- Phát biểu đúng yêu cầu, nhiệm vụ và phân loại vỏ xe.
- Giải thích được cấu tạo của vỏ xe.
- Tháo lắp, nhận dạng và kiểm tra, bảo dưỡng sửa chữa được vỏ xe đúng yêu cầu kỹ thuật.
i u của bài: Thời ia : 6 h (LT: 2h; TH: 4 h)
I. NHIỆM VỤ, YÊU CẦU VÀ PHÂN LOẠI THÂN XE
Thân xe có nhiệm vụ che kín các bộ phận của xe, tạo hình khí động học có tính kinh tế và thẩm mỹ cho chiếc xe.
Để đáp ứng các nhiệm vụ trên yêu cầu:
Thân xe cần phải có độ cứng vững đủ lớn để đảm bảo khả năng chịu lực trong quá trình hoạt động, va chạm trong mức độ cho phép.
Tạo tiếng ồn thấp nhất ít ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người.
Có tính tiện nghi thoải mái đối với người sử dụng.
Theo công dụng có các loại thân xe sau:
Thân xe con: Sedan; Coupe; Lift back (Hatch back); Hardtop; Convertible;
Pickup; Van and Wagon.
Thân xe tải.
Thân xe chở khách.
Thân xe chuyên dụng.
Hình 5.1. Các loại xe con
1: Sedan ; 2: Coupe ; 3: Lift back (Hatch back) ; 4: Hardtop ; 5: Convertible 6: Pickup ; 7: Van and Wagon
Sedan: Đây là loại xe du lịch được chú trọng vào tiện nghi của hành khách và lái xe.
Coupe: Đây là loại xe thể thao được chú trọng vào kiểu dáng và tính năng.
Lift back (Hatch back): Về cơ bản, loại này tương tự như loại coupe. khu vực dành cho người và hàng hóa được gắn liền nhau. Cửa hậu và cửa sổ hậu mở ra cùng với nhau.
Hardtop: Đây là loại xe sedan không có khung cửa sổ cũng như trụ đỡ giữa
Convertible: Đây là loại sedan hay coupe mà có thể lái xe với trần xe cuốn lên hay hạ xuống.
Pickup: Đây là loại xe tải nhẹ có khoang động cơ kéo dài về phía trước của ghế lái xe.
Van and Wagon: Loại này có không gian cho hành khách và hàng hóa liền nhau.
Nó chở được nhiều người hay nhiều hàng hóa. Van chủ yếu để chở hàng, còn wagon chủ yếu để chở người.
II. CẤU TẠO THÂN XE 1. Cabin và thùng xe tải
Hình 5.2. Cabin xe tải
Hình 5.3. Các loại thùng xe tải 2. Thân xe ôtô con
Hình 5.4. Cấu tạo thân xe con a. Cấu tạo cơ bản của thân xe:
Có hai loại cấu tạo thân xe: Thân xe dạng khung và thân xe dạng vỏ.
Thân xe dạng khung (A):
Loại kết cấu này bao gồm thân xe và khung xe (trên đó có lắp động cơ, hộp số và hệ thống treo) tách rời.
Thân xe dạng vỏ (B):
Loại kết cấu này bao gồm thân xe và khung xe được gắn liền thành một khối.
Toàn bộ thân xe chắc khỏe dưới dạng một khối thống nhất.
b. Tên gọi các bộ phận của thân xe:
Hình5.5. Các bộ phận bên ngoài của thân xe
1: Bađờ sốc trước ; 2: Lưới che két ước ; 3: ắp capô ; 4: Kí h chắ ió ; 5: Trụ xe phía trước ; 6: Cửa trời (cửa trầ ) ; 7: Nóc xe ; 8: Khu cửa ; 9: Trụ iữa ;
10: Kí h cửa sổ trước ; 11: Tay ắm oài ; 12: Gươ chiếu hậu bê oài 13:
Cửa ; 14: Tai xe trước ; 15: ẹp oài ( ẹp bảo vệ) ; 16: Chắ bù ; 17: Kính hậu ;18: Tấm hướ ió sau ;19: ắp khoa hà h lý ; 20: ắp cửa ạp hiê liệu;
21: Tai xe sau ; 22: Trụ sau
Hình5.6. Các bộ phận bên trong của thân xe
1: Cửa ió ; 2: H p che ầm iữa ; 3: Bả táplô ; 4: Gươ chiếu hậu bê tro
; 5: Tấm chắ ắ ; 6: Tấm ốp cửa 7: Tay ắm phụ ; 8: Tựa tay hế sau iữa ; 9: Đai a toà ; 10: Tựa đầu ; 11: Lư hế ; 12: Cầ điều chỉ h đ ả hế ; 13: Ghế ( ệm hế) ; 14: Cầ trượt hế ; 15: Tấm ốp bậu cửa ; 16: H p đự ă
tay (đự đồ) ; 17: Tay ắm cửa bê tro ; 18: Tựa tay trê cửa ; 19: Nút khóa cửa ; 20: Gioă cửa ; 21: ă để đồ trê cửa 22: Tay quay kí h cửa c. Lớp sơn xe:
Sơn là một loại màng được phủ lên trên bề mặt của thân xe. Mục đích chính của nó là nâng cao vẻ đẹp của thân xe. Một mục đích khác nữa là để bảo vệ thân xe khỏi bị rỉ, ánh nắng mặt trời bụi và mưa. Lớp sơn gồm 3 lớp sau:
Lớp lót: Để bảo vệ thân xe khỏi bị rỉ.
Lớp trung gian: Tạo nên lớp nền và làm nhẵn lớp lót.
Lớp phủ ngoài: Đây là lớp ngoài cùng nó mang lại cho sơn độ bóng và độ hấp dẫn.
Hình 5.7. Cấu trúc lớp sơn
1: Tấm kim loại ; 2: Lớp lót ; 3: Lớp tru ia ; 4: Lớp phủ oài
Các loại lớp phủ ngoài:
(A) Màu thịt: Bao gồm một lớp sơn phủ ngoài, loại sơn này chỉ dùng sơn màu mà không có bất kỳ hạt nhôm nào.
(B) Màu Metallic: Lớp sơn phủ ngoài cùng có hai lớp, một lớp màu metallic trong có có lẫn các hạt nhôm, và một lớp phủ bóng được làm từ sơn không màu. Cần phải cẩn thận khi bảo dưỡng hay rửa loại xe này, do chỉ một vết xước nhỏ trên lớp bóng cũng có thể nhận thấy được.
(C) Màu mica: Nó bao gồm 3 lớp phủ ngoài. Lớp giữa có chức những hạt mica nhỏ.
Đặc điểm độc đáo của loại sơn này là độ sâu, độ bóng và độ trong suốt giống như ngọc trai. Cần phải cẩn thận để bảo vệ lớp dầu bóng khỏi bị xước
(1) Phản xạ ánh sáng
Hình 5.8. Cấu trúc lớp phủ ngoài d. Kính ô tô
Kính là một bộ phận quan trọng dùng để đảm bảo độ an toàn và tính tiện nghi cho xe. Không những trong suốt, kính ôtô còn bảo vệ hành khách bằng cách khó vỡ dước tác dụng của ngoại vật
(1): Ánh năng mặt trời (2): Tia cực tím UV
Hình 5.9. Các loại kính ô tô
(A): Kính hai lớp: Một lớp màng trong suốt được đặt vào giữa hai tấm kính thông thường, và ép lại với nhau. Nó được thiết kế để tránh những vật, như đá văng vào từ bên ngoài, không xuyên qua kính. Nó cũng không bị vỡ thành những mảnh sắc. Ngày nay, loại kính này được dùng làm kính chắc gió. Lớp màng được dùng trong kính hai lớp sẽ ngăn tia cực tím.
(B): Kính tôi nhiệt: Kính thông thường được nung nóng và làm lạnh nhanh để tạo nên loại kính này, nó có khả năng chống va đập cao hơn. It Nó có cường độ cao gấp 4 lần so với kính thông thường. Mặc dù kính tôi nhiệt bị vỡ khi bị đập mạnh, nó vỡ thành dạng hạt để giảm nguy cơ bị thương.
(C): Kính giảm tia cực tím UV: "UV" là viết tắt của từ "ultraviolet rays- tia cực tím", và kính giảm UV được phát triển để giảm lượng tia cực tím có thể gây ra bỏng do ánh nắng. Được dùng chủ yếu ở cửa và cửa sổ sau, kính giảm tia UV giảm khoảng 90 đến 95% tia cực tím.
(D): Kính màu: Toàn bộ kính có màu xanh và đồng nhạt. Kính có một dải sẫm màu được sử dụng cho kính chắn gió. Chỉ có phần trên đỉnh là sẫm màu, và đướng biên của nó giảm dần để nâng cao vẻ đẹp.
(E): Kính hấp thụ năng lượng mặt trời: Kính này có chứa một lượng nhỏ kim loại như niken, sắt, coban v.v. nó có tác dụng hấp thụ bước sóng của ánh nắng mặt trời ở trong khoảng tia hồng ngoại. Điều này giảm bớt nhiệt độ bên trong xe mà thông thường là kết của của ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp.
d. Ghế
Các chức năng điều chỉnh ghế: Ghế được thiết kế với nhiều chức năng điều chỉnh nhằm đảm bảo tính tiện nghi cho hành khách và giảm tối đa sự mệt mỏi khi lái xe với quãng đường dài.
Hình 5.10. Cấu tạo của ghế ngồi
1: Điều chỉ h trượt ; 2: Điều chỉ h hiê lư hế ; 3: Điều chỉ h đ cao hế ; 4:
Điều chỉ h đỡ lư ; 5: Điều chỉ h đỡ sườ ; 6: Điều chỉ h tựa đầu
(1): Điều chỉnh trượt: Điều chỉnh vị trí của ghế theo hướng dọc xe bằng cách trượt các ray bên dưới ghế.
(2): Điều chỉnh nghiêng lưng ghế: Điều chỉnh góc nghiêng của lưng ghế về phía trước và sau.
(3): Điều chỉnh độ cao ghế: Điều chỉnh độ cao của nệm ghế. Một số loại di chuyển toàn bộ ghế lên và xuống, loại khác chỉ điều chỉnh phần trước hay sau.
(4): Điều chỉnh đ lưng: Tạo ra phần đỡ ở vùng thắt lưng của lưng ghế nhằm làm giảm mệt mỏi cho hành khách khi lái x với quãng đường dài.
(5): Điều chỉnh đ sườn: Điều chỉnh độ rộng của phần đỡ sườn trên lưng ghế và mức độ đỡ cơ thể của lái xe khi quay vòng.
(6): Điều chỉnh tựa đầu: Tựa đầu được thiết kế để bảo vệ lái xe khỏi bị gẫy cổ trong trường hợp tai nạn từ phía sau. Điều chỉnh tựa đầu được sử dụng để điều chỉnh vị trí của tựa đầu phù hợp với khổ người và vị trí của hành khách.
Có những loại mà có thể điều chỉnh lên xuống và loại khác có thể điều chỉnh cả lên xuống và trước sau.
e. Hệ thống khép cửa
Khi ECU phát hiện thấy cửa khép hờ, nó kích hoạt môtơ cụm khóa cửa để đóng hoàn toàn cửa lại.
Cũng có hệ thống khép cửa cho nắp khoang hành lý để đóng hoàn toàn nắp khoang hành lý nếu ECU phát hiện thấy nó khép hờ.
Hình 5.11. Hệ thống khép cửa
1: ECU cửa ; 2: Cụm khóa cửa ; 3: Móc khóa cửa ; 4: Môtơ khép ắp khoa hành lý ; A: Trước khi hoạt đ ; B: Sau khi hoạt đ
III. HIỆN TƯỢNG, NGUYÊN NHÂN HƯ HỎNG - Hiện tượng và nguyên nhân hư hỏng.
- Phương pháp kiểm tra và bảo dưỡng sửa chữa.
IV. KIỂM TRA BẢO DƯỠNG, SỬA CHỮA THÂN XE 1. Quy trình tháo lắp.
2. Bảo dư ng
+ Tháo lắp kiểm tra chi tiết thân xe, cửa xe, ghế, nệm, kính xe: nứt, móp, rỉ, tróc sơn.
+ Làm sạch và bơm mỡ bôi trơn chốt cửa.
+ Sơn và lắp thân xe.
3. Sửa chữa:
a. Sửa chữa khung và thân xe:
Các dạng hư hỏng của khung và thân xe:
Hư hỏng trực tiếp:
Là va chạm tác dụng trực tiếp vào kết cấu khung, vỏ của ôtô.
Mức độ hư hỏng của ôtô nặng hay nhẹ phụ thuộc vào nguyên nhân của sự va chạm, kết cấu, vật liệu làm khung vỏ. Trong quá trình chế tạo khung, vỏ thì người ta thiết kế những vết lồi lõm, gập khúc, cong để sao cho khi có lực tác dụng vào thì sẽ hấp thụ được tối đa lực tác dụng đó.
Đó là phương pháp để giảm lực va đập tác dụng lên người lái và hành khách. Khi có lực va chạm mạnh sẽ làm các dầm dọc, dầm ngang, các thanh chống của khung, vỏ bị biến dạng như bị võng do uốn, vênh do xoắn, nứt do mỏi, làm bong, tróc các lớp sơn.
Tùy theo vị trí va chạm mà mức độ ảnh hưởng tới các chi tiết cũng như tổng thành trên xe ôtô là khác nhau.
Nhưng thông thường thì khi xảy ra va chạm trực tiếp các bộ phận cũng như các chi tiết tại vị trí va chạm bị hư hỏng do đó phải thay thế.
Hình 5.12. Va chạm trực tiếp
Hư hỏng kéo theo:
Trong quá trình chế tạo cũng như quá trình lắp ghép thì các chi tiết được nối ghép với nhau bằng bu lông, đinh tán hoặc bằng phương pháp hàn …Do đó khi xẩy va chạm thì các tổng thành hay cụm chi tiết ở vùng lân cận sẽ ảnh hưởng làm biến dạng.
ảnh hưởng có thể làm hư hỏng các chi tiết và được gọi là hư hỏng kéo theo.
Mức độ hư hỏng kéo theo phụ thuộc vào các nguyên lý lắp ghép và mức độ lực va đập. Nhưng thông thường thì hư hỏng kéo theo chỉ làm biến dạng hoặc hư hỏng nhẹ vì khi lực tác dụng vào thì chỉ còn một phần nhỏ lực tác dụng lên các bộ phận, chi tiết.
Hư hỏng do lan truyền:
Hư hỏng do lan truyền là hư hỏng thường xuyên xảy ra khi có va chạm. Đây là dạng hư hỏng rất phức tạp có thể nhìn thấy được bằng mắt thường hoặc không thể
nhìn thấy được mà phải dùng tới các dụng cụ kiểm tra mới phát hiện ra.
Những dạng hư hỏng này có đặc điểm là vùng bị biến dạng và mức độ hư hỏng là rất nhẹ.
Nguyên nhân dẫn tới hư hỏng phức tạp là do kết cấu của khung, vỏ ôtô là thiết kế sao cho giảm tối đa được lực va chạm lên người lái và hành khách vì vậy mà khi có lực tác dụng thì lực đó sẽ được tiêu tán trên các dầm ngang, dầm dọc, thanh chống . Trong quá trình lực phân tán thì tại vị trí nào đó mà suất hiện ứng suất tập trung thì tại vị đó sẽ xuất hiện hư hỏng như bong tróc, gẫy gập.
Khi có lực va chạm từ phía trước thì hiệu ứng lan truyền lên cản trước tới dầm ngang trước sau đó tới các bộ phận như giá đỡ thanh giằng, dầm đỡ chân máy, dàn nóng lạnh, động cơ, hộp số.
Dưới đây là các dạng lan truyền chủ yếu hay tiêu tán năng lượng khi xe bị đâm từ phía trước và từ hai bên hông.
Hình 5.13. Sơ đồ lực tác dụng khi ôtô bị đâm từ phía trước và bên hông Từ sơ đồ trên ta thấy khi xảy ra va chạm từ phía trước thì lực chủ yếu tác dụng lên hai bên tai, bộ phận chắn bùn, bộ phận lắp nhún và chuyển lên phía nóc xe, do đó mà người ngồi trên xe không bị chấn thương còn các bộ phận của máy móc cũng hư hỏng nhẹ.
Khi bị đâm từ bên hông thì lực tiêu tán dọc sàn xe trên những thanh ngang và thanh chống đỡ nóc. Trên nóc có các thanh ngang có tác dụng hấp thụ va chạm từ hai bên hông và đằng trước.
Hình 5.14. Hư hỏng do lan truyền
Dụng cụ sửa chữa khung, thân xe:
- Búa, đe tay:
- Đồ gá hàn kéo:
- Thiết bị nắn chuyên dùng:
Phục hồi hình dáng ban đầu của khung, thân xe:
Nguyên tắc chung để quyết định sửa chữa hay thay thế một bộ phận nào đó thì có thể căn cứ vào công thức tham khảo sau.
(Tiền phụ tùng + tiền công thay thế) x 0.7 > Tiền công sửa chữa thì quyết định sửa chữa.
(Tiền phụ tùng + tiền công thay thế) x 0.7 < Tiền công sửa chữa thì quyết định thay thế.
Căn cứ vào công thức trên thì có những phương pháp sửa chữa sau:
(1). Sửa chữa bằ búa và đe tay:
Sửa chữa bằng búa và đe tay là phương pháp gia công bằng áp lực.
Gia công áp lực là dùng lực cơ giới tác dụng bên ngoài vật cần gia công biến cho kim loại của vật gia công biến dạng dẻo
đạt được hình dạng kích thước theo yêu cầu.
Phương pháp này tiến hành ở nhiệt độ thường, thấp hơn nhiệt độ kết tinh lại của kim loại nên thường xẩy ra hiện tượng biến cứng làm tăng độ bền nhưng giảm tính dẻo và chỉ được áp dụng đối với các chi tiết đơn giản được làm bằng thép hợp kim, thép cácbon.
Hình 5.15. Sửa chữa hư hỏngbằng búa và đe (2). Sửa chữa bằ hà vò đệm:
Đây là phương pháp kết hợp cả hai trường hợp đó là kéo ra và gia công vào.
Phương pháp này đem lại hiệu quả cao, chính xác và tốn ít thời gian để phục hồi lại hình dạng ban đầu.
Hình 5.16. Sửa chữa bằng hàn vòng đệm (3). Sửa chữa bằ bả ma tít:
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất ở các xí nghiệp, nhà máy chế tạo ôtô. Bả ma tít là quá trình phủ lên bề mặt chi tiết một lớp chất hoá học để lấy lại độ nhẵn của vỏ xe.
Trong quá trình xẩy ra tai nạn thì lực va chạm có thể làm cho vỏ xe hư hỏng nhiều chỗ trên diện rộng, có những chỗ lồi lõm nằm đan xen nhau vì vậy mà áp dụng phương pháp này sẽ có nhiều ưu điểm đó là lấy lại độ nhẵn đồng nhất trên diện rộng.
So sánh với hai phương pháp trên
thì Hình5.17. Sửa chữa bằng bả ma tít
phương pháp này có nhiều ưu điểm tạo bề mặt nhẵn nhanh, giá thành rẻ, rất kinh tế, thiết bị đơn giản và cũng không đòi hỏi tay nghề thợ phải cao.
(4). Sửa chữa bằ cách thay thế:
tiết vì tiền công vật liệu, tiền công thay thế lớn hơn tiền công sữa chữa thì phải thay thế chi tiết hoàn toàn mới.
Hình5.18 . Sửa chữa bằng cách thay thế (5). Sửa chữa bằ cách ắ thâ xe:
Thân xe là bộ phận rất quan trọng gồm rất nhiều chi tiết được lắp ghép với nhau.
Mức độ an toàn của người lái và hành khách phụ thuộc rất nhiều vào kết cấu thân xe vì vậy mà khi xẩy ra tai nạn thì thân xe là bộ phận chịu lực va chạm là chủ yếu do đó mà mức độ hư hỏng cũng rất phức tạp đối với thân xe.
Thông thường thân xe được nắn trên các loại máy chuyên dùng, quá trình nắn thân xe rất phức tạp đòi hỏi người sửa chữa phải có kinh nghiệm và kiến thức vững vàng.
Hình 5.19. Sửa chữa bằng cách nắn thân xe Quá trình nắn thân xe thường có hai phương pháp:
ắ tĩ h:
Nắn tĩnh thường được thực hiện trên máy ép thuỷ lực, thông thường nắn nguội:
khi chi tiết chịu tác động của ngoại lực ( hình 3.13) sẽ xuất hiện các biến dạng dẻo và đàn hồi. Nhất là các chi tiết không cứng như các loại trục, biến dạng đàn hồi lớn hơn rất nhiều.
Để nắn thẳng chi tiết người ta tạo ra biến dạng dư bằng cách uốn võng ngược lại gấp 10÷15 lần độ cong sinh ra.
Trên thực tế khó nắn thẳng được chi tiết trên máy ép vì khó lấy được điểm tựa và kê, độ võng thường xẩy ra ở chỗ có độ bền cơ học thấp (thường biến dạng này sinh