Vô Dật trong Kinh Thư (1395) để dạy quan gia, dịch Kinh Thi (1396) để dạy nội cung. Sang nhà Hồ, Hồ Hán Thương tiếp tục cải cách thi cử, đưa thêm vào môn toán và viết chữ, mở rộng quy mô giáo dục Nho học.
Ngoài những kỳ thi chọn Tiến sĩ và tuyển dụng quan lại bổ sung vào bộ máy nhà nước theo tinh thần Nho giáo, ở nước ta từ giữa thế kỷ XIV, đặc biệt có tính chất phổ biến, trở thành một chủ trương lớn của nhà nước, đó là việc tổ chức các kỳ thi khảo thí (thi định kỳ hoặc không định kỳ) theo tinh thần