Nă
m 201
0 2011 201
2 201
3 2014
Sản lượn g
512
6 520
0 574
5 602
0 6311
Kha i thác
245
0 252
7 260
0 280
4 291
8 Nuô
i trồn g
267
6 267
3 314
5 321
6 339
3
Kim ngạch xuất khẩu hay doanh thu
Năm 2010 2011 2012 2013 2014
Thực trạng của ngành sản xuất và xuất khẩu thủy sản Việt Nam đang khó khăn, với nhiều bất cập, khiến lợi nhuận giảm. Nếu không có các tác động thay đổi, sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng bền vững của ngành xuất khẩu thủy sản trong tương lai.
Thiếu nguyên liệu
Mặc dù số lượng thống kê của Tổng cục Thủy sản về sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản của cả nước trong 5 tháng đầu năm nay vẫn tăng so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng ngành chế biến và xuất khẩu thủy sản vẫn chưa thoát khỏi tình trạng thiếu nguyên liệu ngày càng tăng như mấy năm trước. Nguyên nhân do sản lượng 2 loài thủy sản nuôi chính không ổn định, dịch bệnh trên tôm làm giảm sản lượng, nhất là với tôm sú, diện tích nuôi cá tra cũng giảm do nông dân thiếu vốn đầu tư nuôi và do giá cá bất ổn làm ảnh hưởng tâm lý người nuôi.
Sản lượng các loài có giá trị kinh tế cao như cá ngừ, mực, bạch tuộc vẫn thấp, trong khi sản lượng tăng lại tập trung chủ yếu vào các loài cá có giá trị thấp, cá tạp… Người nuôi và ngư dân thiếu vốn để sản xuất, đầu tư trở lại khi tôm hoặc cá tra bị rớt giá, dịch bệnh. Các doanh nghiệp khó thu mua nguyên liệu vì nông dân không bán chịu, trong khi vòng quay vốn chậm do thị trường tiêu thụ khó khăn về tài chính.
Thiếu vốn
Với mức lãi suất quá cao 19-20% trong 3 tháng đầu năm, cả nông, ngư dân và doanh nghiệp đều thực sự khó khăn để duy trì sản xuất và chế biến khi mà các chi phí đầu vào khác đang tăng mạnh (5-10%). Vốn vay định mức thấp, cùng với việc siết chặt tín dụng của các ngân hàng đối với ngành thủy sản sau vụ vỡ nợ của một số doanh nghiệp khiến cho nhiều doanh nghiệp không còn vốn để duy trì sản xuất.
Đặc biệt đối với ngành sản xuất cá tra, thiếu vốn trở nên nghiêm trọng. Theo khảo sát của Vasep, có đến hơn 90% số doanh nghiệp mong muốn được tăng hạn mức vay vốn, từ 10-1.400 tỷ đồng, nhằm bổ sung vốn lưu động cho chế biến, cho nuôi cá tra và mua nguyên nhiên liệu, vật liệu, thức ăn cho vùng nuôi. 53,85% số doanh nghiệp tôm có nhu cầu vay vốn đầu tư cho hoạt động phát triển (từ 2-300 tỷ đồng) để bổ sung đầu tư nuôi tôm chân trắng, trang bị máy móc, sửa chữa, bổ sung năng lực cấp đông, vốn trung hạn cho hoạt động xuất khẩu, xây nhà máy thức ăn, phát triển vùng nuôi, cải tạo và nâng cấp nhà xưởng, thiết bị. Đối với ngư dân, vấn đề tiếp cận vốn cũng rất khó khăn vì họ cần vốn cho cả việc mua sắm tàu cá và thiết bị để bảo quản cá sau thu hoạch.
Bên cạnh đó, các chi phí sản xuất đểu tăng ảnh hưởng đến sức cạnh tranh cho thủy sản xuất khẩu. Các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản còn phải đối phó với áp lực tăng chi phí đầu vào cho sản xuất, như giá nhiên liệu, điện, nước, nhân công, bao bì, cước phí vận chuyển… Bên cạnh đó, việc tăng các loại phí, thuế, như thuế bảo vệ môi trường đối với bao bì nhựa PE để bao gói hàng, trích 2%
kinh phí cho công đoàn lấy từ quỹ lương, phí kiểm soát chất lượng thủy sản xuất khẩu, phí kiểm dịch thú y tăng 300%... cũng góp phần làm gia tăng chi phí và
ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của thủy sản Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều suy giảm, cạnh tranh thị phần khá khốc liệt.
Khó khăn về nguồn vốn và nguyên liệu cùng với sự gia tăng chi phí sản xuất khiến cho số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu thủy sản trong quý I năm nay chỉ còn khoảng 473 doanh nghiệp, giảm 40% so với 800 doanh nghiệp của cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên số doanh nghiệp không xuất quý I năm nay hầu hết là doanh nghiệp thương mại với doanh số thấp, nên chỉ ảnh hưởng không nhiều.
Trong khi đó, kim ngạch của các doanh nghiệp lớn cao hơn so với năm ngoái.
Top 10 doanh nghiệp quý I/2011 chỉ chiếm 18,5% doanh số, nhưng năm nay tăng lên 20,5%. Kết quả trên cho thấy đã có sự phân hóa mạnh trong quy mô và năng lực quản trị của các doanh nghiệp thủy sản.
Khủng hoảng thị trường
Thị trường châu Âu bị suy giảm do khủng hoảng nợ công cũng là một khó khăn lớn cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Là thị trường lớn nhất trong số 129 thị trường tiêu thụ thủy sản Việt Nam, nhưng trong quý I năm nay, xuất khẩu sang EU đã sụt giảm 7,9% so với cùng kỳ năm ngoái, do khủng hoảng nợ công ở khu vực này khiến tình hình kinh tế tài chính khó khăn, nhu cầu nhập khẩu không ổn định và khả năng thanh toán chậm.
Tỷ trọng của thị trường EU cũng bị giảm dần gần 5% (từ 24,2% xuống còn 19,7%). Xuất khẩu 2 mặt hàng chủ lực là tôm và cá tra đều giảm mạnh (giảm từ 21,8% và 12,4%). Tuy nhiên, xuất khẩu cá ngừ, mực, bạch tuộc sang thị trường này vẫn khả quan (cá ngừ tăng 29%, mực, bạch tuộc tăng trên 10,7%).
Xuất khẩu tôm sú giảm, khả năng cạnh tranh của tôm Việt Nam cũng giảm.
Đối với Việt Nam, với diện tích nuôi trên 600.000 ha, sản lượng tôm sú mỗi năm đạt trên 300.000 tấn tạo cho Việt Nam thế mạnh hơn so với nhiều nước khác. Tuy nhiên, dịch bệnh bùng phát trên tôm sú thâm canh đã và đang ảnh hưởng đến chất lượng, uy tín và giá trị mặt hàng này.
Sụt giảm mặt hàng chủ lực
Năm 2011, trong hơn 97.000 ha tôm bị thiệt hại, có tới trên 82.000 ha là tôm sú nuôi thâm canh bị chết, đã ảnh hưởng lớn tới mặt hàng chủ lực này của Việt Nam. Giá trị xuất khẩu tôm chân trắng năm 2011 của Việt Nam đạt 704 triệu USD, chiếm 30% tổng giá trị xuất khẩu tôm, tăng 70% so với năm 2010. Trong khi đó, giá trị tôm sú lại giảm 0,6% xuống còn 1,43 tỷ USD, chiếm 59% tổng giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam. Quý I /2012, xuất khẩu tôm tiếp tục giảm 4,7%
chỉ còn 235 triệu USD. Giá tôm trên thị trường thế giới giảm tác động không nhỏ tới giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam trong quý I/2012. Mức tăng chỉ đạt 9%(so với trên 35% trong 3 tháng đầu năm 2011). Ngoài ra giá tôm giảm tạo thêm áp lực cho các doanh nghiệp tôm đang phải đối mặt với chi phí đầu vào như xăng, dầu, điện, lương nhân công… đều tăng. Đây là vấn đề báo động đối với tôm Việt Nam, vì khả năng cạnh tranh đang bị sụt giảm do giá thành sản xuất cao, dẫn đến giá chào bán cao hơn các nước.
Nhập khẩu nguyên liệu tăng
Năm 2011, Việt Nam nhập 541 triệu USD thủy sản từ 74 nước (trong đó khoảng hơn 30 triệu USD là hàng trả về). Ba tháng đầu năm 2012, Việt Nam nhập 157 triệu USD thủy sản từ 72 thị trường, trong đó, hàng nhuyễn thể để chế biến và tái xuất chiếm khoảng 80%, còn lại là con giống và nhập khẩu để tiêu thụ nội địa. Trong bối cảnh nguồn nguyên liệu trong nước không ổn định, giá nguyên liệu cao, nhập khẩu nguyên liệu thủy sản để gia công chế biến xuất khẩu là giải pháo hữu hiệu cho doanh nghiệp duy trì sản xuất và tạo công ăn việc làm cho công nhân, tăng doanh số. Tuy nhiêm khi mà khó khăn về vốn đang là vấn đề nổi cộm của doanh nghiệp thì chính sách ân hạn thuế nhập khẩu 275 ngày càng có nguy cơ bị xóa bỏ sẽ ảnh hưởng rất nặng nề đến doanh nghiệp.
Qua diễn biến tình hình sản xuất và xuất khẩu thủy sản hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước hết sức khó khăn, có thể nhận diện 3 thách thức lớn của thủy sản Việt Nam là : tính bền vững của từng ngành hàng trong hoạt động sản xuất nguyên liệu và chế biến xuất khẩu thủy sản chưa cao, đặc biệt là liên kết chuỗi, quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Rào cản thương mại gia tăng trong điều kiện kinh tế thế giới suy giảm, các nước nhập khẩu tăng cường bảo hộ công nghiệp nội địa. Quảng bá và tiếp thị sâu hình ảnh thủy sản Việt Nam ra thế giới theo cách chuyên nghiệp và hiệu quả trong điều kiện tài chính eo hẹp hiện nay là hết sức khó khăn.
2.2. Tình hình xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang EU trong thời giai đoạn 2010 -2014