2.1. Các động mạch.
Các động mạch cấp máu cho chi dưới xuất phát từ động mạch chậu trong và chậu ngoài. Các động mạch chạy tiếp của:
- Động mạch chậu trong:động mạch đùi, động mạch khoeo, các động mạch chày trước và chày sau, động mạch mu chân và các động mạch gan chân. - Động mạch chậu ngồi:động mạch mơng trên, động mạch mông dưới và động
mạch bịt.
2.1.1. Động mạch đùi (femoral artery).
● Nguyên uỷ, đường đi và tận cùng. Động mạch đùi chạy tiếp theo động mạch
chậu ngoài bắt đầu từ sau dây chằng bẹn, giữa gai chậu trước – trên và khớp mu. Nó chạy gần nhu thẳng đứng xuống dưới qua tam giác đùi và ống cơ khép. Hình chiếu lên bề mặt của động mạch là 2/3 trên của đường kẻ nối điểm nằm cách đều
gai chậu trước – trên và củ cơ khép của xương đùi. Sau khi chui qua lỗ gân cơ khép, nó đi vào khoeo và trở thành động mạch khoeo.
● Các liên quan.
Trong tam giác đùi, cùng với tĩnh mạch đùi ở trong, thần kinh đùi và các nhánh của nó ở ngồi.
Trong ống cơ khép, tĩnh mạch đùi bắt chéo bắt chéo sau động mạch để chạy ra ngoài; thần kinh hiển bắt chéo trước động mạch trước khi ra khỏi ống cơ khép.
- Phía trước – trong là cơ may vàvách gian cơ rộng – khép.\
- Trước – ngồi là cơ rộng trong.
- Phía sau là các cơ khép dài và khép lớn.
● Các nhánh bên và tiếp nối. Động mạch đùi tách ra một số nhánh nhỏ và nông ở
ngay dưới dây chằng bẹn; các nhánh khác là động mạch đùi sâu và động mạch gối xuống.
- Động mạch mũ chậu nơngchạy trên về phía gai chậu trước – trên.
- Động mạch thượng vị nôngchạy lên trước dây chằng bẹn và đi về phía rốn trong mơ dưới da bụng.
- Động mạch thẹn ngồi nơngvàđộng mạch thẹn ngoài sâuđi vào trong cấp máu cho da của bụng dưới, dương vật, bìu hoặc mơi lớn, tiếp nối với các nhánh của động mạch thẹn trong.
- Động mạch đùi sâutách ra từ mặt sau – ngoài của động mạch đùi ở dưới dây chằng bẹn khoảng 3,5cm.
- Động mạch gối xuốnglà nhánh dưới cùng của động mạch đùi tách ra ở đầu dưới của ống cơ khép.
2.1.2. Động mạch khoeo (popliteal artery).
● Nguyên uỷ, đường đi và tận cùng. Động mạch khoeo chạy tiếp theo động mạch
đùi bắt đầu từ lỗ gân cơ khép lớn. Nó đi xuống dưới và ra ngồi qua khoeo và khi tới bờ dưới của cơ khoeo thì chia thành các động mạch chày trước và sau.
● Các liên quan.
Trước, từ trên xuống dưới: diện khoeo xương đùi, bao khớp gối và cơ khoeo. Sau, đoạn trên với các cơ bán màng, đoạn dưới cơ bụng chân, đoạn giữa của động mạch được ngăn cách với da và mạc bởi mô mỡ, tĩnh mạch khoeo và thần kinh chày; tĩnh mạch khoeo ở sau và ngoài động mạch, thần kinh chày ở sau và ngoài tĩnh mạch.
● Các nhánh bên và tiếp nối.
Các nhánh datách ra từ động mạch khoeo hay các nhánh bên của nó. Chúng đi xuống giữa các đầu cơ bụng chân và xuyên qua mạc để cấp máu cho da ở mặt sau bắp chân; một nhánh thường đi theo tĩnh mạch hiển nhỏ.
Các nhánh cơtrên đi tới cơ khép lớn và các cơ gấp đùi, tiếp nối với nhánh tận cùng của động mạch đùi sâu.
Các động mạch cơ bụng chânlà hai động mạch tách ra từ khớp gối và đi đến đầu cơ bụng chân.
Các động mạch gốibao gồmcác động mạch gối trên trongvàngoài, động mạch gối giữavàcác động mạch gối dưới ngoàivà trong. Chúng nối tiếp nhau tạo nênmạng mạch khớp gối(gồm các nhánh của động mạch đùi, động mạch chày trước và động mạch chày sau tham gia).
2.1.3. Động mạch chày trước (anterior tibial artery).
● Nguyên uỷ, đường đi và tận cùng. Động mạch chày trước là nhánh tận của động
mạch khoeo và tách ra ở bờ dưới cơ khoeo. Đầu tiên, nó đi trong ngăn mạc sau của cẳng chân, rồi chui qua một lỗ ở phần trên màng gian cốt đi vào ngăn mạc cẳng chân trước. Trong ngăn mạc trước, lúc đầu động mạch nằm ở trong cổ xương mác, sau đó đi trước màng gian cốt, tiến dần lại rồi nằm trước xương chày. Cổ chân, tại điểm giữa hai mắt cá, nó liên tiếp với động mạch mu chân. Hình chiếu của động mạch lên bề mặt là đường nối một điểm ở ngay dưới bờ trong chỏm xương mác với điểm nằm giữa hai mắt cá.
● Các liên quan.
Lúc đi trước màng gian cốt 2/3 trên cẳng chân, động mạch nằm giữa cơ chày trước và cơ duỗi các ngón chân dài đồng thời được cơ này che phủ.
Lúc đi trước xương chày 1/3 dưới cẳng chân, động mạch chày trước nằm giữa cơ chày trước và cơ gấp các ngón cái dài, được che phủ bởi mạc cẳng chân.
Cổ chân, sau hãm gân duỗi, nó bị gân cơ duỗi ngón cái dài bắt chéo trước từ ngồi vào trong và sau đó nằm giữa gân này và trẽ gân trong cùng của cơ duỗi các ngón chân dài. Đi cùng động mạch có các tĩnh mạch tuỳ hành và thần kinh mác sâu.
So với động mạch, thần kinh nằm ngoài ở 1/3 trên, trước ở 1/3 giữa rồi lại nằm ngoài ở 1/3 dưới.
● Các nhánh bên và tiếp nối.
Động mạch quặt ngược chày sautách ra lúc động mạch chày trước còn nằm ở ngăn mạc cẳng chân sau.
Động mạch quặt ngược chày trướctách ra khi động mạch chày trước vừa đi vào ngăn mạc trước.
Động mạch mắt cá trước – trongtách ra ở trên khớp cổ chân khoảng 5cm đi vào trong tiếp nối với nhánh mắt cá trong của động mạch chày sau. Động mạch cổ chân trong
của động mạch mu chân và các nhánh của động mạch gan chân trong tạo nênmạng mạch mắt cá trong.
Động mạch mắt cá trước – ngoàiđi tới mặt ngoài cổ chân, tiếp nối với nhánh xuyên và nhánh mắt cá ngoài của động mạch mác, động mạch cổ chân ngoài của động mạch mu chân và các nhánh của động mạch gan chân ngoài tạo nênmạng mạch mắt cá ngoài.
2.1.4. Động mạch mu chân (arteria dorsalis pedis).
● Nguyên uỷ, đường đi và tận cùng. Động mạch mu chân là sự tiếp tục của động
mạch chày trước sau khi động mạch này đi qua cổ chân. Nó chạy về phía xa, hướng tới khoảng kẽ giữa các ngón chân thứ nhất và thứ hai, và khi tới đầu gần của khoang gian đốt bàn chân thứ nhất thì chia thànhđộng mạch mu đốt bàn chân thứ nhấtvàđộng mạch gan chân sâu; động mạch gan chân giữa hai đầu cơ gian cốt mu chân thứ nhất để hoàn thiện cung gan chân sâu.
● Các liên quan. Động mạch mu chân đi ở mu chân ở phía trong thần kinh mác sâu,
giữa gân của cơ duỗi ngón cái dài ở trong và chẽ gân trong của cơ duỗi các ngón chân dài. Mặt trước của động mạch được che phủ bởi da, mạc, hãm gân duỗi dưới và, ở gần nơi tận cùng, cơ duỗi các ngón chân ngắn.
● Các nhánh bên và tiếp nối. Động mạch mu chân tách ra các động mạch cổ chân,
động mạch cung và động mạch mu đốt bàn chân thứ nhất.
Các động mạch cổ chânbao gồm động mạch cổ chân ngoài và động mạch cổ chân trong, cả hai tham gia vào mạng mạch mắt cá.
Động mạch cungđi ra ngoài, trên nền các xương đốt bàn chân, dưới gân của cơ duỗi ngón chân.
Động mạch mu đốt bàn chân thứ nhấtchạy về phía xa và chia ra ở khoảng kẽ giữa các ngón chân thứ nhất và thứ hai thành ba nhánh cho hai bờ ngón chân cái và bờ trong ngón chân thứ hai.
2.1.5. Động mạch chày sau (posterior tibial artery).
● Nguyên uỷ, đường đi và tận cùng. Động mạch chày sau là nhánh tận của động
mạch khoeo và tách ra ở ngang bờ dưới cơ khoeo. Nó đi xuống và vào trong qua ngăn mạc cẳng chân sau và tận cùng ở điểm cách đều mắt cá trong và củ gót trong bằng cách chia thành các động mạch gan chân trong và ngoài.
● Các liên quan. Từ trên xuống, động mạch kế tiếp nằm sau cơ chày sau, cơ gấp các
ngón chân dài, xương chày và khớp cổ chân. Cơ tam đầu cẳng chân vàmạc ngang sâu cẳng chânche phủ động mạch nhưng ở dưới chỉ có da và mạc che phủ động mạch. Đi cùng động mạch có hai tĩnh mạch tuỳ hành và thần kinh chày. Thần kinh lúc đầu nằm trong động mạch nhưng sớm bắt chéo sau động mạch để nằm ở ngoài động mạch.
● Các nhánh bên và tiếp nối.
Nhánh mũ mácđi ra ngoài quanh cổ xương mác, nối với động mạch gối dưới – ngoài.
Động mạch máctách ra dưới cơ khoeo khoảng 2,5cm. Nó đi chếch ra ngồi tới xương mác rồi đi xuống, lúc đầu giữa cơ chày sau và cơ gấp ngón cái dài, sau đó dưới sự che phủ của cơ gấp ngón cái dài. Tới sau khớp sợi chày – mác dưới, nó tận cùng bằng nhánh mắt cá ngoài.
- Các nhánh bên và tiếp nối của động mạch mác:
✔ Các nhánh cơcấp máu cho cơ dép, cơ chày sau, cơ gấp ngón cái dài và các cơ mác.
✔ Động mạch nuôi xương mác.
✔ Nhánh xuyên. Nhánh này xuyên qua màng gian cốt ở trên mắt cá ngoài khoảng
5cm để đi vào ngăn mạc cẳng chân trước, tiếp nối với động mạch mắt cá trước – ngoài của động mạch chày trước, nhánh mắt cá ngoài của động mạch mác và động mạch cổ chân ngoài của động mạch mu chân.
- Nhánh nối với động mạch chày sau:
✔ Động mạch nuôi xương chàyđi vào xương ở ngay dưới đường cơ dép. ✔ Các nhánh cơcho cơ dép và các cơ lớp sâu của cẳng chân sau.
✔ Các nhánh mắt cá trongchạy quanh mắt cá trong tới mạng mạch mắt cá trong. ✔ Các nhánh góttách ra ở ngay trên chỗ tận cùng và đi tới da ở các mặt trong và sau
của gót.
2.1.6. Các động mạch gan chân.
Động mạch gan chân trong(medial plantar artery) chạy về phía xa dọc theo bờ trong bàn chân và ở phía trong thần kinh gan chân trong. Lúc đầu che phủ bởi cơ giạng ngón cái, sau đó đi giữa cơ này và cơ gấp các ngón chân ngắn.
Động mạch gan chân ngoài(lateral plantar artery) là nhánh tận lớn hơn của động mạch chày sau. Đoạn đầu của động mạch chạy chếch ra trước và ra ngồi, ở phía trong thần kinh gan chân ngoài, tới nền xương đốt bàn chân thứ năm. Từ đây, nó cùng với các nhánh sâu thần kinh gan chân ngoài chạy vào trong ngang qua bàn chân tới đầu gần của khoản gian xương đốt bàn chân thứ nhất thì nối với động mạch gan chân sau của động mạch mu chân tạo nêncung gan chân sâu.Đoạn chếch, lúc đầu động mạch nằm giữa xương gót và cơ giạng ngón cái, sau đó giữa cơ gấp các ngón chân ngắn và cơ vuông gan chân, và cuối cùng giữa cơ gấp các ngón chân ngắn và cơ giạng ngón út dưới sự che phủ của cân gan chân. Cung gan chân sâu (đoạn ngang của động mạch) nằm dưới nền các xương đốt bàn chân từ thứ hai tới thứ tư và được che phủ bởi phần chếch của cơ khép ngón cái.
Động mạch mông trên là sự tiếp xúc của thân sau động mạch chậu trong. Nó chạy ra sau giữa thân thắt lưng cùng và thần kinh cùng thứ nhất hoặc giữa các thần kinh cùng thứ nhất và thứ hai và rời khỏi chậu hông qua khuyết ngồi lớn ở mặt trên cơ hình lê.
- Nhánh nơng đi vào mặt sâu cơ mông lớn, cấp máu cho cơ này và tiếp nối động mạch móng dưới.
- Nhánh sâu chạy giữa cơ mơng lớn và xương chậu, sớm chia thành nhánh trên và nhánh dưới.
2.1.8. Động mạch mông dưới (inferior gluteal artery).
Động mạch mông dưới là nhánh tận của thân trước động mạch chậu trong. Nó đi xuống ở trước đám rối cùng và cơ hình quả lê, sau động mạch thẹn trong. Sau khi lách giữa nhánh trước của các thần kinh sống cùng I và II, rồi giữa cơ hình quả lê và cơ ngồi – cụt, nó đi qua khuyết ngồi lớn tới vùng mơng. Ở mơng, nó đi xuoosg giữa mấu chuyển lớn và củ ngồi cùng với các thần kinh ngồi và bì đùi sau, ở trước cơ mơng lớn, tới tận phần trên của đùi và tiếp nối với các nhánh của các động mạch xun.
Các nhánh cơ ở ngồi chậu hơng của động mạch mông dưới cấp máu cho cơ mông lớn, cơ bịt trong, các cơ sinh đôi, cơ vuông đùi và phần trên các cơ đùi sau, tiếp nối với các động mạch mông trên, thẹn trong, bịt và mũ đùi trong.
2.1.9. Động mạch bịt (obturator artery).
Động mạch bịt là nhánh của thân trước động mạch chậu trong; nó chạy qua thành bên chậu hông tới lỗ bịt, phân nhánh vào các cơ bịt và các cơ khép đùi.
2.2. Các tĩnh mạch. 2.2.1. Các tĩnh mạch sâu.
Các tĩnh mạch sâu đi kèm theo động mạch và mang tên như động mạch.
Động mạch khoeo và động mạch đùi có một tĩnh mạch đi kèm; các động mạch cịn lại có hai tĩnh mạch đi kèm.
Tĩnh mạch đùichạy lên tới sau dây chằng bẹn thì đổi tên thànhtĩnh mạch chậu ngoài.Tĩnh mạch chậu ngoài chạy lên dọc bờ trong cơ thắt lưng, tới ngang khớp cùng – chậu thì hợp vớitĩnh mạch chậu trongđể tạo thànhtĩnh mạch chậu chung.Những tĩnh mạch đi kèm các nhánh động mạch cấp máu cho chi dưới của động mạch chậu trong thì đổ về tĩnh mạch chậu trong.
2.2.2. Các tĩnh mạch nông.
Các tĩnh mạch ở ngón chân và bàn chân đổ vềcung tĩnh mạch mu chân. Tĩnh mạch hiển lớn(great saphenous vein) bắt đầu từ đầu trong của cung tĩnh mạch mu chân và đi lên ở trước mắt cá trong (một vị trí rất hằng định) rồi ở mặt trong
cẳng chân, gối và đùi, cuối cùng đổ vào tĩnh mạch đùi ở dưới dây chằng bẹn khoảng 3cm. Tĩnh mạch hiển lớn tiếp nhận các nhánh: các tĩnh mạch thẹn ngồi, tĩnh mạch mũ chậu nơng, tĩnh mạch thượng vị nông, tĩnh mạch hiển phụ, các tĩnh mạch mu nông của dương vật hoặc âm vật, các tĩnh mạch mơi trước hoặc bìu trước.
Tĩnh mạch hiển bé(small saphenous vein) xuất phát từ đầu ngoài cung tĩnh mạch mu chân. Nó đi lên, lúc đầu ở sau mắt cá ngồi rồi sau đó ở mặt sau cẳng chân, tới khoeo thì xuyên qua mạc khoeo đi vào sâu đổ vào tĩnh mạch khoeo.
Các tĩnh mạch hiển thường tiếp nối với nhau và với các tĩnh mạch sâu. Chúng tiếp nhận nhiều nhánh bên trên đường đi.
2.3. Các liên hệ chức năng và lâm sàng.
Đầu gần của động mạch đùi nằm ngay trước bao khớp hơng; vì thế, khi kiểm chế một chảy máu nặng ở chi dưới có thể lấy ngón tay ép động mạch vào bao khớp hông.
Trong tam giác đùi, mặt trước của động mạch đùi chỉ được che phủ bởi da và mạc đùi dễ dàng sờ thấy mạch đập. Nhiều thủ thuật chẩn đoán và điều trị:
- Chọc động mạch rồi đưa vào một catheter và đưa tới tận tim.
- Vị trí cần thiết để bơm thuốc cản quang vào động mạch trước khi chụp.
Các tĩnh mạch nơng của chi dưới có thể bị giãn to nếu những van trong các tĩnh mạch nối với các tĩnh mạch nông với các tĩnh mạch sâu bị suy (bình thường van chỉ cho phép máu chảy từ tĩnh mạch nông và tĩnh mạch sâu), làm cho máu từ tĩnh mạch sâu chảy ra tĩnh mạch nơng.
Vị trí hằng định của tĩnh mạch hiển lớn ở trước mắt cá trong là cơ sở để tìm và tiêm, truyền vào tĩnh mạch này khi cần.