IV. Một vài phương pháp đề nghị trong điều trị thủng màng xoang
4.4. Sử dụng vật liệu cầm máu và chất kết dính Fibrin
Nghiên cứu trên các bệnh nhân nâng xoang có xảy ra thủng xoang hàm. Sử dụng vật liệu cầm máu tự tiêu và keo dán fibrin. Vật liệu cầm máu tự tiêu sử dụng là Surgicel, đặt SurgicelSurgicel® (Johnson &
Johnson, Ascot, UK) lên bề mặt lỗ thủng. Greenplast® (Green Cross PD Co., Yongin, Korea) được đặt xung quanh surgicel để tăng độ kín.
Đặt vật liệu ghép giữa màng xoang và cửa sổ xương và đặt greenplast sử dụng kĩ thuật Salt và Peper. Tác giả này cũng dùng phân loại kích thước xoang 0,5cm, tất cả các trường hợp đều sử dụng chất cầm máu tự tiêu và keo fibrin gia cố.sử dụng vật liệu ghép autogenous, allogenic và heterogenic autogenous bone, allogeneic bone (demineralised freeze-dried bone) and heterogeneic bone (Bio-Oss®; Osteohealth Co., New York, NY, USA). Tuy nhiên theo Chanavaz khuyên nên ngưng quy trình nếu lỗ thủng màng xoang lớn hơn 3mm.
30
Hình 22 Minh họa thủ thuật nâng xoang A. Vật liệu ghép đi qua lỗ thủng đi vào trong xoang. B. Kĩ thuật nâng xoang sử dụng vật liệu cầm máu và chất kết dính Fibrin.
Surgicel là sản phẩm cầm máu, bản chất vô cơ là chuỗi glucose kiểu đan xen, kiểm soát quá trình oxi hóa tái tạo cellulose ở pH thấp 2.8.
hoạt động cầm máu tại chỗ của Surgicel phụ thuộc vào độ gắn kết của hemoglobin với oxycellulose cho phép tạo thành khối gelatin dạng keo từ đó hoạt động như một nền cho sự hình thành cục máu đông. Ưu điểm của surgicel là rẻ tiền hơn các vật liệu khác, thích nghi dễ dàng với lỗ thủng màng xoang, giữ màng xoang nâng lên chống bị sập màng xoang. Thêm vào đó, Skoog sử dụng surgicel hỗ trợ lành thương trong các bn pt mổ khe hở môi hàm ếch tạo mô có hướng dẫn. Tuy nhiên, Matthew báo cáo surgicel không gây ra tạo xương trong nghiên cứu của ông. Ibarrola chú ý rằng surgicel dẫn đến chậm tốc độ sữa chữa xương hơn so với nhóm chứng. Tác giả này cũng đề nghị độ pH thấp của surgicel có thể ảnh hưởng đến việc kích hoạt alkaline phosphate. Trên khía cạnh sinh học, Surgicel làm tăng lượng vi khuẩn tại vết thương, khuyến cáo hạn chế sử dụng. Tuy nhiên, một vài tác giả
31
khác lại ủng hộ quan điểm ngược lại, Spangler báo cáo hoạt tính kháng khuẩn của cellulose chống tại vi sinh vật đề kháng kháng sinh trong nghiên cứu.
Momtaheni lưu ý sự ổn định của xương ghép là yếu tố quan trọng trong nâng xoang và khắc phục lỗ thủng xoang. Greenplast và chất dính fibrin sinh học chứa thrombin, fibrinogen, yếu tố XIII, aprotinin.
Thrombin chuyển thành fibrinogen là dạng không ổn định, yếu tố 8 giúp ổn định cục máu đông. Aprotinin giúp ngăn ngừa sự tan rã cục máu động. trong suốt quá trình lành thương, nguyên bào sợi di chuyển qua mạng lưới fibrin tạo một mạng lưới vững chắc các sợi collagen.
Keo firin được nghiên cứu lần đầu bởi Young và Medawar 1940. Keo fibrin không làm thay đổi sự lưu thông trong vị trí hình thành xương mới, mặc dù có 1 vài nghiên cứu cho rằng nó có khuynh hướng giảm hình thành xương mới. Carmagnola báo cáo trong các trường hợp khiếm khuyết xương ghép với Bio-Oss cho thấy tỉ lệ cao xương tiêp xúc với vật liệu ghép coa ơn khi sử dụng cùng với keo fibrin. Các nghiên cứu kết luận việc bổ sung keo fibrin có thể tăng cường tạo xương mới. Kania báo cáo có một sự gia tăng đáng kể xương hình thành tại vị trí có trộn keo fibrin.
32
Hình 23 Greenplast®
b. Kĩ thuật ghép mỡ má có cuống
Young-Kyun Kim và cộng sự (2007) sử dụng mỡ má có cuống là vật liệu ghép tự thân trong điều trị đóng lỗ thủng màng xoang có kích thước lớn. Cũng giống với các kĩ thuật sử dụng màng, khác biệt chính ở đây, thay vì sử dụng màng, tác giả chọn lấy những nang mỡ từ khối mỡ má, bóc tách cẩn thận, khâu đóng với niêm mạc màng xoang. Sau đó cũng chèn vật liệu ghép vào và đặt implant. Khối mỡ ghép ít bị hoại tử và ít bị tiêu hơn so với ghép mỡ tự do. Tuy nhiên cũng cần chú ý, việc lấy mỡ có khả năng làm tổn thương nhánh má ở vị trí nhánh má của thần kinh VII băng qua má tại vị trí ống Stenson (phương pháp được trình bày trong phần ca lâm sàng).