Gói tin khi đến đích tại node 4 khơng cịn nhãn SID nữa, khi này việc chuyển
tiếp dữ liệu sẽ phụ thuộc vào địa chỉ IP đích hoặc nhãn dịch vụ (nếu có).
d. Nhãn Explicit-Null
Cả hai nhãn Explicit-Null và Implicit-Null đều được sinh ra bởi node cuối cùng trong một chu trình chuyển tiếp dữ liệu sử dụng nhãn, nhưng giữa chúng lại có sự khác biệt về chức năng rất rõ ràng. Dù cả hai đều được node cuối cùng quảng bá cho các node hàng xóm, trong khi nhãn Implicit-Null được sinh ra mặc định cịn Explicit-Null phải được cấu hình thủ công khi cần thiết. Nhãn Implicit-Null sẽ giúp node áp chót biết hành động cần làm đó là phải xóa bỏ tất cả các nhãn chứa trong gói tin đến, chỉ để lại gói tin thuần IP mang dữ liệu. Việc này có ưu điểm nổi bật đó là hỗ trợ giảm tải tính tốn, tiêu tốn tài nguyên cho node cuối cùng. Ngược lại, khi mạng được cấu hình cho dịch vụ QoS
Nguyễn Đình Trung-D17CQVT06-B 40
(Quality of Service) dựa vào các bit MPLS EXP, hành động gỡ nhãn ở node kết cuối sẽ gỡ bỏ mất các bit MPLS EXP.
Trong trường hợp đó, người ta có thể sử dụng nhãn Explicit-Null để node áp chót khơng bóc nhãn. Node cuối cùng sẽ cấu hình vào Prefix-SID một cờ E trước khi quảng bá cho hàng xóm. Khi này, node áp chót sẽ hốn đổi nhãn Prefix-SID của gói tin và chèn vào nhãn Explicit-Null. Nhãn được gửi với giá trị nhãn bằng 0 và gồm các trường khác chứa các bit EXP, các bit này cịn ngun vẹn mà khơng bị gỡ bỏ. Hình 2.28 thể hiện cấu hình khai báo nhãn Explixit – Null trong IS – IS.