CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.5. Lịch sử nghiờncứu vựng đầu mặt và cung răng trờn thế giới và Việt Nam
1.5.1.2. Cỏc nghiờncứu sự phỏt triển cung răng trờn thế giới
Trong những NC đầu tiờn, cỏc tỏc giả chủ yếu quan sỏt tương quan giữa cỏc điểm mốc răng và cung răng trờn miệng và đỏnh giỏ những thay đổi của vị trớ của cỏc điểm mốc đú. Zsigmundy (1890) là người đầu tiờn đo kớch thước cung răng. Sau đú nhiều tỏc giả quan tõm tới vấn đề này như Moorrees, Meredith, Chapman, Foster, Chang …; theo dừi những thay đổi về chiều dài, chiều rộng và chu vi cung
răng giỳp đỏnh giỏ sự tăng trưởng và phỏt triển của cung răng trong quỏ trỡnh phỏt triển của hệ thống sọ -mặt - răng.
Năm 1929, Lewis [100], nghiờn cứu về những thay đổi tăng trưởng của răng và cung răng, và những thay đổi khớp cắn ở bộ răng sữa sang bộ răng hỗn hợp của 170 trẻ từ 1,5 đến 9,5 tuổi. Ngoài những phỏt hiện về khớp cắn, tỏc giả cũn quan tõm đến sự thay đổi kớch thước cung răng. Kết quả nghiờn cứu được trỡnh bày với số trung bỡnh, độ lệch chuẩn. Tỏc giả kết luận khớp cắn chịu ảnh hưởng của những thay đổi do tăng trưởng, cung răng sữa rộng ra để phự hợp với kớch thước lớn hơn của cỏc răng cửa vĩnh viễn.
Sillman (1935) [101], thực hiện nghiờn cứu dọc về sự thay đổi kớch thước cung răng từ lỳc mới sinh tới 25 tuổi trờn 1/3 trẻ em sinh ở bệnh viện Bellevue tại Newyork, 750 mẫu thạch cao được sử dụng trong nghiờn cứu này. Đến năm 1964 ụng cụng bố kết quả nghiờn cứu của mỡnh như sau:
- Chiều rộng cung răng hàm trờn và hàm dưới tăng nhanh lỳc mới sinh đến 2 tuổi (5mm/năm ở hàm trờn; 3,5mm/năm ở hàm dưới), tiếp tục tăng đến 13 tuổi ở hàm trờn và 12 tuổi ở hàm dưới. Sau đú khụng cú sự tăng đỏng kể nào từ 16 đến 25 tuổi.
- Chiều rộng vựng răng hàm lớn thứ nhất cú sự giảm kớch thước cả hai hàm từ 16 tuổi, nhưng chiều dài chỉ cú sự gia tăng và ổn định mà khụng giảm là do sự phỏt triển ra sau của cung hàm.
Cụng trỡnh của Van Der Linden (1979) [102], đõy là nghiờn cứu dọc hỗn hợp về cung răng trờn nhúm trẻ gồm 135 nam và 158 nữ tuổi từ 4 đến 14 tuổi sống tại thành phố Nijmegen, lấy dấu 6 thỏng/lần, nghiờn cứu sự thay đổi chiều rộng cung răng (tại vựng răng nanh, vựng răng RHLI), độ cắn phủ, độ cắn chỡa, khớp cắn vựng răng RHLI. Kết quả cho thấy cung răng nam lớn hơn nữ, sự thay đổi kớch thước cung răng cũng tương tự như kết luận của Moorrees [59].
Bishara (1998) [103], thực hiện NC trờn nhúm đối tượng của đại học Iowa để đỏnh giỏ những thay đổi của chiều dài cung răng đến 45 tuổi. Mẫu NC gồm gồm 15 nam và 15 nữ được lấy dấu lỳc 3 tuổi, 8 tuổi, 13 tuổi, 25 tuổi, 45 tuổi. Tỏc giả kết
luận mức độ tăng chiều dài hàm trờn và hàm dưới mạnh nhất vào những năm đầu tiờn, sau đú tiếp tục tăng cho đến khoảng 8 đến 13 tuổi, sau đú chiều dài giảm.
Ngoài nghiờn cứu về sự thay đổi chiều rộng, chiều dài thỡ sự thay đổi chu vi cung răng trong quỏ trỡnh tăng trưởng cũng được rất nhiều tỏc giả đặc biệt quan tõm tới chu vi cung răng. Vỡ chu vi cung răng là một thụng số rất quan trọng, đặc biệt ở giai đoạn bộ răng hỗn hợp để đỏnh giỏ vấn đề khoảng trống cho cỏc răng vĩnh viễn mọc. Moorrees [59],[60], khi nghiờn cứu trờn nhúm trẻ từ 5 đến 18 tuổi, tỏc giả nhận thấy chu vi cung răng tăng rất ớt ở hàm trờn (1,32mm ở nam; 0,5mm ở nữ) và giảm ở hàm dưới (3,39mm ở nam; 4,48mm ở nữ).
Sự thay đổi của khớp cắn từ giai đoạn bộ răng sữa đến khi RHL1 mọc và đến giai đoạn khớp cắn cuối cựng được mụ tả vào năm 1973 khi Arya và Savara [66] nghiờn cứu trờn 118 trẻ Bắc Âu từ 4,5 tuổi đến 14 tuổi. Nghiờn cứu chỉ ra rằng khớp cắn ban đầu của cỏc răng vĩnh viễn mọc lờn cú tương quan với quan hệ mặt phẳng tận cựng của cỏc răng hàm sữa. Trong khi 70% trường hợp răng vĩnh viễn mọc lờn đầu đối đầu sẽ chuyển thành khớp cắn loại I và 30% cũn lại chuyển thành khớp cắn loại II. Tỏc giả cũng đưa ra phương phỏp dự đoỏn tương quan RHL1 ở khắp cắn cuối cựng từ khớp cắn loại đầu đối đầu đỳng với tỷ lệ 81% ở bộ răng vĩnh viễn và 87% ở bộ răng hỗn hợp.
Logovic (1999) [104], nghiờn cứu độ ổn định của khớp cắn bỡnh thường khi chuyển từ bộ răng sữa sang bộ răng vĩnh viễn trờn 128 trẻ từ giai đoạn 4,5 đến 5,5 tuổi cho tới giai đoạn 12,5 đến 13,5 tuổi và thấy cú 73,5% nam và 71,1% nữ cú bất thường khớp cắn dưới nhiều hỡnh thức khỏc nhau khi răng vĩnh viễn mọc lờn.
Năm 2009, Borzabadi-Farahani và Eslamipou [105] đó nghiờn cứu phõn bố quan hệ khớp cắn trờn 502 trẻ Iran từ 11 đến 14 tuổi, Martins và Lima [106] nghiờn cứu trờn 204 trẻ Brazin từ 10 đến 12 tuổi đó đưa ra cỏc tỷ lệ phõn bố khớp cắn và so sỏnh tỷ lệ này với cỏc nghiờn cứu ở cỏc nhúm chủng tộc khỏc nhau.
Ngày nay, cỏc nhà nghiờn cứu cũng đó sử dụng nhiều phương phỏp nghiờn cứu khỏc nhau như ảnh khụng gian ba chiều và sử dụng phần mền vi tớnh để đo đạc như
NC của Jin-Soo Ahn (2012) [107], Adam H. Dowling (2013) [108]. Tuy nhiờn, phương phỏp này đũi hỏi trỡnh độ người thực hiện và trang thiết bị hiện đại.
Như vậy, cung răng được nghiờn cứu với nhiều kớch thước trờn một mẫu hàm với nhiều lứa tuổi khỏc nhau, cỡ mẫu ngày càng lớn hơn, trờn nhiều nhúm chủng tộc khỏc nhau để tỡm ra những quy luật thay đổi kớch thước, khớp cắn cung răng trong quỏ trỡnh phỏt triển.
1.5.2. Cỏc nghiờn cứu sự phỏt triển đầu mặt và cung răng ở Việt Nam. 1.5.2.1. Cỏc nghiờn cứu sự phỏt triển đầu mặt ở Việt Nam.